CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ THUYET VA TONG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Cán cân thương mai “Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán quốc tế. Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức chênh lệch giữa chúng (xuất khẩu trừ đi nhập khâu). Khi mức chênh lệch là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại có thặng dư.
Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì cán cân thương mại có thâm hụt. Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng”. [Wikipedia] Cán cân thương mại có vai trò rất lớn trong nên kinh tế Vĩ mô, cho biết mức độ cân đối giữa XK và NK của quốc gia trong một thơi kỳ nhất định để từ đó đánh giá mức độ chênh lệch giữa nhu cầu tiêu dung và khả năng sản xuất hàng hóa, giữa tiết kiệm va đầu tư trong nền kinh tế quốc dân. Khi kim ngạch XK hàng hoá lớn hơn kim ngạch NK hàng hoá, cán cân thương mại được gọi là thặng dư, trong trường hợp ngược lại, cán cân sẽ bị thâm hụt.
Cán cân thương mại là cân bằng khi kim ngạch xuất khâu bang kim ngạch nhập khẩu. Thực tế rất khó dé giữ được mức thương mại ở trạng thái cân băng, nhưng khi thâm hụt thương mại chưa phải đã là dấu hiệu tôi cho nền kinh tế với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam Xét về xuất khẩu (XK), XK chịu ảnh hưởng của các yếu tô thé giới như thu nhập và sản lượng của nước khác. Khi nền kinh tế thế giới lâm vào suy thoái, kim ngạch XK có xu hướng giảm do nhu cầu tiêu dung của thế giới giảm, khó kí được các hợp đồng và giá cả thé giới nhìn chung thấp hon, và ngược lại, kim ngạch thang dư khi nền kinh tế thế giới ở giai đoạn bùng nỗ. Nhập khẩu (NK) lại phụ thuộc vào nhu cầu trong nước.
NK có xu hướng tăng vào thời kỳ quốc gia có tăng trưởng kinh tế cao và giảm trong thời kỳ suy giảm kinh tế. Cả XK và NK hay cán cân thương mại đều chịu ảnh hưởng của giá tương đối của hàng hóa nội địa so với hàng ngoại (tỷ giá hối đoái thực tế). Khi đồng nội tệ trong nước lên giá thực tế cũng có nghĩa là hàng hóa nội địa đắt hơn tương đối so với hàng ngoại. Đồng nghĩa với XK giảm và NK có xu hướng tăng.
Đo lường cán cân thương mại Cán cân thương mại được thể hiện bởi chênh lệch giữa các khoản thu do xuất khâu và tổng các khoản chi vào nhập khẩu hàng hóa. NX=X-—M Trong đó: vx NX: là cán cân thương mại v X: giá trị xuất khâu M: giá trị nhập khẩu 1. Vai trò của cán cân thương mại đối với nền kinh tế Việc theo dõi và phân tích các diễn biến của cán cân thương mại có ý nghĩa trong thực tiễn bởi vì: > Thứ nhât, cán cân thương mại cung câp những thông tin liên quan đên cung câu hàng hóa, tiên tệ của quôc gia, hay là thê hiện sự thay đôi của tỉ giá hôi đoái của đông nội tệ so với đông ngoại té. > Thứ hai, cán cân thương mai phan ánh kha năng cạnh tranh trên thị trường quôc tê của một quôc gia, khi cán cân thương mại của một quôc gia thặng dự, đông nghĩa với việc hàng hóa xuât khâu của quôc gia đó có sức cạnh tranh cao.
Ngược lại, sức cạnh tranh yêu khi cán cân thương mại thâm hụt. > Thứ ba, tình trạng của cán cân thương mại phản ánh tình trạng của cán cân vãng lai, do đó 6n định kinh tế Vĩ mô có thé ảnh hưởng. Đây là anh hưởng quan trọng nhất của cán cân thương mại đến nền kinh tế và dựa vào đó nhà nước có thé đưa ra các chính sách thông qua cán cân thương mai dé 6n định kinh tế Vĩ mô. > Thứ tư, cán cân thương mại đã thể hiển mức tiết kiệm, đầu tư và thu nhập thực tế: Trong Kinh tế học, theo cách tiếp cận chi tiêu thi tổng sản pham trong nước (GDP) gồm 4 yếu tố là đầu tư, chi tiêu chính phủ, tiêu dùng va cuối cùng là xuất khẩu ròng.
Vì vậy GDP = C + I + G + NX (trong đó: C: tiêu dùng; I: đầu tư; G: chi tiêu của Chính phủ; NX: xuất khẩu ròng (hay được gọi là cán cân thương mại). Dé thấy được rõ mối quan hệ giữa cán cân thương mại, đầu tư và tiết kiệm chúng ta biến đổi biéu thức thành: NX = (GDP — C — G) — I (1). Từ phương trình trên ta có thé viết thành: NX = Sn-1 (2). Phuong trình này đã cho thay mối quan hệ giữa dau tư, tiết kiệm va cán cân thương mại hay là chênh lệch giữa đầu tư và tiết kiệm (Sn — I) và chênh lệch giữa hàng hóa XK và NK (NX).
Nếu mức tiết kiệm thấp hơn nhu cầu đầu tư, cán cân thương mại thâm hụt. Ngược lại, quốc gia có chênh lệch giữa tiết kiệm đầu tư dương, tức là cán cân thương mại thặng dư. Do cán cân thương mại có tác động to lớn đên nên kinh tê việc nghiên cứu, dự báo các biên động có thê xảy ra với cán cân thương mại luôn được nhà nước và các chuyên gia kinh tê quan tâm. Dé có thê kip thời đưa ra các giải pháp thiết thực cho hoạt động xuất nhập khâu của nước ta.
Tác động của các yếu tố đến cán cân thương mại Cán cân thương mại chịu tác động của các nhân tô sau đây: > Yếu tố tỷ giá: Khi mà tỷ giá tăng (điều kiện là các yếu tổ không đổi) như gia cua hàng hóa trong nước hoặc nước ngoài, khi đó giá hàng hóa XK tính bằng ngoại tệ giảm đi, kích thích tăng lượng hàng hóa XK > Yếu tố lạm phát: Nếu tỉ lệ lạm phát trong nước cao hơn nước ngoài (điều kiện là các yếu t6 không đổi), dẫn tới hàng hóa đó bị giảm cạnh tranh trên thị trường toàn cầu, vì vậy lượng hàng hóa XK giảm. > Yếu tố giá thé giới của hàng hóa XK: (điều kiện là các yếu tổ không đổi), nếu giá thế giới của hàng hóa XK mà tăng, điều đó sẽ làm cung nội tệ va cầu ngoại tệ của nước đó trên thị trường ngoại hối, đồng nghĩa là tăng giá trị XK tính bằng ngoại té va nỘi tệ. > Yếu tô thu nhập của người không cư trú: thu nhập thực tế của người không cu trú tăng (điều kiện là các yếu tố không đổi) sẽ làm tăng cầu nội tệ và cung ngoại tệ, nghĩa là tăng giá trị XK bằng nội tệ và ngoại tệ. > Yếu tố hạn ngạch ở nước ngoài và thuế quan: giá trị XK trong nước nước sẽ giảm nếu nước ngoài áp dụng một mức thuế quan cao (điều kiện là các yếu tô không đổi), áp dụng các hàng rao phi thuế quan hoặc là hạn ngạch nhập khẩu thấp.
> Tâm lý của người tiêu dùng có thích hàng nhập khâu hay không thích > Tình hình kinh tế xã hội trong nước Từ nội dung nêu trên chúng ta có thể kết luận rằng có rất nhiều các yêu tô tác động đên cán cân thương mại của một nước. Ngoài ra còn rât nhiêu các nhân tô khác tác đông mà chúng ta sẽ tìm hiểu chi tiết ở phan tiếp theo. Tỷ giá hối đoái “Ty giá hối đoái (còn được gọi là tỷ giá trao đổi ngoại tệ hoặc ty giá) là tỷ lệ trao đôi giữa hai đồng tiền của hai nước, là giá cả một đơn vi tiền tệ của một nước được tính băng tiền của nước khác hay nói khác đi, là số lượng đơn vị tiền tệ cần thiết để mua một đơn vị ngoại tệ”. [Wikipedia] Tỷ giá gồm hai loại: > “Tỷ giá hối đoái danh nghĩa: Là tỷ giá được sử dụng hàng ngày trong giao dịch trên thị trường ngoại hối, nó chính là giá của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác mà chưa dé cập đến tương quan sức mua hàng hóa và dich vụ giữa chúng.” [Dân Kinh Tế] > “Tỷ giá hối đoái thực: phản ánh giá cả tương đối giữa hàng hóa nước ngoài so với hàng hóa trong nước.
Sức cạnh tranh về giá của hàng nội địa sẽ tăng khi đồng nội tệ mat giá hoặc lạm phát trong nước thấp hon lạm phát nước ngoài.” [Giáo trình Kinh tế học tập II, NXB Trường ĐHKTQD.tr513] Các nhà kinh tế rất quan tâm đến những ảnh hưởng của sự thay đôi tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại. Câu hỏi trung tâm trong nhiều cuộc tranh luận chính sách là liệu phá giá một đồng tiền có giúp cải thiện cán cân thương mại của một quốc gia hay không? Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu ở các mục sau đây. Hiệu ứng cua pha gia lên can cân thương mại “Phá giá tiền tệ là giảm gia tri đồng nội té so với các ngoại tệ khác. Pha giá sẽ làm tăng tỷ giá danh nghĩa kéo theo tỷ giá thực tăng sẽ kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, cải thiện cán cân thương mai.” [Wikipedia] Khi ty giá tăng, hiệu ứng giá cả được biểu hiện như giá hàng hoa NK tính theo đồng nội tệ tăng, giá của hang hóa XK rẻ hơn khi tính bang ngoại tệ.
Nhưng khi tỷ giá giảm, hiệu ứng số lượng được biểu hiện: giá hàng hoa XK rẻ hơn đã làm tăng khối lượng hàng hóa XK và hạn chế khối lượng hàng hóa NK. Trong hai hiệu ứng này, hiệu ứng nào trội hơn thì cán cân thương mại sẽ bị tác động theo nó. Tỷ giá tăng trong ngắn hạn khi giá cả trong nước và tiền lương tương đối cứng nhắc sẽ làm giá cả của hàng hóa XK rẻ hơn, và hàng hóa NK trở nên dat hon: dé đáp ứng nhu cau trong nước và xuất khẩu tăng lên, các doanh nghiệp trong nước và các hợp đồng XK được kí kết với tỷ giá cũ lúc trước sẵn sàng sản xuất nhiều hơn. Mặt khác do tâm lý người tiêu dùng nên cầu hàng NK có thé không giảm một cách nhanh chóng.
Giá hang NK tăng lên sau khi phá giá, nhưng có thé người tiêu dung sinh ngoại nên lo lắng về chất lượng và mẫu mã của hàng nội dia không thé thay thế xứng đáng hang NK dẫn đến cầu hàng NK vẫn chưa thê giảm ngay. Trong ngắn hạn, số lượng hàng hóa NK không giảm đi nhanh chóng và số lượng hàng hóa XK cũng không tăng lên nhanh chóng. Vì thế cán cân thương mại sẽ có thê xâu đi vì hiệu ứng giá cả trội hơn hiệu ứng sô lượng.