CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới Tất cả các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến công tác giáo dục kỹ năng sống và có rất nhiều công trình nghiên cứu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống. Ngoài một số công trình nghiên cứu về kỹ năng sống của cá nhân như: Dorrothy I.
Ansell and Joan M. Morse (1994) 100 of the Nation’s most Creative Life Skill Activities-Tạm dịch: 100 hoạt động kỹ năng sống sáng tạo nhất toàn quốc (Dorrothy I. Ansell and Joan M. Morse, 1994); Darlene Manix (1995) Life Skills Activities for Secondary Students with Special Needs-Tạm dịch: Hoạt động kỹ năng sống dành cho học sinh trung học có nhu cầu đặc biệt (Darlene Mannix , 1995); Gilbert J.
Botvin and Kenneth W. Griffin (2004) Life Skills Training: Empirical Findingsand Future Directions-Tạm dịch: Huấn luyện Kỹ năng Sống: Những Phát hiện Thực nghiệm và Định hướng Tương lai… (Gilbert J. Botvin and Kenneth W. Còn có nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện bởi các tổ chức quốc tế như: UNICEF, WHO, UNESCO.
Tác giả Diane TillMan (2009) trong cuốn Những giá trị sống cho tuổi trẻ, Giáo dục các giá trị sống để có kỹ năng sống ngày càng được nhìn nhận là có sức mạnh vượt qua khỏi lời răn dạy đạo đức chi tiết đến mức hạn chế trong cách nhìn hoặc những vấn đề thuộc về tư cách công dân. Những giá trị sống đang được xem là trung tâm của tất cả thành quả mà giáo viên và nhà trường tâm huyết có thể hy vọng đạt được thông qua việc giáo dục về kỹ năng sống cho học sinh. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO, 2006) đã đưa ra nguyên tắc cơ bản để định hướng giáo dục kỹ năng sống trong thực tiễn: Tất cả thế hệ trẻ và người lớn có quyền hưởng lợi từ một nền giáo dục chứa đựng các hợp phần: học để biết, học để làm, học để chung sống với mọi người và học để khẳng định mình. Giáo dục hướng vào yêu cầu bồi dưỡng năng khiếu tiềm năng và phát triển cá tính người học cần quan tâm kết hợp kỹ năng thực hành và các khả năng tâm lý xã hội, đánh giá chất lượng giáo dục phải bao hàm đánh giá mức độ đạt được các kỹ năng sống và tác 8 dụng của kỹ năng sống đối với xã hội và đối với mỗi cá nhân.
Hội nghị giáo dục Thế giới họp tại Dakar-Thủ đô Senegan vào tháng 4 năm 2004 đã thông qua kế hoạch hành động giáo dục cho mọi người-gọi tắt là kế hoạch Dakar, bao gồm 06 mục tiêu. Trong đó, mục tiêu 03 nêu rõ: Đảm bảo nhu cầu học tập cho tất cả các thế hệ trẻ và người lớn được đáp ứng thông qua việc bình đẳng tiếp cận với các chương trình học tập và chương trình kỹ năng sống thích hợp. Hội nghị Thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em, được tổ chức vào ngày 30/9/1990 tại trụ sở Liên Hợp Quốc ở New York đã tuyên bố: “Tất cả trẻ em trên thế giới đều trong sáng, dễ bị tổn thương và còn phụ thuộc. Đồng thời các em ham hiểu biết, ham vận động và đầy ước vọng.
Tuổi của các em phải được sống trong vui tươi, thanh bình, được chơi, được học và được phát triển toàn diện. Tương lai của các em phải được hình thành trong sự hòa hợp và hợp tác”. Nhận định trên nhấn mạnh đến nhiệm vụ học tập, xây dựng môi trường học tập dành cho trẻ em, trẻ cần phải được quan tâm đúng cách. Học sinh đến trường không chỉ học cách tiếp nhận tri thức mà cần phải biết cách học để có sức khỏe tốt, có kỹ năng nghề nghiệp, có những giá trị đạo đức, thẩm mỹ, nhân văn đúng đắn vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội, vừa đậm đà bản sắc dân tộc lại vừa mang tính phổ quát toàn cầu,.
tức là mỗi học sinh luôn phải trao dồi, tự học những kỹ năng nhất định trong môi trường thích hợp để tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, công tác giáo dục kỹ năng sống cho thế hệ trẻ vẫn gặp nhiều bất cập. Trước tiên có thể thấy rằng quan niệm và nội dung giáo dục kỹ năng sống ở các nước không giống nhau, nó vừa thể hiện tính chung vừa thể hiện tính đặc thù của mỗi quốc gia. Hơn nữa những nghiên cứu lý luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú nhưng chưa thật sự toàn diện, chưa có những tiêu chuẩn, tiêu chí đồng bộ cho việc xác định những kỹ năng cơ bản nên khó khăn trong việc định hướng cho công tác hoạch định chương trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Có thể tóm lược sự phát triển của công tác giáo dục kỹ năng sống qua những giai đoạn sau: Vào cuối những năm 1960, thuật ngữ “Kỹ năng sống” lần đầu tiên đã được đề cập đến bởi những nhà tâm lý học thực hành, họ coi đó như là một trong những yếu tố quan trọng trong việc phát triển nhân cách của trẻ. Vào đầu thập kỷ 90, các tổ chức Liên Hiệp Quốc như WHO (Tổ chức Y tế Thế giới), UNICEF (Quỹ cứu trợ Nhi đồng LHQ), UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học 9 và Văn hóa) đã chung sức xây dựng chương trình giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên và thời điểm này thuật ngữ kỹ năng sống đã xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF. Trước tiên là chương trình “Giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ. (UNESCO, 2003) Những năm 90 của thế kỉ XX, theo các công trình nghiên cứu khoa học ở nước ngoài, thuật ngữ “Kỹ năng sống” đã xuất hiện trong một số chương trình giáo dục đặc biệt của UNICEF.
Giai đoạn này, những nghiên cứu về kỹ năng sống của các nhà nghiên cứu là muốn thống nhất được một quan niệm chung về kỹ năng sống và đưa ra được một bảng danh mục các kỹ năng sống cần thiết cho các lứa tuổi khác nhau với mục đích góp phần giáo dục thế hệ trẻ trên toàn thế giới. Tuy nhiên, một số các công trình nghiên cứu về kỹ năng sống ở thời kỳ này quan niệm về kỹ năng sống theo nghĩa hẹp, có nghĩa là đồng nhất kỹ năng sống với các kỹ năng xã hội khác. Theo tổ chức UNICEF, mọi hoạt động giáo dục dựa trên những kỹ năng sống cơ bản là sự thay đổi trong hành vi của con người hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ và hành vi của con người. Hay có thể hiểu một cách ngắn gọn nhất đó là khả năng chuyển đổi kiến thức của chính người được giáo dục (phải làm gì?) và thái độ của họ (mình đang nghĩ gì, cảm xúc của mình là như thế nào, hay tin tưởng vào giá trị nào được tiếp nhận?) thành hành động của chính bản thân mình (làm gì và sẽ làm như thế nào?).
Tại Trung Quốc, trong chủ trương về quản lý giáo dục cũng đã quán triệt thực hiện giáo dục kỹ năng sống, giá trị sống ngay ở bậc tiểu học và cấp trung học cơ sở. Trung Quốc coi giáo dục các kỹ năng sống, giá trị sống trong nền giáo dục quốc dân là giáo dục những giá trị truyền thống của dân tộc trong hệ thống lễ giáo với mọi người trong nước và ngoài nước; hệ giá trị cần giáo dục cho tuổi trẻ chính là các giá trị phù hợp với sự phát triển của thời đại. Tại Nhật Bản, chủ trương của giáo dục tập trung vào 05 giá trị, 05 kỹ năng cơ bản “chính trực, kính trọng, trình độ chuyên nghiệp, lòng trắc ẩn, tinh thần trách nhiệm” với khẩu hiệu không ngừng hoàn thiện bản thân “Mỗi ngày tiến lên một bước nhỏ” để luyện tập phán đoán, lãnh đạo và hợp tác. Trong chiến lược phát triển giáo dục, giáo dục kỹ năng sống ở trường Phổ thông của Hoa Kỳ tập trung 11 nội dung (giáo dục con người toàn diện tập trung vào tri thức, hành vi và tình cảm; Giới thiệu các tấm gương để học sinh suy nghĩ các giá trị của họ; 10 Sử dụng các tài liệu thích hợp; Giáo viên tiếp xúc với học sinh một cách trong sáng, chân thành, tin tưởng tất cả các em học sinh sẽ tiến bộ; Tôn trọng các em chú ý ngôn ngữ nói với các em; Xây dựng không khí hòa thuận, giải quyết ổn thỏa các xích mích nội bộ.
Kịp thời khuyến khích, khen ngợi các việc làm tốt; Luôn chỉnh đốn và sửa sai lầm. Tổ chức hợp tác cùng nhau làm một số việc, tham gia công tác xã hội; Phối hợp nhà trường, gia đình, xã hội; Dạy dỗ chứ không thuyết giáo. Hội đồng giáo dục Hoa Kỳ đã soạn ra hệ thống kỹ năng sống, giá trị sống với 26 giá trị và đề ra một kế hoạch triển khai rất cụ thể, từ xây dựng chương trình giáo dục, tài liệu giảng dạy, các hoạt động về giáo dục kỹ năng sống. và đặc biệt chú trọng công tác đào tạo lực lượng giáo viên có đủ khả năng thực hiện công tác giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh đáp ứng yêu cầu đề ra, đồng thời đầu tư ngân sách và thường xuyên tổ chức kiểm tra, đánh giá hiệu quả của hoạt động giáo dục kỹ năng sống.
Trong khi đó, công tác định hướng giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh Malaysia có 16 chuẩn mực cần giáo dục. Trong 16 chuẩn mực, giáo dục Malaysia nhấn mạnh các kỹ năng biết tự lực, tự giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống, kỹ năng hợp tác, biết giải quyết hợp lẽ phải, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Bước vào thế kỷ XXI, dưới sự phát triển mạnh mẽ của thời đại công nghệ số, việc số hóa toàn cầu đang ngày càng được đẩy mạnh và cuộc sống cũng đè nặng lên chúng ta những áp lực nhất định. Chúng ta dần thiếu đi những hiểu biết, kỹ năng cần có để đối diện với những rủi ro mà cuộc sống mang đến.
Một trong những thế hệ đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi sự tiến công của cách mạng 4.0 đó là giới trẻ, họ thiếu hụt những kỹ năng sống cần thiết, bối rối khi đối diện với khó khăn. Vì vậy, giáo dục kỹ năng sống đã và đang trở thành nhiệm vụ cần và cấp thiết của mỗi quốc gia và môi trường thuận lợi nhất để rèn luyện kỹ năng chính là môi trường giáo dục.