CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN VÀ PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN 1. Lý luận về bảo vệ quyền lợi của lao động chưa thành niên 1. Khái niệm bảo vệ quyền lợi của lao động chưa thành niên 1. Người chưa thành niên Theo kết quả trong khoa học nghiên cứu về lịch sử phát triển loài người, theo từng giai đoạn khác nhau mà thuật ngữ lý giải “ Người chưa thành niên” được định nghĩa khác nhau.
Quá trình phát triển của một cá thể đã được hình thành từ khi chưa được sinh ra cho đến khi chết đi, bao gồm các giai đoạn: “Trước sinh - Trẻ Nhũ Nhi - Trẻ Ấu Nhi - Trẻ Thiếu Nhi - Tuổi Vị Thành Niên - Tuổi Thanh Niên - Tuổi Trung Niên - Tuổi Già”[29]. Qua những giai đoạn này, sự phát triển về thể chất – tâm sinh lý của con người sẽ có những thay đổi phù hợp. Dưới góc độ sinh học, giai đoạn tuổi vị thành niên là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển toàn diện của một con người. Theo đó, những cá thể thuộc độ tuổi trên giai đoạn này được xác định là đã có sự phát triển đầy đủ, toàn diện về thể trạng sức khỏe và tinh thần.
Thêm vào đó năng lực nhận thức, hành vi của cá thể đó đã được xây dựng hoàn thiện phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội cũng như môi trường sống. Ngược lại, đối với những cá thể thuộc độ tuổi dưới hoặc bằng giai đoạn tuổi vị thành niên sẽ được coi là một cá thể chưa có sự phát triển hoàn chỉnh về cả thể chất lẫn nhận thức. Nhóm đối tượng này thông thường là người đang đi học, tâm sinh lý chưa hoàn thiện và tương đối non nớt. Về mặt pháp lý, quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý là những giới hạn để xác định người CTN.
Mỗi quốc gia trên thế giới đều có những quy định và quan điểm khác nhau về vấn đề này. Cụ thể như đối với các nước Úc, Brazil, Croatia, Colombia, New Zealand. cho rằng người CTN là những đứa trẻ dưới 18 tuổi, chưa có đủ năng lực nhật thức cũng như sự phát triển về thể 13 lực sức khỏe và hoàn toàn phụ thuộc vào bố mẹ. Trong khi đó theo quan niệm của một vài quốc gia, người CTN là người dưới 20 tuổi, tức đã có sự khác nhau về độ đuổi của mỗi quốc gia, và theo đó, những người muốn bước qua giai đoạn trưởng thành cần trải qua những nghi thức khác nhau để chứng minh rằng bản thân đã có sự phát triển hoàn chỉnh về tâm lý, tình cảm, thể chất cũng như năng lực nhận thức như là Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan,… Ở Việt Nam, bên cạnh những quan điểm tương đồng với các quốc gia khác như người chưa thành niên được xác định là nhóm đối tượng chưa có sự phát triển đầy đủ, hoàn thiện về mặt thể chất và tinh thần thì cũng có những sự khác biệt nổi bật khi xác định rằng nhóm người này chỉ được tham gia vào một số quan hệ xã hội nhất định do pháp luật quy định.
Điều này được thể hiện và ghi nhận ở nhiều văn bản hiện hành khác nhau như BLDS, Bộ luật Hình sự (BLHS), Luật trẻ em… Theo quy định tại điều 21 BLDS năm 2015 quy định về người CTN là những người chưa đủ 18 tuổi. Bên cạnh đó, chia làm 3 khung tuổi cụ thể để được tham gia vào xác lập giao dịch dân sự là từ 0 đến 6 tuổi, từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi và từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi. Trong đó chỉ có nhóm thứ hai và thứ ba là có năng lực hành vi dân sự và được xác lập một số giao dịch được pháp luật cho phép cụ thể như từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi thì có thể thực hiện những giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. Hay người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Mặt khác, theo quy định tại điều 90 BLHS năm 2015 quy định: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định…”. Từ đó có thể thấy rằng giữa các văn bản pháp luật khác nhau sẽ có những quy định khác nhau về xác định độ tuổi CTN. Tuy nhiên quy định này không có sự mâu thuẫn lẫn nhau. Những quy định này hoàn toàn phù hợp với những Công ước mà Việt Nam tham gia.
Điển hình như Công ước 1989 của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và Điều 11 quy tắc tối thiểu phổ biến của 14 Liên hợp quốc về bảo vệ người CTN bị tước quyền tự do năm 1990 quy định rằng: “Những người CTN là người dưới 18 tuổi”. Như vậy, có thể thấy rằng tùy thuộc vào từng khía cạnh nghiên cứu mà khái niệm về thuật ngữ: “người CTN” có những cách hiểu khác nhau. Tuy nhiên, tất cả đều lấy độ tuổi là giới hạn để phân biệt rõ với người trưởng thành. Cụ thể đối với nước ta, cá nhân được coi là “người CTN” là người dưới 18 tuổi.
Lao động chưa thành niên a, Khái niệm về lao động chưa thành niên Trong quá trình hội nhập quốc tế ngày nay, lực lượng lao động đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công cuộc xây dựng, phát triển vững mạnh nền kinh tế. Bên cạnh những người lao động trưởng thành tham gia vào quá trình xây dựng nền kinh tế đất nước thì hiện tượng những người CTN tham gia vào quá trình này là vô cùng phổ biến. Khái niệm về “Lao động CTN” được ghi nhận và quy định tại các văn bản khác nhau trên thế giới. Cụ thể như Công ước 182 (1999) về loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất quy định: “Trẻ em được xác định là người dưới 18 tuổi trừ khi pháp luật quốc gia đó công nhận tuổi thành niên sớm hơn”.
Thêm vào đó, trong trong Công ước 138 (1973) của ILO mà nước ta tham gia vào năm 2003 về tuổi lao động tối thiểu cũng khẳng định mỗi quốc gia thành viên cần phải xác định độ tuổi tối thiểu của người tham gia vào quan hệ lao động. Theo đó, người được phép đi làm không được dưới 15 tuổi hay dưới độ tuổi kết thúc chương trình giáo dục bắt buộc. Bên cạnh đó người mà dưới độ tuổi này thì sẽ không được tham gia vào bất cứ một công việc nào. Như vậy có thể thấy rằng quy định của pháp luật quốc tế xác định lao động CTN thông qua đặc điểm về độ tuổi tối thiểu.
Điều này đã tạo điều kiện cho các quốc gia thành viên trong việc xác định độ tuổi tối thiểu tại nước mình dựa vào yếu tố văn hóa, kinh tế - xã hội. Theo đó, hệ thống pháp luật ở nước ta cũng đã có những quy định cụ thể về khái niệm lao động CTN. Cụ thể căn cứ theo khoản 1 Điều 3 BLLĐ năm 15 2019 quy định độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, trừ quy định tại Mục 1 chương XI. Tiếp tục căn cứ vào khoản 1 Điều 143 Bộ luật trên: “Lao động CTN là lao động chưa đủ 18 tuổi”.
Thông qua quy định trên có thể xác định người lao động CTN là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi. Bên cạnh đó, NSDLĐ muốn tuyển lao động từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi cần chú ý đáp ứng yêu cầu đấy phải là những công việc nhẹ nhàng và có trong danh mục công việc quy định tại Thông tư 09/TT-BLDTBXH. Quy định này hoàn toàn thống nhất và phù hợp với quy định xác định về người CTN theo BLDS năm 2015 cũng như những Công pháp quốc tế mà nước ta tham gia quy định. Điều này tương đối hợp lý bởi lẽ theo góc độ sinh học người dưới 18 tuổi chưa có sự hoàn thiện đầy đủ về mặt thể chất sức khỏe và tâm sinh lý.
Có thể thấy rằng pháp luật nước ta xác định lao động CTN là người dưới 18 tuổi, đáp ứng về mặt điều kiện sử khỏe, tinh thần và tự bản thân họ có thể tham gia vào ký kết hợp đồng lao động. Ngoài ra, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “Lao động CTN” như theo Giáo trình Luật Lao động Việt Nam của trường đại học Luật Hà Nội đưa ra rằng: “lao động CTN là những lao động dưới 18 tuổi, bao gồm hai loại lao động là lao động dưới 15 tuổi và lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi” [11, tr416]. Hay theo tiến sĩ Nguyễn Hữu Chí: “mọi người lao động dưới 18 tuổi có khả năng lao động và giao kết hợp đồng lao động là lao động CTN”. Dù là quan điểm nào được đưa ra thì đều đúng và phù hợp với quy định pháp luật của Việt Nam.
Mỗi quan điểm sẽ có những ý kiến và nội hàm khác nhau dựa trên việc phân tích về tâm lý tình cảm, giai đoạn phát triển của độ tuổi của người CTN. Như vậy, dựa vào những quy định của pháp luật lao động cùng với tham khảo những quan điểm, ý kiến khác nhau, tác giả đã đúc rút và đưa ra khái niệm về lao động CTN như sau: “Lao động CTN là người dưới 18 tuổi làm việc cho NSDLĐ theo thỏa thuận, được trả lương, chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của NSDLĐ. 16 Việc đưa ra khái niệm này hoàn toàn phù hợp với pháp luật Việt Nam cũng như quốc tế. Độ tuổi là đặc điểm đầu tiên để nhận biết nhóm lao động này.
Bên cạnh đó phụ thuộc vào điều kiện về sức khỏe cũng như tâm sinh lý để xác định người đó có khả năng tham gia vào làm việc hay họ đã có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi để thực hiện ký kết hợp đồng hay chưa. b, Đặc điểm lao động chưa thành niên Thông qua đặc tính về thể chất cũng như tâm lý, tình cảm của người CTN, có thể thấy rằng người lao động CTN sẽ có những đặc điểm sau: Thứ nhất, lao động CTN là những người chưa phát triển đầy đủ về mặt thể lực, trí lực cũng như nhận thức. Có thể thấy rằng nhóm đối tượng này là những cá nhân chưa đủ 18 tuổi. Trong giai đoạn này, sự phát triển về tâm sinh lý còn chưa toàn diện và tương đối phức tạp.