CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG TỰ HỌC NGOÀI LỚP HỌC CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Tự học luôn là một vấn đề thu hút sự quan tâm, chú ý của các nhà giáo dục trong và ngoài nước, dưới nhiều góc độ khác nhau như: phát huy tính tính cực, tính tự lập, tự giác và tính sáng tạo của người học. Lịch sử nghiên cứu ngoài nước Từ trước công nguyên, các nhà giáo dục nổi tiếng như Khổng Tử (ở phương Đông) và Socrate (ở phương Tây) đã rất đề cao việc tự học. Khổng Tử (551-479 TCN) từng đòi hỏi học trò của mình phải tích cực suy nghĩ: “Không giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ được thì không bày vẽ cho.
Vật có 4 góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba khóc kia thì không dạy nữa”. Cách dạy học của ông là cung cấp điều cơ bản và gợi mở để học trò tự mình tìm ra phần lớn tri thức. [29] Trong khi đó, ở Hi Lạp, Socrate đã đưa ra quan niệm rất nổi tiếng: giáo dục phải giúp con người tự khẳng định chính mình. Vì thế, trong dạy học, ông đã đề xuất và thực hiện triệt để một phương pháp dạy học rất tiến bộ lúc bấy giờ, đó là hỏi-đáp.Người thầy sẽ đặt những câu hỏi gợi ý để dẫn dắt học trò đến với chân lý.
[29] Đến thế kỷ 17, nhà sư phạm vĩ đại J. Comenski (1592-1670) đã đưa ra rất nhiều tư tưởng giáo dục tiến bộ, tạo nên bước ngoặt lịch sử cho nền giáo dục thế giới, trong đó quan điểm về dạy học trực quan tức phải cho người học tiếp xúc trực tiếp với sự vật, hiện tượng đã tiếp cận rất gần với tư tưởng "lấy người học làm trung tâm" tức yêu cầu dạy học phải phát huy tính tích cực nhận thức của người học dưới sự hướng dẫn của giáo viên. [21] [29] 6 Tiếp nối Comenski, ở thế kỷ 18, 19, nhà giáo dục Pestalozzy (1746- 1827) đã được mệnh danh là người đặt nền móng cho việc tạo ra môi trường tự học cho mọi người. Ông chủ trương nhà trường phải áp dụng một hệ thống đặc biệt không chỉ truyền thụ cho học sinh những kiến thức đã được đời trước tích luỹ mà phải giúp các em trở thành những người tự do ý chí, có khả năng hoà nhập xã hội và là những cá nhân độc lập, tự chủ.
[21] Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, bằng những nghiên cứu khoa học, bài bản của mình, nhà giáo dục người Nga A. Krupskaya (1869- 1939) đã đưa ra nhiều cải cách giáo dục có ý nghĩa quan trọng với nền giáo dục Xô Viết, trong đó, bà kêu gọi mọi người không ngừng học tập qua việc tự giáo dục, luôn làm giàu cả kiến thức chung và kiến thức chuyên môn trong suốt cuộc đời. Trong nhiều bài báo, Krupskaya đã trình bày về nội dung, hình thức và các phương pháp hoặc sự hỗ trợ nhiều mặt dành cho người tự học. [21] [29] Cùng giai đoạn với Krupskaya, nhà giáo dục Nhật Bản Tsunesaburo Makiguchi (1871- 1944) cũng cổ vũ mạnh mẽ cho việc tự học thông qua nhấn mạnh việc giáo dục sự sáng tạo cho con người.
Ông khẳng định truyền đạt tri thức không phải và không bao giờ là mục đích của giáo dục. Giáo dục chính là quá trình hướng dẫn việc học tập cho người học và kết quả giáo dục phụ thuộc vào sự nỗ lực của người học. Chính vì thế, ông tập trung vào việc đào tạo những giáo viên có thể làm những người hướng dẫn có hiệu quả cho học sinh khi học tập chứ không phải là người truyền thụ những mảng tri thức chết.[19] Từ những nền tảng nghiên cứu này, các nhà giáo dục học thế kỷ 20 đã không ngừng nghiên cứu và bổ sung những lý thuyết mới mẻ, cụ thể hơn về vai trò của tự học và cách thức hình thành KN tự học cho người học. Những nghiên cứu về KN tự học của SV cũng lần lượt được công bố.
Hai nhà nghiên cứu A. Lubinsia đã trình bày đầy đủ lý luận về cách thức tổ chức hoạt động tự học cho SV qua tác phẩm “Tổ chức công việc tự học của SV đại học” [3]. Retske trong cuốn sách “Học tập hợp lý” cũng nhấn mạnh đến việc phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu của SV [23]. Rubaskin với tác phẩm "Tự học như thế nào" thì đi sâu vào việc hướng dẫn phương pháp đọc sách [25].
Đặc biệt nhà tâm lý học Mỹ Carl Roger đã cho ra đời cuốn "Phương pháp dạy và học hiệu quả" trong đó trình bày chi tiết, tỷ mỷ với dẫn chứng minh hoạ và thực nghiệm về các phương pháp dạy học để hình thành KN tự học cho SV như: cung cấp tài liệu, dùng bảng giao ước, chia nhóm dạy học, hướng dẫn cho người học cách nghiên cứu tài liệu, tự xem xét nguồn tài liệu, tự hoạch định mục tiêu, tự đánh giá việc học của mình.[24] Hàng loạt các nghiên cứu khác cũng đồng tình với quan điểm của Carl Roger. Sappington cùng các cộng sự của mình đã công bố kết quả nghiên cứu việc hình thành các KN tự học như đọc, ghi chép tóm tắt, ôn tập, đặt câu hỏi cho 19 SV tại một đại học ở Birmingham (Anh quốc). Kết quả, sau khoá học, các SV này đạt kết quả cao hơn hẳn so với các SV không được đào tạo KN tự học [40]. Purdie tiếp tục công bố kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên 51 SV sau khi được đào tạo về các KN tự giải quyết nhiệm vụ học tập, KN quản lý việc tự học, KN tự hình thành động cơ học tập và KN tự nhận diện bản thân.
Hiệu quả của khoá đào tạo rất rõ ràng với kết quả học tập của SV [41]. Cùng với xu thế phát triển hiện đại, các nhà giáo dục học ở các nước phát triển đã đi sâu nghiên cứu và tối ưu hóa việc học, hình thành và phát triển năng lực tự học để người học có thể học thường xuyên, học suốt đời.Trong quá trình học tập, người học không những chỉ lĩnh hội các kiến thức đã được khoa học khám phá mà còn tìm ra những tri thức mới. Vì vậy hoạt động nhận thức của người học được diễn ra trong điều kiện: có người dạy chỉ đạo, có tài liệu, các phương tiện kỹ thuật dạy học, khả năng tự học của cá nhân người học, trong đó khả năng tự học của người học là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình nhận thức. Lịch sử nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, tự học đã trải qua một giai đoạn phát triển nghiên cứu lâu dài cả về lý luận và thực tiễn.
Mặc dù đi sau so với giáo dục thế giới, nhưng những thành quả nghiên cứu về hoạt động tự học nói chung và tự học dành cho SV cũng rất phong phú. 8 Từ những năm 1960, nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê đã xuất bản cuốn sách "Tự học để thành công" (sau đổi tựa thành “Tự học, một nhu cầu của thời đại”) bàn luận sâu sắc, thấu đáo về ý nghĩa của việc tự học và làm thế nào để tự học tốt, đồng thời khẳng định không tự học thì con người không thể thành công. [16] Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn là một trong những nhà nghiên cứu về tự học tích cực nhất. Hàng loạt cuốn sách, công trình nghiên cứu của ông đã ra đời để thuyết phục giáo viên ở các cấp học, bậc học thay đổi cách dạy của mình nhằm phát triển khả năng tự học cho học sinh ở mức độ tối đa.
Ông phân tích sâu sắc bản chất tự học, xây dựng khái niệm tự học chuẩn xác, đưa ra mô hình dạy- tự học tiến bộ với những hướng dẫn chi tiết cho giáo viên thực hiện mô hình nay. [32] [33] [34] Đi sâu hơn vào bản chất của vấn đề tự học trên cơ sở tâm lý học và giáo dục học, đã có các nghiên cứu của tác giả Thái Duy Tuyên với “Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh”, tác giả Nguyễn Kỳ với việc nghiên cứu “Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học”, tác giả Đặng Vũ Hoạt với nghiên cứu “Một số nét về thực trạng, phương pháp dạy học đại học”. [9] [13] [37] Các tác giả Việt Nam cũng khẳng định, giáo dục phổ thông cũng cần phải rèn luyện khả năng tự học cho học sinh, tạo điều kiện cho việc học tập mang tính nghiên cứu và đòi hỏi tự học cao ở đại học. Trong chương “Một số hình thức tổ chức dạy học ở đại học”, tác giả Đinh Bá Lãm đã đề xuất một số biện pháp sư phạm để GV nâng cao chất lượng tự học cho SV là: hướng dẫn phương pháp tự học, hình thành thói quen đọc sách, có kế hoạch kiểm tra việc tự học của SV [14].
Tác giả Trịnh Quang Từ sau đề tài nghiên cứu sinh về tự học cũng xuất bản sách về phương pháp tự học, trong đó trình bày cụ thể các KN tự học cơ bản như: KN xây dựng kế hoạch tự học, nghe và ghi chép bài giảng, đọc tài liệu và ghi, đọc sách, thi cử và kiểm tra. [35] [36] Tập trung vào vấn đề tự học của SV sư phạm, một số nghiên cứu của các tác giả cũng rất có giá trị về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Đi đầu là tác giả Hà Thị Đức với nghiên cứu “Về hoạt động tự học của SV sư phạm” đã khái quát nên bức tranh về thực trạng tự học của SV sư phạm [2]. Tác giả Trần Minh Hằng thì thì tìm hiểu các KN tự học chủ yếu của SV Cao đẳng sư phạm theo ba nhóm: KN định hướng vấn 9 đề (xác định vấn đề, lập kế hoạch.), KN thực hiện kế hoạch (xác định tư liệu, đọc, thực hành, luyện tập.), KN kiểm tra, đánh giá [5].
Tác giả Trần Thị Minh Hằng với đề tài "Tự học và yếu tố tâm lý cơ bản trong tự học của SV sư phạm" thì đã dày công tập hợp cơ sở lý luận về tự học, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành KN tự học của SV sư phạm và mô tả cụ thể cách tiến hành các KN tự học cơ bản như: xây dựng kế hoạch tự học, đọc sách kèm theo ghi chép, tự kiểm tra- đánh giá [6]. Khi giáo dục đại học Việt Nam chuyển mình, việc triển khai hình thức đào tạo tín chỉ thay cho niên chế đã mở ra một loạt các nghiên cứu nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động học tập của SV đáp ứng sự thay đổi đó.