Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên đại học trong bối cảnh hiện nay. Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên Đại học Huế. Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên Đại học Huế trong bối cảnh hiện nay.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Ở các nước phương Tây, KNS đã sớm nhận được sự quan tâm của xã hội.
Tuy nhiên, thuật ngữ KNS chính thức xuất hiện vào thập niên 60 của thế kỉ XX khi được Winthrop sử dụng trong chương trình đào tạo nghề với tên gọi “The Adkins Life Skills Programme: Employability” (Chương trình KNS Adkins: Khả năng tìm việc). Sau này, nhất là từ những năm 90 của thế kỉ XX, thuật ngữ “Kĩ năng sống” thường xuyên xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của các tổ chức như WHO, UNICEF, UNESCO. Những nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về KNS đã nhận được sự quan tâm của nhiều tổ chức và các nhà khoa học. Nhìn chung có thể khái quát các nghiên cứu về vấn đề này thành các xu hướng sau.
Xu hướng thứ nhất là những nghiên cứu lý luận về KNS Trong hướng nghiên cứu này, các nhà khoa học tập trung làm rõ các vấn đề như: khái niệm KNS, vai trò của KNS, hệ thống các KNS cho con người, bản chất của quá trình hình thành KNS, nội dung, phương pháp giáo dục KNS… Chương trình hành động Dakar tại Diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người ở Senegan (2000) đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó nhấn mạnh: Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình GDKNS phù hợp và yêu cầu khi đánh giá chất lượng GD cần phải đánh giá KNS của người học [89]. UNESCO ủng hộ nguyên tắc quyền được học KNS, khi cho rằng tất cả các thế hệ có quyền hưởng lợi từ một nền giáo dục chứa đựng các hợp phần học để biết, học để làm, học để chung sống với mọi người và học để khẳng định mình [103]. Hiện nay, ở các nước, KNS là một nội dung quan trọng trong chương trình giáo dục từ bậc học mầm non cho đến đại học. 12 Trong những vấn đề lý luận về KNS, khái niệm và phân loại KNS là các vấn đề được nhiều tổ chức quan tâm, bàn luận nhiều nhất và đồng thời cũng có nhiều tranh luận trái chiều nhất.
Chẳng hạn, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) coi KNS là những kĩ năng mang tính tâm lý xã hội và kĩ năng giao tiếp được vận dụng để giải quyết nó một cách hiệu quả trong các tình huống thường nhật [88]. Trong khi đó, UNESCO cho rằng KNS có nội hàm rộng hơn, nó bao gồm những năng lực để thực hiện đầy đủ các chức năng, tham gia vào cuộc sống hàng ngày như kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, tính toán và những kĩ năng tâm lý – xã hội thuộc phạm vi hẹp hơn trong số những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống hàng ngày. Tại những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này, các học giả mong muốn thống nhất được một định nghĩa về KNS cũng như đưa ra một bảng danh mục các KNS cơ bản như là những tiêu chí mà thế hệ trẻ cần phải có. Phần lớn các công trình nghiên cứu về KNS ở thời điểm đó có sự chia sẻ tương đồng với định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, tức là coi KNS đồng nhất với các kĩ năng xã hội [75, tr.
Dự án do Tổ chức Văn hoá - Khoa học và Giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO) tiến hành tại một số nước trong đó có các quốc gia Đông Nam Á cũng là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về KNS nêu trên [6]. Về hệ thống các KNS: theo UNICEF, hệ thống KNS gồm 3 nhóm kỹ năng được nhìn nhận dưới góc độ tồn tại và phát triển cá nhân bao gồm: (1) Nhóm kỹ năng nhận thức và sống với chính mình (kỹ năng nhận thức và đánh giá bản thân, kỹ năng xây dựng mục tiêu cuộc sống, kỹ năng bảo vệ bản thân,…), (2) Nhóm kỹ năng tự nhận thức và sống với người khác (kỹ năng thiết lập quan hệ, kỹ năng hợp tác, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm,…), và (3) Nhóm kỹ năng ra quyết định và làm việc hiệu quả (kỹ năng phân tích vấn đề, kỹ năng nhận thức thực tế, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng ứng xử, kỹ năng giải quyết vấn đề,…) [10]. Theo quan niệm của UNESCO, hệ thống KNS bao gồm 2 nhóm kỹ năng: (1) Nhóm kỹ năng chung (kỹ năng nhận thức, kỹ năng đương 13 đầu với cảm xúc, kỹ năng xã hội hay kỹ năng tương tác) và (2) Nhóm kỹ năng trong từng vấn đề cụ thể (các vấn đề về giới, phòng chống bạo lực, gia đình và cộng đồng, bảo vệ thiên nhiên và môi trường) [10]. Dựa trên các nghiên cứu lý luận và thực tiễn trên, một xu hướng nghiên cứu mang tính thiết thực nhất được nhiều nhà khoa học quan tâm nhiều, đó là xây dựng và đánh giá hiệu quả các chương trình GDKNS.
Với mục đích đánh giá được năng lực KNS của người học, các nhà khoa học đã tập trung xây dựng các công cụ, theo đó nhiều bảng hỏi, thang đo đánh giá KNS đã ra đời. Chẳng hạn như, bảng hỏi KNS do Trường Đại học Pretoria ở Nam Phi xây dựng (Hội đồng nghiên cứu khoa học nhân văn xuấ t bản). Bảng hỏi bao gồm 150 câu hỏi nhằm đánh giá 06 nhóm lĩnh vực cơ bản: (1) phát triển xã hội và cộng đồng, (2) phát triển bản thân, (3) tự quản lý thời gian, (4) phát triển giới tính và thể chất, (5) xây dựng kế hoạch nghề nghiệp, (6) định hướng công việc và cuộc sống [105]. Sarmah (2003) đã phát triển thang đo đánh giá KNS cho trẻ vị thành niên ở trường THCS ở Kathmandu.
Thang đo này nhằm đánh giá các kỹ năng: tự nhận thức, đồng cảm, thiết lập quan hệ, giao tiếp, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, ứng phó với stress và ứng phó với cảm xúc [99, tr. Dựa trên những công cụ này, những nghiên cứu đánh giá thực trạng KNS trên các đối tượng khác nhau đã được tiến hành. Sarmah (2003) đã khảo sát 347 trẻ vị thành niên, kết quả cho thấy có 51% trẻ có KNS ở mức độ cao, 49% trẻ có KNS ở mức độ thấp và giáo dục của bố mẹ, đặc biệt là của người mẹ có mối quan hệ có ý nghĩa với sự gia tăng mức độ KNS của trẻ vị thành niên. Những trẻ hiểu biết càng nhiều về các yếu tố nguy cơ của các hành vi có vấn đề thì có mức độ KNS cao hơn [107, tr.
Kết quả cuộc tổng điều tra quốc gia của Tổ chức UNICEF ở Sri Lanka cũng cho thấy, 33% trẻ có hạn chế về KNS. Điều này sẽ khiến trẻ gặp nhiều khó khăn trong việc giải quyết những đòi hỏi của xã hội hiện đại [95]. Nhìn chung, các nghiên cứu về vấn đề này đều cho thấy rằng, KNS hiện nay của trẻ vị thành niên hay thanh niên đều có những hạn 14 chế. Vì vậy, việc giáo dục KNS cho học sinh là hết sức cần thiết.
Chương trình GDKNS cho các đối tượng có nguy cơ thường được chú trọng hơn các đối tượng khác. Chẳng hạn, “Chương trình giảng dạy KNS cho học sinh khó học” (1996) của Mary E.53-68] hay “Đào tạo kỹ năng xã hội cho trẻ vị thành niên có vấn đề về khả năng học tập” (2004) của Ursula Cornish và Fiona [85],… đã tập trung nghiên cứu sâu về các kĩ năng xã hội, trong đó nêu bật những kĩ năng thiết yếu cho người khuyết tật. Chương trình nghiên cứu về GDKNS cho lứa tuổi vị thành niên cũng được nhấn mạnh. Chẳng hạn, tác giả Irina Zverepna với “Nghiên cứu và ứng dụng chương trình dạy các KNS – các cách tiếp cận quốc tế và trong nước” (2005); hay G.Grinphin với “Hình thành KNS: lý luận, phương pháp, cách phòng ngừa hiệu quả đối với việc lạm dụng ma túy”,… đều khẳng định, GDKNS là yêu cầu có tính chất bắt buộc đối với giáo dục phổ thông và tối cần thiết đối với học sinh trước giai đoạn khủng hoảng tâm lý lứa tuổi thiếu niên,… [23].
Có thể nói, vấn đề nghiên cứu giáo dục KNS cho nhiều đối tượng đã được quan tâm. Tuy nhiên, giáo dục KNS cho đối tượng SV các trường ĐH chưa được nghiên cứu nhiều. Đáng kể có hai công trình nghiên cứu khá quan trọng: - Schultz, Chweu (2012) đã đánh giá giá trị của các chương trình KNS ở Viê ̣n Nghiên cứu Giáo du ̣c đa ̣i ho ̣c của Nam Phi (Higher Education Institution in South Africa). Kết quả đã chỉ ra rằng, SV thu nhận được nhiều lợi ích từ chương trình KNS ở bậc đại học, có thể hỗ trợ SV trong học tập và cuộc sống [98, tr.
- Rasnack (2011) đã tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá sự tác động của chương trình KNS đến thành tích học tập và xã hội của các SV năm thứ nhất. Thông qua những khóa seminar về KNS, SV thu nhận được nhiều lợi ích cho kiến thức chung của họ [96]. 15 Những nghiên cứu trong hướng này vẫn đang được tiếp tục thực hiện để nhằm giúp các nhà trường lựa chọn các chương trình GDKNS phù hợp với người học. Các nghiên cứu ở trong nước Cũng như các dân tộc khác, khi tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội, người Việt Nam đã đúc kết thành những kĩ năng và triết lý sống gói gọn trong những câu răn dạy và được trao truyền qua hàng ngàn năm tồn tại.
Chẳng hạn như: học ăn, học nói, học gói và học mở; Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe; Tiên học lễ, hậu học văn,… là những minh chứng về cách thức đối nhân xử thế nhằm thích ứng với các nguyên tắc trong quan hệ giao tiếp và xã hội. Đó chính là những KNS đơn giản nhưng minh triết, có giá trị định hướng giáo dục của người Việt xưa, thể hiện phổ biến từ nơi dân dã đến chốn cung đình. Tuy nhiên, phải đến giữa thập niên 90 của thế kỉ XX, thuật ngữ KNS mới xuất hiện có hệ thống ở nhà trường Việt Nam gắn với dự án “GDKNS để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện.