Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp ngành Triết học với đề tài "Vai trò của tư duy trong việc giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên" do sinh viên Vũ Thanh Hằng thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Anh Tuấn tại Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (khóa QH-2015-X, bảo vệ năm 2019). Nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh kinh tế - xã hội thế kỷ XXI và cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, khi xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đòi hỏi giáo dục đại học phải chuyển dịch từ mô hình truyền thống sang đào tạo phát triển toàn diện con người.
Tác giả chỉ ra rằng, giáo dục đại học truyền thống vốn quá chú trọng vào đào tạo kiến thức chuyên môn (kỹ năng cứng) mà xem nhẹ hoặc bỏ qua hệ thống kỹ năng mềm. Thực tiễn thị trường lao động cho thấy nhiều sinh viên tốt nghiệp loại giỏi hoặc xuất sắc vẫn gặp khó khăn trong công việc và cuộc sống do thiếu khả năng thích ứng, giao tiếp và giải quyết vấn đề. Kiến thức chuyên môn chỉ đóng vai trò là "điều kiện cần", trong khi kỹ năng mềm giữ vai trò là "điều kiện đủ" để người lao động đáp ứng áp lực và sự thay đổi liên tục của môi trường nghề nghiệp. Trong mối quan hệ đó, tư duy là nền tảng, công cụ cốt lõi giúp sinh viên vượt qua lối mòn nhận thức, tiếp thu tri thức mới và rèn luyện kỹ năng mềm một cách tự giác. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây thường tiếp cận độc lập giữa lý thuyết tư duy hoặc thực trạng kỹ năng mềm mà chưa đi sâu vào vai trò bản chất của tư duy đối với quá trình giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định nhằm phân tích, làm rõ những nội dung chủ yếu về tư duy, giáo dục kỹ năng mềm và vai trò của tư duy trong việc giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên; trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao vai trò của tư duy trong công tác này.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản phân định thành hai nội dung chính:
- Phân tích và làm rõ những nội dung lý luận cơ bản liên quan đến vấn đề tư duy và giáo dục kỹ năng mềm.
- Trình bày thực trạng vận dụng tư duy trong giáo dục kỹ năng mềm và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của tư duy trong giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vai trò của tư duy logic trong việc giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên. Phạm vi nghiên cứu tập trung làm rõ các vấn đề lý luận về tư duy, giáo dục kỹ năng mềm và vai trò của tư duy con người đối với sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng trên nền tảng cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và triết học Mác - Lênin về tư duy và giáo dục. Tác giả kế thừa quan điểm từ các tác phẩm kinh điển như Luận cương về Phoiơbắc (C.Mác, 1845), Hệ tư tưởng Đức (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1845 - 1846), Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1848), Bộ Tư bản (C.Mác, 1867, 1884, 1894), Biện chứng của tự nhiên (Ph.Ăngghen, 1886), Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (V.I.Lênin, 1909) và Bút ký triết học (V.I.Lênin, 1915 - 1916). Luận điểm nền tảng được trích dẫn khẳng định tư duy là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ não người trên cơ sở hoạt động thực tiễn; ý niệm thực chất là vật chất được chuyển vào đầu óc con người và được cải biến trong đó.
Bên cạnh lý luận kinh điển, tác giả tổng hợp và đối chiếu các quan niệm về tư duy và kỹ năng mềm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước:
- E. V. Ilyenkov với công trình Lôgíc học biện chứng làm rõ nguồn gốc và bản chất duy vật biện chứng của tư duy.
- Edgar Morin với các công trình Phương pháp 3: Tri thức về tri thức và Phương pháp 4: Tư tưởng, cung cấp góc nhìn về tư duy phức hợp và sự khách thể hóa của tư tưởng.
- A. N. Leontiev với luận điểm tư duy là mắt xích trung tâm của hoạt động sáng tạo.
- V. A. Lektorsky, Từ điển Triết học và các tác giả trong nước (Phạm Thành Nghị, Nguyễn Ngọc Hà, Lê Hữu Nghĩa, Phạm Duy Hải, Hồ Bá Thâm, Tô Duy Hợp, Trần Đình Thỏa) trong việc xác định các đặc trưng tâm lý - nhận thức, thao tác và hình thức của tư duy.
- Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Bùi Loan Thủy, Lê Thị Thảo, Nguyễn Hồng Thanh trong các nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc (EQ), kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm và kỹ năng sống.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm phương pháp luận biện chứng duy vật kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp thống nhất lịch sử và logic, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp khái quát hóa và phương pháp hệ thống hóa. Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu bao gồm các văn kiện lý luận, tài liệu học thuật xuất bản, các báo cáo định hướng đào tạo và khảo sát thực tế công tác tổ chức đào tạo kỹ năng mềm tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về tư duy và giáo dục kỹ năng mềm
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các khái niệm, cấu trúc và yếu tố tác động đến tư duy và kỹ năng mềm dưới lăng kính triết học và khoa học giáo dục.
Về khái niệm tư duy, tác giả tổng hợp các cách tiếp cận và đưa ra định nghĩa: Tư duy là một quá trình tinh thần gồm những thao tác, cách thức liên kết, biến đổi dữ kiện tinh thần của não bộ nhằm hình thành ý tưởng, lời giải của vấn đề đặt ra. Quá trình này dựa trên cơ sở hoạt động thực tiễn, phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp và trừu tượng, khái quát hóa thông qua ngôn ngữ. Hoạt động tư duy cấu thành từ bốn yếu tố: chủ thể tư duy, đối tượng tư duy, sản phẩm tư duy (tri thức, tư tưởng) và điều kiện tư duy (môi trường tự nhiên, văn hóa - xã hội và thực tiễn). Ba hình thức cơ bản của tư duy gồm khái niệm, phán đoán và suy luận. Tác giả phân loại tư duy dựa trên hai tiêu chí:
- Dựa vào thao tác: Tư duy phân tích, tư duy tổng hợp, tư duy khái quát và tư duy trừu tượng.
- Dựa vào bộ nguyên tắc và phương pháp: Tư duy biện chứng, tư duy siêu hình, tư duy hệ thống và tư duy logic. Trong đó, tác giả nhấn mạnh ba loại hình tư duy đặc biệt cần thiết cho sinh viên gồm: tư duy phê phán, tư duy phản biện và tư duy sáng tạo.
Về khái niệm giáo dục kỹ năng mềm, kỹ năng mềm (soft skills) được hiểu là hệ thống các kỹ năng cơ bản được thực hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng hòa nhập xã hội, thái độ và hành vi ứng xử tương tác với cộng đồng nhằm phát huy tối đa hiệu quả làm việc. Văn bản phân định ranh giới giữa kỹ năng mềm và kỹ năng cứng: kỹ năng cứng mang tính quy chuẩn, liên quan đến bán cầu não trái và đo lường qua bằng cấp; kỹ năng mềm mang tính linh hoạt, gắn liền với bán cầu não phải và bộc lộ qua thái độ, hành vi, khả năng tương tác. Giáo dục kỹ năng mềm là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến người học nhằm chuyển đổi nhận thức, hình thành thói quen và năng lực hành vi thích ứng.
Chương này cũng phân tích các yếu tố hợp thành và điều kiện tác động đến giáo dục kỹ năng mềm:
- Đối tượng giáo dục là sinh viên; mục đích hướng tới việc nâng cao kiến thức, thái độ và kỹ năng thực hành.
- Chủ thể giáo dục bao gồm nhà trường (cán bộ, giảng viên, cố vấn học tập, Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên), doanh nghiệp, gia đình và bản thân sinh viên (vừa là đối tượng vừa là chủ thể tự giáo dục).
- Năm hình thức giáo dục kỹ năng mềm: lớp học chuyên đào tạo kỹ năng mềm; tích hợp vào quá trình dạy học chuyên môn; trải nghiệm lao động nghề nghiệp; hoạt động ngoại khóa, Đoàn - Hội; và quá trình tự rèn luyện của sinh viên.
- Các phương pháp giáo dục chủ đạo: lấy người học làm trung tâm, kỹ thuật tạo ý tưởng, dạy học theo dự án, học theo nhóm, nghiên cứu tình huống và giải quyết vấn đề.
- Các yếu tố tác động: hoàn cảnh kinh tế gia đình, quá trình học tập tại lớp, môi trường văn hóa - xã hội địa phương và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.
Chương 2: Vai trò của tư duy trong giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên – Thực trạng và giải pháp (Xét trường hợp Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội)
Chương 2 tập trung phân tích vai trò của tư duy đối với việc rèn luyện kỹ năng mềm, khảo sát thực tiễn tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo.
Về vai trò lý luận của tư duy, văn bản khẳng định tư duy giúp sinh viên thoát ly lối mòn định kiến, mở rộng tầm nhìn đa chiều, phát triển năng lực sáng tạo và thích ứng nhanh với môi trường làm việc. Tư duy phản biện giúp sinh viên biết sàng lọc thông tin tin cậy, trong khi tư duy phê phán thúc đẩy việc tự đánh giá, tự điều chỉnh nhận thức và hành vi.
Khảo sát bối cảnh đặc thù của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, tác giả nêu rõ:
- Trường định hướng phát triển thành đại học nghiên cứu, chuẩn hóa theo tiêu chuẩn Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á (AUN-QA).
- Đặc điểm sinh viên: Phần lớn là sinh viên nữ, đến từ nhiều vùng miền, xuất thân từ các gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn (thuộc nhóm trường có tỷ lệ sinh viên hưởng chính sách miễn, giảm học phí lớn).
Về thực trạng vận dụng tư duy trong giáo dục kỹ năng mềm tại trường, tác giả chỉ ra các thành tựu và hạn chế cụ thể:
- Thành tựu: Sinh viên bước đầu hình thành khả năng liên kết các thao tác tư duy, xử lý và phân loại thông tin trong học tập; hoạt động ngoại khóa, hội thi thuyết trình, câu lạc bộ do Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên tổ chức diễn ra phong phú; nhà trường đã bắt đầu kết nối với doanh nghiệp tổ chức các khóa tập huấn ngắn hạn.
- Hạn chế: Giáo dục kỹ năng mềm chưa được đưa vào chương trình đào tạo chính khóa tích lũy theo hệ thống tín chỉ. Nhà trường mới chỉ tổ chức các khóa học kỹ năng mềm cấp chứng chỉ như một điều kiện chuẩn đầu ra tốt nghiệp cho sinh viên năm cuối. Sinh viên đăng ký 3 kỹ năng (trong danh mục gồm: giao tiếp, phỏng vấn tìm việc, tư duy sáng tạo, thuyết trình, quản lý thời gian), học qua tài khoản trực tuyến kết hợp 1 buổi thi trên máy tính và 1 buổi học trên lớp. Việc kiểm tra chỉ đánh giá ở mức "Đạt" hoặc "Không đạt", không chấm điểm, không xếp loại học lực. Thời lượng đào tạo ngắn khiến sinh viên chỉ dừng ở mức tiếp thu lý thuyết, thiếu môi trường thực hành.
- Hạn chế từ phía người học: Nhận thức của sinh viên về tư duy logic còn nhiều khiếm khuyết; nhiều sinh viên còn ngụy biện, đánh tráo khái niệm, thụ động, ngại đọc tài liệu; chưa biết vận dụng các môn học nền tảng như Triết học, Logic học vào rèn luyện phương pháp luận chuyên môn.
Dựa trên thực trạng, tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp trọng tâm:
- Nâng cao nhận thức của các chủ thể giáo dục: Giảng viên cần tích cực lồng ghép phương pháp tư duy vào môn học chuyên môn, cải tổ cách dạy các môn như Kinh tế chính trị, Logic học theo hướng phát triển kỹ năng; Đoàn - Hội cụ thể hóa mục tiêu kỹ năng qua từng phong trào; nhà trường tổ chức hội thảo tuyển dụng có sự tham gia của doanh nghiệp và cựu sinh viên thành đạt; sinh viên phải chủ động xây dựng lộ trình tự học và rèn luyện.
- Xây dựng chương trình đào tạo kỹ năng mềm chính quy: Đề xuất đưa kỹ năng mềm thành học phần chính thức trong chương trình đào tạo với quy mô 30 tiết (tương đương 2 tín chỉ, gồm 1 tín chỉ lý thuyết 15 tiết và 1 tín chỉ thực hành 15 tiết). Khung chương trình thiết kế từ 5 đến 7 kỹ năng phù hợp với khối ngành khoa học xã hội và nhân văn, trong đó quy định bắt buộc 2 kỹ năng tiên quyết đối với toàn bộ sinh viên (bao gồm kỹ năng phản biện).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã làm rõ bản chất tương tác giữa tư duy và kỹ năng mềm, khẳng định tư duy không chỉ là hoạt động nhận thức lý tính thuần túy mà là nền tảng chỉ đạo hành vi và phương pháp thực hành kỹ năng mềm. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu đã phác họa bức tranh toàn diện về công tác đào tạo kỹ năng mềm tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội giai đoạn 2015 - 2019.
Điểm đóng góp nổi bật của tác giả là việc chỉ ra lỗ hổng trong quy trình đào tạo kỹ năng mềm mang tính hình thức, thời lượng ngắn, chưa tích hợp tín chỉ tại cơ sở nghiên cứu; đồng thời đưa ra đề xuất mang tính định lượng cụ thể về việc tái cấu trúc chương trình đào tạo kỹ năng mềm.
Bảng tổng hợp đối sánh giữa thực trạng đào tạo kỹ năng mềm tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội và mô hình giải pháp do tác giả đề xuất:
| Tiêu chí so sánh |
Thực trạng tại trường (thời điểm 2019) |
Mô hình giải pháp đề xuất |
| Vị trí trong chương trình |
Chưa đưa vào chương trình chính khóa; chỉ là khóa học điều kiện tốt nghiệp. |
Đưa vào chương trình chính khóa thuộc hệ thống đào tạo theo tín chỉ. |
| Thời lượng đào tạo |
1 buổi học trực tuyến + 1 buổi thực tế trên lớp + 1 buổi thi máy tính. |
30 tiết học tập trung (tương đương 2 tín chỉ đào tạo). |
| Cơ cấu phân bổ giờ học |
Nặng về lý thuyết trực tuyến, thời lượng thực hành tại lớp rất thấp. |
15 tiết lý thuyết (1 tín chỉ) kết hợp 15 tiết thực hành (1 tín chỉ). |
| Hình thức đánh giá |
Đánh giá hai mức Đạt / Không đạt để cấp chứng chỉ tốt nghiệp; không xếp loại. |
Kiểm tra, đánh giá có chấm điểm và tính điểm tích lũy theo quy chế tín chỉ. |
| Số lượng kỹ năng |
Sinh viên tự chọn 3 kỹ năng trong số các kỹ năng do trường cung cấp. |
Đào tạo từ 5 đến 7 kỹ năng, trong đó có 2 kỹ năng quy định bắt buộc (gồm kỹ năng phản biện). |
| Phương thức tiếp cận |
Đào tạo mang tính đại trà, tách rời khối kiến thức chuyên ngành. |
Tích hợp vào bài giảng chuyên môn (Logic học, Kinh tế chính trị) và phong trào Đoàn - Hội. |
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản khóa luận tự chỉ ra một số giới hạn nghiên cứu:
- Về phạm vi khảo sát: Đề tài mới chỉ tập trung phân tích trường hợp điển hình tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, chưa mở rộng so sánh đối chiếu với các trường đại học thuộc khối khoa học tự nhiên, kỹ thuật hay các cơ sở giáo dục đại học khác trên địa bàn Hà Nội.
- Về công cụ đo lường: Các nhận định về thực trạng tư duy và kỹ năng mềm của sinh viên chủ yếu dựa trên quan sát sư phạm, báo cáo hoạt động đào tạo và phản ánh thực tế từ các khóa học chứng chỉ, chưa xây dựng được bộ tiêu chí đo lường định lượng chi tiết về mức độ thuần thục từng thao tác tư duy logic của sinh viên.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở bao gồm: xây dựng hoàn chỉnh đề cương chi tiết cho học phần kỹ năng mềm 2 tín chỉ (30 tiết) áp dụng thử nghiệm cho các khoa chuyên ngành tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; mở rộng nghiên cứu thực nghiệm nhằm đo lường sự biến đổi năng lực tư duy phản biện và tư duy sáng tạo của sinh viên trước và sau khi tham gia các học phần kỹ năng mềm tích hợp.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Sinh viên ngành Triết học, Giáo dục học và Xã hội học: Cung cấp khung lý thuyết hệ thống về bản chất của tư duy theo quan điểm triết học Mác - Lênin, mối quan hệ giữa nhận thức lý tính và hành vi thực tiễn, cùng phương pháp phân loại tư duy (thao tác và nguyên tắc).
- Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo và cán bộ quản lý giáo dục đại học: Phần đánh giá thực trạng và mô hình giải pháp ở Chương 2 là tài liệu tham khảo có giá trị trong việc xây dựng chuẩn đầu ra, thiết kế chương trình đào tạo kỹ năng mềm 2 tín chỉ chính quy, khắc phục tình trạng đào tạo chứng chỉ ngắn hạn mang tính hình thức.
- Giảng viên các bộ môn Lý luận chính trị và Khoa học cơ bản: Gợi ý phương pháp lồng ghép rèn luyện tư duy logic, tư duy phản biện và kỹ năng mềm vào bài giảng các môn học chuyên môn như Logic học, Kinh tế chính trị.
- Tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên: Cung cấp cơ sở lý luận để định hướng các hoạt động phong trào, câu lạc bộ học thuật trở thành môi trường rèn luyện kỹ năng mềm gắn liền với tư duy độc lập của sinh viên.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận định nghĩa kỹ năng mềm là gì và phân biệt với kỹ năng cứng như thế nào?
Theo khóa luận, kỹ năng mềm là hệ thống các kỹ năng cơ bản được thực hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng hòa nhập xã hội, thái độ và hành vi ứng xử hay tương tác với cộng đồng nhằm phát huy tối đa hiệu quả công việc và thành đạt trong cuộc sống. Khóa luận phân biệt: Kỹ năng cứng liên quan đến chuyên môn, nghiệp vụ, gắn với bán cầu não trái, có tính quy chuẩn và đo đếm bằng văn bằng, chứng chỉ. Kỹ năng mềm mang tính mềm dẻo, linh hoạt, chịu ảnh hưởng lớn của bán cầu não phải, không thể hiện dưới dạng hữu hình mà bộc lộ qua thái độ, hành vi, khả năng ứng xử và tư duy xử lý tình huống thực tế.
2. Tác giả nhấn mạnh những loại hình tư duy nào cần thiết nhất cho sinh viên trong quá trình rèn luyện kỹ năng mềm?
Trong các cách phân loại tư duy (theo thao tác và theo nguyên tắc), tác giả khẳng định ba loại hình tư duy giữ vai trò nền tảng và bổ trợ lẫn nhau trong quá trình rèn luyện kỹ năng mềm của sinh viên là: tư duy phê phán, tư duy phản biện và tư duy sáng tạo. Những loại hình này giúp sinh viên thoát ly lối suy nghĩ rập khuôn, nâng cao khả năng đánh giá, sàng lọc thông tin và tìm ra giải pháp tối ưu cho các vấn đề nảy sinh trong học tập và công việc.
3. Thực trạng tổ chức đào tạo kỹ năng mềm tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội ở thời điểm nghiên cứu có đặc điểm gì?
Tại thời điểm nghiên cứu (năm 2019), nhà trường chưa đưa kỹ năng mềm thành môn học chính thức trong chương trình đào tạo tích lũy tín chỉ. Trường chỉ tổ chức các khóa đào tạo cấp chứng chỉ kỹ năng mềm như một điều kiện tốt nghiệp cho sinh viên (đa phần là sinh viên năm cuối). Mỗi sinh viên đăng ký 3 kỹ năng, học trực tuyến qua tài khoản cá nhân, tham gia 1 buổi thi trên máy tính và 1 buổi học trên lớp. Kết quả kiểm tra chỉ xếp loại "Đạt" hoặc "Không đạt", không chấm điểm số và không xếp loại học lực.
4. Khóa luận chỉ ra những hạn chế lớn nào trong việc vận dụng tư duy của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn?
Tác giả ghi nhận nhiều sinh viên nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của tư duy logic; khả năng lập luận, phán đoán và suy luận ra tri thức mới còn yếu; dễ mắc lỗi ngụy biện hoặc đánh tráo khái niệm. Nhiều sinh viên còn thụ động, lúng túng trong giao tiếp và giải quyết vấn đề, lười đọc tài liệu tham khảo và chưa biết cách vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của các môn học nền tảng như Triết học, Logic học vào thực tiễn chuyên môn.
5. Đề xuất cụ thể của tác giả về việc thiết kế chương trình đào tạo kỹ năng mềm chính khóa cho sinh viên gồm những thông số nào?
Tác giả đề xuất xây dựng học phần kỹ năng mềm chính quy trong hệ thống tín chỉ với thời lượng chuẩn là 30 tiết (tương đương 2 tín chỉ), trong đó phân bổ cân bằng gồm 15 tiết lý thuyết (1 tín chỉ) và 15 tiết thực hành (1 tín chỉ). Số lượng kỹ năng đưa vào giảng dạy từ 5 đến 7 kỹ năng phù hợp với ngành nghề đào tạo, trong đó bắt buộc nhà trường phải quy định 2 kỹ năng nền tảng cho toàn bộ sinh viên, tiên quyết là kỹ năng phản biện.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thanh Hằng đã giải quyết thấu đáo mối quan hệ biện chứng giữa tư duy và công tác giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên dưới góc độ triết học mác-xít. Bằng việc phân tích thực trạng đào tạo tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, công trình đã chỉ rõ những bất cập của mô hình cấp chứng chỉ kỹ năng mềm ngắn hạn và sự hạn chế trong tư duy logic của sinh viên. Đề xuất xây dựng học phần kỹ năng mềm chính quy 2 tín chỉ (30 tiết) kết hợp lồng ghép phương pháp tư duy vào giảng dạy chuyên môn là đóng góp thực tiễn có giá trị định hướng rõ ràng cho công tác đổi mới giáo dục đại học.