Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam mang tên “Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh từ năm 1997 đến năm 2015”, do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Hương thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Hà Nội, năm 2018), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Danh Tiên và PGS.TS. Phạm Hồng Chương.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của công tác vận động quần chúng và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các đoàn thể chính trị - xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập quốc tế. Sau khi tái lập tỉnh vào tháng 1 năm 1997 (sau 29 năm hợp nhất với tỉnh Hải Dương thành tỉnh Hải Hưng), Đảng bộ tỉnh Hưng Yên phải đối mặt với nhiều khó khăn: điểm xuất phát kinh tế thuần nông, hạ tầng yếu kém, tổ chức bộ máy và cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) các cấp còn nhiều bất cập, tỷ lệ tập hợp hội viên chưa cao. Bên cạnh đó, các phong trào phụ nữ thời kỳ đổi mới đòi hỏi phải có sự đổi mới về phương thức lãnh đạo nhằm phát huy tiềm năng to lớn của phụ nữ địa phương. Khoảng trống nghiên cứu thực tế là chưa có công trình khoa học nào tổng kết toàn diện, có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo hoạt động của Hội LHPN tỉnh xuyên suốt từ khi tái lập tỉnh (1997) đến hết nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII (2015).
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo hoạt động của Hội LHPN tỉnh từ năm 1997 đến năm 2015; trên cơ sở đó đúc kết một số kinh nghiệm thực tiễn nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội LHPN tỉnh trong giai đoạn tiếp theo.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm bốn nhiệm vụ:
- Làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đối với hoạt động của Hội LHPN tỉnh.
- Trình bày có hệ thống các quan điểm của Đảng và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên về công tác phụ nữ và hoạt động của Hội LHPN tỉnh.
- Phân tích, làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên chỉ đạo hoạt động của Hội LHPN tỉnh từ năm 1997 đến năm 2015.
- Đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan về ưu điểm, hạn chế và bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm qua thực tiễn quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo hoạt động của Hội LHPN tỉnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.
Đối tượng nghiên cứu là chủ trương và quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo hoạt động của Hội LHPN tỉnh từ năm 1997 đến năm 2015.
Phạm vi nghiên cứu được xác định trên ba phương diện:
- Về nội dung: Nghiên cứu quan điểm của Đảng và chủ trương của Đảng bộ tỉnh; quá trình chỉ đạo trên các mặt: nâng cao nhận thức của cấp ủy, chính quyền đối với Hội; xây dựng và phát triển tổ chức Hội (bộ máy, cán bộ, hội viên); tham gia phát triển kinh tế - xã hội; công tác tuyên truyền, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết; đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước.
- Về thời gian: Tập trung nghiên cứu từ năm 1997 (năm tái lập tỉnh) đến năm 2015 (năm kết thúc nhiệm kỳ Đại hội XVII của Đảng bộ tỉnh); có mở rộng khảo sát giai đoạn trước năm 1997 và sau năm 2015 để bảo đảm tính liên tục lịch sử.
- Về không gian: Giới hạn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, bao gồm thành phố Hưng Yên và 9 huyện: Văn Lâm, Mỹ Hào, Yên Mỹ, Khoái Châu, Văn Giang, Phù Cừ, Tiên Lữ, Ân Thi, Kim Động.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu tại Chương 1 của luận án phân loại các tài liệu, công trình khoa học đã công bố thành ba nhóm chính:
Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu chung về phụ nữ và vai trò của phụ nữ. Nhóm này gồm các công trình khẳng định vị trí của phụ nữ trong quản lý nhà nước, phát triển kinh tế và bình đẳng giới như: Nguyễn Thị Thanh Hòa với “Tiếp tục tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong đời sống chính trị của đất nước” (2006), “Hoạt động và đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2010), “Nâng cao vị thế của phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2010), “Phụ nữ Việt Nam đoàn kết, sáng tạo, bình đẳng và phát triển, xây dựng tổ chức Hội vững mạnh” (2012); Nguyễn Thị Bình với “Phát huy hơn nữa vai trò của phụ nữ trong tham gia quản lý Nhà nước” (1995); Trương Mỹ Hoa với “Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh tế - xã hội, tham gia quản lý Nhà nước và định hướng phát triển đến năm 2000” (1996); Nguyễn Thị Mão với “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng Phụ nữ và xây dựng đội ngũ cán bộ nữ” (1998); Lê Chân Phương với “Những chặng đường đã qua” (1993); các ấn phẩm của Hội LHPN Việt Nam như “Hai mươi năm một chặng đường phát triển của phụ nữ Việt Nam 1975 - 1995” (1995), “Phụ nữ Việt Nam bước vào thế kỷ XXI” (2002), “Tham gia xây dựng chính sách, pháp luật về bình đẳng giới” (2008), “Phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước” (2007); Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng với “Phụ nữ, giới và phát triển” (1996); Dương Thị Xuân với “Sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước” (2007); Lê Lục với “Công tác tuyên truyền của Đảng nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế tri thức” (2006); Lê Thi với “Gia đình, phụ nữ Việt Nam với dân số, văn hóa và sự phát triển bền vững” (2006); Dương Thị Minh với “Gia đình Việt Nam và vai trò của phụ nữ trong giai đoạn hiện nay” (2006); Ban Tổ chức Trung ương với đề tài “Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị” (2007); Phan Thanh Khôi và Đỗ Thị Thạch với “Những vấn đề giới từ lịch sử đến hiện đại” (2009); Nguyễn Hữu Minh và Trần Thị Vân Anh với “Nghiên cứu gia đình, thế giới thời kỳ đổi mới” (2009); Phạm Hạnh Sâm với “Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay” (2011); Hoàng Thị Ái Nhiên với “Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế” (2011); Nguyễn Thị Thu Hồng với “Năm năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (2012).
Nhóm thứ hai: Các công trình nghiên cứu về tổ chức Hội phụ nữ và phong trào phụ nữ Việt Nam. Nhóm này làm rõ nội dung, phương thức hoạt động của hệ thống chính trị và vai trò nòng cốt của Hội LHPN, tiêu biểu gồm: Dương Xuân Ngọc (1997), Nguyễn Khánh Ngọc và Phạm Ngọc Quang (2005), Đặng Đình Tân (2005), Ngô Huy Tiếp (2007) về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với đoàn thể; hai tập sách “Lịch sử Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam” (tập I: 1930-1976 xuất bản năm 2000, tập II: 1976-2012 xuất bản năm 2013) và “Biên niên lịch sử Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam” (2014); các bài viết của Nguyễn Thị Thanh Hòa về công tác vận động phụ nữ (2012), triển khai Nghị quyết Đại hội XI (2011), nhiệm vụ trọng tâm của Hội (2010); Trương Thị Khuê (2001); Trịnh Xuân Giới (2005); các đề tài, ấn phẩm của Hội LHPN Việt Nam về quy định pháp luật (2002), cơ cấu tiêu chuẩn cán bộ chủ chốt (2004), mô hình tổ chức trong hệ thống chính trị (2004), mối quan hệ Đảng - Nhà nước - Hội (2004), thực trạng lao động nữ khu vực công nghiệp (2005), mô hình thu hút hội viên (2008), Điều lệ Hội (2012); Nguyễn Thị Kim Thúy (2009); Hoàng Thị Ái Nhiên (2010); Hoàng Bá Thịnh (2011). Đáng chú ý có luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Nhật Thu (2012) về “Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh đổi mới nội dung, phương thức hoạt động từ năm 1997 đến năm 2012”.
Nhóm thứ ba: Các công trình nghiên cứu về Hưng Yên và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh. Nhóm này tập trung vào đặc điểm lịch sử, văn hóa, kinh tế - xã hội và phong trào phụ nữ địa phương, gồm: “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hưng Yên” (tập I: 1929-1954 xuất bản năm 1999, tập II: 1954-1975 xuất bản năm 2001, tập III: 1975-2000 xuất bản năm 2004); Nguyễn Phúc Lai với “Hưng Yên vùng phù sa văn hóa” (2006); Bảo tàng Hưng Yên với “Di tích lịch sử - văn hóa Hưng Yên” (2005); Nguyễn Khắc Hào và Nguyễn Đình Nhã với “Phố Hiến” (2006); Cục Thống kê tỉnh Hưng Yên với các ấn phẩm số liệu sau 14 năm tái lập (2011) và 15 năm tái lập (2012); Kỷ yếu hội thảo “Đồng chí Nguyễn Văn Linh với Cách mạng Việt Nam và quê hương Hưng Yên” (2015); Hội LHPN tỉnh Hưng Yên với cuốn “Lịch sử phong trào phụ nữ tỉnh Hưng Yên (1930 - 2000)” (2003) và tập sách “Hoa xứ nhãn” (2010); Kinh Lịch với “Nữ du kích Hoàng Ngân” (1998); Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Hưng Yên với “Chuyện kể về phong trào nữ du kích Hoàng Ngân” (2005).
Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả khẳng định các công trình thuộc ba nhóm trên chủ yếu tiếp cận vấn đề ở phạm vi vĩ mô toàn quốc, nghiên cứu lý luận chung hoặc dừng lại ở các giai đoạn lịch sử trước năm 2000. Chưa có công trình khoa học chuyên khảo nào nghiên cứu có hệ thống, phản ánh đầy đủ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đối với hoạt động của Hội LHPN tỉnh giai đoạn 1997-2015. Luận án được triển khai để giải quyết trực tiếp khoảng trống khoa học này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án được xây dựng trên nền tảng Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, quyền bình đẳng nam nữ và vai trò của phụ nữ trong tiến trình cách mạng; cùng các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác vận động quần chúng, công tác phụ nữ và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị - xã hội trong thời kỳ CNH, HĐH.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng là phương pháp lịch sử và phương pháp logic, kết hợp chặt chẽ với nhau:
- Phương pháp lịch sử được sử dụng chủ đạo tại Chương 2 và Chương 3 để xác định các mốc phân kỳ thời gian (1997-2005 và 2005-2015), tái hiện bối cảnh cụ thể và trình bày có hệ thống quá trình ban hành chủ trương cũng như diễn tiến chỉ đạo thực tiễn của Tỉnh ủy Hưng Yên đối với Hội LHPN tỉnh.
- Phương pháp logic được áp dụng xuyên suốt Chương 2, Chương 3 để xâu chuỗi sự kiện, phân tích quá trình hoàn thiện nhận thức lý luận và đường lối chỉ đạo; tại Chương 4, phương pháp logic đóng vai trò khái quát các ưu điểm, hạn chế và đúc kết thành các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn.
- Các phương pháp bổ trợ gồm có:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để phân tích các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng và Đảng bộ tỉnh, tổng hợp số liệu hoạt động của các cấp Hội.
- Phương pháp thống kê: Dùng để xử lý các bảng số liệu kinh tế - xã hội, biến động số lượng hội viên và kết quả thực hiện các phong trào thi đua.
- Phương pháp đối chiếu, so sánh: Làm rõ sự phát triển trong tư duy lãnh đạo và hiệu quả hoạt động giữa hai giai đoạn trước và sau tái lập tỉnh, cũng như giữa hai chặng đường 1997-2005 và 2005-2015.
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn nhân chứng lịch sử: Khảo sát thực tế cán bộ, nhân chứng nhằm đánh giá khách quan tác động của các chỉ đạo từ cấp ủy đối với phong trào phụ nữ tại cơ sở.
Nguồn tài liệu phục vụ nghiên cứu gồm: văn kiện của Đảng, Nhà nước, Chính phủ; các văn kiện của Trung ương Hội LHPN Việt Nam; hệ thống nghị quyết, chỉ thị, chương trình, kế hoạch công tác của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Hưng Yên; các báo cáo định kỳ, chuyên đề của Hội LHPN tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2015; cùng các tài liệu thống kê và công trình khoa học chuyên ngành liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa và phân tích 3 nhóm công trình khoa học liên quan đến phụ nữ, phong trào phụ nữ và địa phương Hưng Yên. Luận án làm rõ kết quả đạt được của giới nghiên cứu, khẳng định việc phân tích sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội LHPN cấp tỉnh sau ngày tái lập là vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Tác giả xác định rõ các nhiệm vụ mà luận án tập trung thực hiện nhằm bổ khuyết khoảng trống tư liệu và lý luận về giai đoạn 1997-2015.
Chương 2: Quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh từ năm 1997 đến năm 2005
Nội dung chương tập trung vào hai vấn đề lớn: các yếu tố tác động và quá trình ban hành chủ trương, chỉ đạo thực hiện.
Về yếu tố tác động, luận án phân tích hệ thống chủ trương của Trung ương: Nghị quyết Đại hội VI (1986), Nghị quyết số 8B-NQ/TW (1990) của Ban Chấp hành Trung ương khóa VI về đổi mới công tác quần chúng, Chỉ thị số 62/CT-TW (1990) của Ban Bí thư, Nghị quyết số 04-NQ/TW (1993) của Bộ Chính trị về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới, Chỉ thị số 37-CT/TW (1994) của Ban Bí thư khóa VII về công tác cán bộ nữ, Nghị quyết Đại hội VIII (1996) và Đại hội IX (2001).
Về điều kiện tự nhiên, Hưng Yên có tổng diện tích tự nhiên 923,093 km2, mạng lưới sông ngòi gồm sông Hồng, sông Đuống, sông Luộc cùng hệ thống sông nội địa; có trữ lượng than nâu hơn 30 tỷ tấn. Về truyền thống văn hóa, địa phương có 214 vị đỗ đại khoa lưu danh tại Văn Miếu Xích Đằng (đứng thứ 4 cả nước về cử nghiệp), sở hữu 1.210 di tích lịch sử - văn hóa (172 di tích xếp hạng quốc gia, 32.574 cổ vật) và truyền thống yêu nước của phong trào "Nữ du kích Hoàng Ngân".
| Chỉ tiêu thống kê kinh tế - xã hội |
Năm 1997 |
Năm 2005 |
| Tăng trưởng GDP |
14,4% (kế hoạch trên 10%) |
Bình quân tăng 12,28%/năm |
| Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp |
52,0% |
30,5% |
| Cơ cấu kinh tế: Công nghiệp - Xây dựng |
20,0% |
38,0% |
| Cơ cấu kinh tế: Dịch vụ |
28,0% |
31,5% |
| Thu nhập bình quân đầu người |
205 USD |
550 USD |
| Dân số toàn tỉnh |
1.517 nghìn người |
(Đang trong quá trình CNH, HĐH) |
| Số lượng hội viên Hội LHPN tỉnh |
245.870 hội viên |
Tăng trưởng ổn định |
Về thực trạng trước năm 1997, khi còn thuộc tỉnh Hải Hưng, phong trào phụ nữ đạt được các kết quả cụ thể trong cuộc vận động “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình” (năm 1989 sản lượng lương thực đạt 98,5 vạn tấn, chăn nuôi tăng 15,7%) và cuộc vận động “Nuôi dạy con tốt, góp phần hạn chế trẻ em suy dinh dưỡng, trẻ em bỏ học” (giúp 2.374 trong số 21.990 trẻ suy dinh dưỡng phục hồi sức khỏe; hỗ trợ 2.419 trong số 8.081 học sinh cấp I bỏ học trở lại trường). Tuy nhiên, giai đoạn 1992-1996, tỷ lệ tập hợp hội viên mới đạt 65,08%, cán bộ Hội cơ sở thiếu kỹ năng, hoạt động còn hành chính hóa.
| Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Hưng Yên |
Tỷ lệ (%) |
| Đất nông nghiệp |
68,74% |
| Đất chuyên dùng |
16,67% |
| Đất ở |
7,91% |
| Đất chưa sử dụng và sông suối |
6,68% |
| Tổng diện tích tự nhiên |
923,093 km2 |
Về chủ trương và chỉ đạo (1997-2005), Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV (tháng 11-1997), lần thứ XV (năm 2000) và lần thứ XVI (năm 2005) đã ban hành nhiều chương trình hành động nhằm khắc phục tình trạng hành chính hóa, chỉ đạo Hội hướng mạnh về cơ sở. Sau khi Ban Vì sự tiến bộ của Phụ nữ tỉnh được kiện toàn năm 1998, Tỉnh ủy ban hành các kế hoạch triển khai Chỉ thị 42-CT/TW (1998) của Bộ Chính trị. Hội phụ nữ các cấp đã phát động phong trào “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, cần kiệm xây dựng đất nước”, “Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo”, giải ngân vốn vay và xây dựng các mô hình kinh tế gia đình hiệu quả.
Chương 3: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh từ năm 2005 đến năm 2015
Chương 3 làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong giai đoạn thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, lần thứ XI và Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27-4-2007 của Bộ Chính trị khóa X về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Chủ trương của Tỉnh ủy Hưng Yên giai đoạn này tập trung vào các Kế hoạch số 43-KH/TU và Kế hoạch số 51-KH/TU thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị. Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh thể hiện rõ nét trên các mặt:
- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền về công tác cán bộ nữ và vị trí của Hội LHPN.
- Củng cố tổ chức bộ máy, đẩy mạnh phát triển hội viên trong bối cảnh các khu công nghiệp, làng nghề phát triển nhanh; chú trọng tập hợp lao động nữ trẻ và nữ công nhân.
- Định hướng cho Hội tham gia chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, đào tạo nghề nông thôn và giải quyết việc làm.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết; từng bước phát huy vai trò phản biện xã hội và tham gia xây dựng chính quyền của các cấp Hội.
- Đẩy mạnh phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” gắn với cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và phong trào xây dựng nông thôn mới.
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm
Chương 4 tổng hợp các đánh giá khoa học và đúc kết bài học thực tiễn:
- Ưu điểm: Đảng bộ tỉnh đã quán triệt kịp thời các nghị quyết của Trung ương, đổi mới phương thức chỉ đạo đối với các đoàn thể chính trị - xã hội; bộ máy Hội được kiện toàn từ tỉnh đến cơ sở; phương thức tập hợp hội viên có nhiều chuyển biến; phong trào phụ nữ gắn liền với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương, góp phần nâng cao đời sống hội viên.
- Hạn chế và nguyên nhân: Công tác lãnh đạo ở một số cấp ủy cơ sở chưa thực sự sâu sát; tỷ lệ cán bộ nữ trong quy hoạch, cấp ủy và lãnh đạo chủ chốt ở một số nơi còn thấp; phương thức tập hợp lao động nữ trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước, khu công nghiệp còn lúng túng; hoạt động giám sát, phản biện xã hội hiệu quả chưa cao. Nguyên nhân chủ yếu do nhận thức về bình đẳng giới của một bộ phận cán bộ còn hạn chế và tác động từ mặt trái kinh tế thị trường.
- Bài học kinh nghiệm: Luận án đúc kết các bài học về: (1) Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy Đảng đối với công tác phụ nữ; (2) Chú trọng quy hoạch, đào tạo đội ngũ cán bộ Hội đáp ứng yêu cầu mới; (3) Thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội theo hướng thiết thực, sát cơ sở; (4) Kết hợp hài hòa việc chăm lo lợi ích thiết thực của hội viên với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương; (5) Tăng cường sự phối hợp đồng bộ giữa chính quyền, các sở, ban, ngành với Hội LHPN.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác định rõ sáu đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:
- Đã tổng quan các nội dung cơ bản của những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, khái quát các kết quả đã đạt được và chỉ rõ những vấn đề luận án tập trung giải quyết.
- Làm rõ các yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đối với hoạt động của Hội LHPN tỉnh từ năm 1997 đến năm 2015 trên các phương diện: quan điểm của Đảng, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng hoạt động Hội trước năm 1997.
- Phân tích có hệ thống các quan điểm, chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Hưng Yên về công tác vận động phụ nữ và hoạt động của Hội LHPN.
- Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên chỉ đạo Hội LHPN tỉnh từ năm 1997 đến năm 2015 qua hai giai đoạn: 1997-2005 và 2005-2015 trên các mặt xây dựng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, phát triển hội viên và triển khai các phong trào hành động cách mạng.
- Đưa ra nhận xét khách quan về ưu điểm, hạn chế, phân tích nguyên nhân và đúc kết một số kinh nghiệm thực tiễn từ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với hoạt động của Hội LHPN tỉnh.
- Cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử xác thực, có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu và giảng dạy lịch sử địa phương, lịch sử Đảng bộ tỉnh Hưng Yên.
Về giải pháp và kiến nghị, luận án đề xuất các cấp ủy Đảng cần tăng cường công tác quy hoạch cán bộ nữ, tiếp tục chỉ đạo đổi mới mô hình tổ chức Hội phù hợp với đặc điểm các khu công nghiệp, đồng thời tăng cường đối thoại, tháo gỡ khó khăn về vốn và việc làm cho phụ nữ nông thôn trong tiến trình đô thị hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do giới hạn về nguồn tài liệu và chuyên ngành Lịch sử Đảng, luận án chỉ tập trung làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đối với Hội LHPN cấp tỉnh, chưa đi sâu khảo sát chi tiết hoạt động phong trào phụ nữ tại từng thôn, xã hoặc các mô hình kinh tế đặc thù của phụ nữ ở từng cụm công nghiệp. Ngoài ra, khung thời gian nghiên cứu dừng lại ở năm 2015 (kết thúc nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII).
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát giai đoạn từ năm 2015 đến nay (nhiệm kỳ Đại hội XVIII, XIX của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên); đi sâu phân tích tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động nữ tại các khu công nghiệp tập trung trên địa bàn tỉnh; hoặc tiến hành nghiên cứu so sánh đối chiếu phương thức lãnh đạo của Đảng bộ Hưng Yên với các tỉnh lân cận trong khu vực đồng bằng sông Hồng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Chính trị học, Xã hội học và Giới trong phát triển.
- Giảng viên Trường Chính trị Chu Văn An tỉnh Hưng Yên, các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện và các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh khi biên soạn giáo trình, bài giảng lịch sử địa phương.
- Cấp ủy Đảng, cơ quan dân vận, Ban Vì sự tiến bộ của Phụ nữ các cấp tại Hưng Yên và các tỉnh lân cận tham khảo nhằm xây dựng chính sách, quy hoạch cán bộ nữ và nâng cao hiệu quả lãnh đạo các đoàn thể nhân dân.
Trong đó, phần đáng tham khảo nhất là Chương 2 và Chương 3 với hệ thống tư liệu lịch sử đầy đủ về các nghị quyết, chỉ thị của Tỉnh ủy Hưng Yên, cùng Chương 4 với hệ thống các bài học kinh nghiệm được rút ra trực tiếp từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án chia quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên thành những giai đoạn nào?
Luận án phân kỳ quá trình lãnh đạo thành hai giai đoạn chính gắn với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh:
- Giai đoạn 1997 - 2005: Thời kỳ sau tái lập tỉnh, tập trung củng cố tổ chức bộ máy, khắc phục tình trạng hành chính hóa, đưa phong trào phụ nữ hướng mạnh về cơ sở.
- Giai đoạn 2005 - 2015: Thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, triển khai Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị, tập trung đào tạo cán bộ nữ và giải quyết việc làm cho lao động nữ trong các khu công nghiệp.
2. Tình hình kinh tế - xã hội Hưng Yên năm đầu tái lập (1997) có đặc điểm gì nổi bật tác động đến công tác phụ nữ?
Năm 1997, Hưng Yên là tỉnh thuần nông, hạ tầng yếu kém; dân số đạt 1.517 nghìn người với hơn 50% trong độ tuổi lao động nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp. Tăng trưởng GDP năm 1997 đạt 14,4%; cơ cấu kinh tế gồm: nông nghiệp 52%, công nghiệp 20%, dịch vụ 28%; thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 205 USD. Số hội viên phụ nữ năm 1997 là 245.870 người. Đa số phụ nữ là nông dân, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, thiếu việc làm, dẫn đến tâm lý tập trung mưu sinh và chưa mặn mà với công tác Hội.
3. Trước khi tái lập tỉnh (trước năm 1997), phong trào phụ nữ tại địa bàn Hưng Yên đã đạt được những thành tựu gì?
Trước năm 1997, phong trào phụ nữ tại Hưng Yên (thuộc tỉnh Hải Hưng) triển khai hiệu quả hai cuộc vận động lớn: “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình” (năm 1989 góp phần nâng sản lượng lương thực lên 98,5 vạn tấn, đàn chăn nuôi tăng 15,7%) và “Nuôi dạy con tốt, góp phần hạn chế trẻ em suy dinh dưỡng, trẻ em bỏ học” (giúp 2.374 trẻ suy dinh dưỡng phục hồi và hỗ trợ 2.419 học sinh cấp I bỏ học quay lại trường).
4. Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể nào?
Luận án sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic là chủ yếu. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các phương pháp: phân tích và tổng hợp văn kiện, phương pháp thống kê số liệu hoạt động, phương pháp đối chiếu so sánh giữa các giai đoạn, và phương pháp điều tra, phỏng vấn các nhân chứng lịch sử.
5. Những bài học kinh nghiệm chính được đúc kết từ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên là gì?
Luận án đúc kết năm kinh nghiệm cốt lõi: nâng cao nhận thức của cấp ủy các cấp đối với công tác phụ nữ; coi trọng công tác quy hoạch, bồi dưỡng cán bộ nữ; đổi mới nội dung và phương thức hoạt động hướng về cơ sở; gắn kết chặt chẽ phong trào thi đua của Hội với nhiệm vụ kinh tế - xã hội của địa phương; và phát huy vai trò phối hợp đồng bộ giữa chính quyền, các sở, ban, ngành với Hội LHPN.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương đã tái hiện một cách hệ thống, khách quan và toàn diện quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo hoạt động của Hội LHPN tỉnh từ năm 1997 đến năm 2015. Thông qua nguồn tư liệu phong phú và phương pháp nghiên cứu lịch sử - logic chặt chẽ, công trình đã làm rõ những chuyển biến của phong trào phụ nữ trong mối quan hệ gắn bó với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh sau ngày tái lập. Các bài học kinh nghiệm được luận án đúc kết có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp trực tiếp vào công tác nghiên cứu lịch sử Đảng bộ địa phương và cung cấp cơ sở tham khảo cho việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các đoàn thể chính trị - xã hội trong thời kỳ CNH, HĐH.