Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng sống học sinh các trường tiểu học theo tiếp cận dựa vào nhà trường đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống học sinh các trường tiểu học huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh theo tiếp cận dựa vào nhà trường hiện nay. Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống học sinh các trường tiểu học huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh theo tiếp cận dựa vào nhà trường và khảo nghiệm tính cấp thiết, khả thi của các biện pháp quản lý. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC THEO TIẾP CẬN DỰA VÀO NHÀ TRƢỜNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về kỹ năng sống, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông Kỹ năng sống và giáo dục KNS là vấn đề được các quốc gia đặc biệt quan tâm. Theo đó, ở mỗi quốc gia để người học có điều kiện học tập, phát triển và thích nhanh với đời sống xã hội, các nhà trường cần đảm bảo cho người học được giáo dục các KNS thích hợp. Ở nước ngoài, KNS không phải là một khái niệm mới, năm 1986, KNS đã được các tổ chức quốc tế công nhận là một khái niệm chính thức và được đề cập rộng rãi trong các chính sách quốc tế.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1986 thì KNS là hệ thống những kỹ năng tâm lí xã hội và giao tiếp được con người sử dụng thường xuyên trong đời sống hằng ngày để giải quyết các vấn đề và tương tác có hiệu quả trong cuộc sống. Từ những năm 1990, khái niệm KNS đã được trình bày trong các chương trình giáo dục của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) với 12 giá trị cơ bản cần dục dục cho thế hệ trẻ. Trong chương trình đánh giá toàn cầu về giáo dục KNS, UNICEF năm 2012 nhấn mạnh KNS “đề cập đến một nhóm các kỹ năng tâm lý xã hội và cá nhân có thể giúp mọi người đưa ra quyết định, giao tiếp hiệu quả, phát các kỹ năng đương đầu và tự quản lý nhằm giúp họ có một cuộc sống lành mạnh và hiệu quả”. Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu về KNS ở giai đoạn này đều tiếp cận và đưa ra quan niệm về KNS theo nghĩa hẹp, đồng nhất KNS với các kỹ năng xã hội của con người.
Hiện nay, các nghiên cứu trên thế giới 7 đều chứng minh rằng: KNS là yếu tố không thể thiếu đối với sự tồn tại và phát triển toàn diện của con người ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như phát triển cá nhân, phát triển các năng lực tâm lí - xã hội. Về phân loại KNS, các nghiên cứu trên thế giới hiện nay có sự phân chia khung KNS cho các lứa tuổi khác nhau. Theo UNESCO, KNS có thể chia thành 2 nhóm: nhóm các kỹ năng chung (kỹ năng nhận thức, kỹ năng cảm xúc, kỹ năng xã hội) và nhóm các kỹ năng được thể hiện trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội (kỹ năng giải quyết các vấn đề về đời sống và sức khoẻ; kỹ năng giải quyết các vấn đề về giới; kỹ năng giải quyết các vấn đề về phòng chống HIV/AIDS; kỹ năng phòng chống ma tuý, thuốc lá, rượu; kỹ năng giải quyết các vấn đề về thiên nhiên, môi trường; kỹ năng giải quyết các vấn đề về gia đình, cộng đồng …). Theo UNICEF, KNS có thể chia thành 3 nhóm kỹ năng cơ bản: Nhóm kỹ năng tự nhận thức và sống với chính bản thân mình, nhóm kỹ năng nhận thức và sống với người khác, nhóm kỹ năng đưa ra các quyết định hiệu quả.
Còn theo WHO, KNS được chia thành 3 nhóm kỹ năng đó là: kỹ năng tương tác giữa các cá nhân và giao tiếp với nhau (kỹ năng giao tiếp, kỹ năng từ chối và thương lượng, kỹ năng vận động), kỹ năng nhận thức (kỹ năng ra quyết định, kỹ năng phản biện), kỹ năng cá nhân - kỹ năng đối phó với các vấn đề và quản lý bản thân. Như vậy, cách phân loại KNS là không cố định. Do đó việc lựa chọn nội dung giáo dục KNS cũng được xác định linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng giáo dục ở các quốc gia, cấp học, bậc học cụ thể. Ở Việt Nam, đã có nhiều tác giả đưa ra quan niệm về KNS.
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng trong cuộc sống con người tiến hành các hoạt động, để duy trì các hoạt động sống thì con người cần có các KNS. Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì KNS là tổng hợp các kỹ năng bộ phận của con người giúp họ thích nghi và giải quyết hiệu quả các yêu cầu, thách thức đặt ra trong cuộc sống. Tác giả Huỳnh Văn Sơn lại quan niệm KNS là một biểu hiện quan trọng của khả năng tâm lí - xã hội của mỗi cá nhân giúp họ thể hiện được 8 chính mình và tạo ra nội lực cần thiết để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống và phát triển. Như vậy, dù còn có những cách hiểu khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất cho rằng KNS là một khái niệm thuộc về phạm trù của tâm lí (hiểu theo nghĩa rộng) không chỉ đơn thuần là một kỹ thuật thực hiện các hành động, hành vi (hiểu theo nghĩa hẹp) của con người.
Như vậy, KNS là tập hợp các hành vi tích cực và khả năng thích nghi của con người cho phép họ đối phó hiệu quả với các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày; là tập hợp các kỹ năng mà con người tiếp thu, lĩnh hội qua quá trình giáo dục hoặc trải nghiệm trực tiếp được dùng để xử lý các vấn đề và các câu hỏi thường gặp trong đời sống con người. KNS là một kỹ năng quan trọng có chức năng đem lại hạnh phúc, hỗ trợ các cá nhân trở thành người tích cực và có ích cho cộng đồng, xã hội. Đối với vấn đề giáo dục KNS cho học sinh ở các trường phổ thông nói chung, TTH nói riêng, ở các quốc gia phát triển được đặc biệt coi trọng, thậm chí còn được đề cao hơn so với các hoạt động truyền thụ kiến thức và kỹ năng khác. Theo tác giả Tri Suminar, Titi Prihatin thì việc học các KNS cần thực hiện dựa trên nhu cầu của người học, gia đình họ và khả năng của từng địa phương.
Việc giáo dục KNS phải trên tinh thần chủ động, sáng tạo của các trường nói chung và các nhà giáo dục nói riêng. Giáo dục KNS cho học sinh không được phép dựa trên các nguyên tắc học tập của người trưởng thành để áp dụng đối với học sinh các trường tiểu học. Theo tác giả Schubert Foo, Shaheen Majid thì quá trình giáo dục KNS cho học sinh ngoài việc phải tìm hiểu tác động giáo dục thì phải tính đến hiệu quả của các phương thức giáo dục trong việc bồi dưỡng những kỹ năng cần thiết trong tương lai cho học sinh. Còn theo tác giả Albert J.
Petitpas thì các hoạt động thể dục thể thao, trải nghiệm cuộc sống và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được xác định là nguồn gốc giúp thanh, thiếu niên hình thành các sáng kiến và cảm xúc của bản thân một cách có hiệu quả. Đây là một trong những con đường, phương thức cơ bản để giáo dục KNS cho học sinh. Theo MOE (2006), để giáo dục KNS có hiệu quả, 9 người giáo viên cần sử dụng các phương pháp dạy và học trong đó tạo cơ hội cho những người học xác định các vấn đề của bản thân, thảo luận về các giải pháp, lập kế hoạch và thực hiện các chương trình hành động hiệu quả. Việc dạy và học KNS thông qua các phương pháp có sự tham gia của người học cho thấy việc học tập đạt kết quả tốt nhất khi người học phải tích cực tham gia trong giờ học.
Theo Kadzamira (2006) cho rằng môi trường làm việc ở phần lớn các trường học tại các nước đang phát triển chưa đáp ứng yêu cầu, cơ sở vật chất nghèo nàn, quy mô lớp lớn. Các điều kiện khó khăn đó góp phần khiến một bộ phận giáo viên cảm thấy không hài lòng với công việc, ảnh hưởng đến hiệu quả công việc và ảnh hưởng đến việc thực hiện bất kỳ chương trình giảng dạy KNS. Còn tác giả Kolosoa (2010) đã chỉ ra tình trạng một bộ phận giáo viên tại các trường học thiếu năng lực giảng dạy KNS, các chương trình giáo dục phải đối mặt với các thách thức phát sinh từ việc nhà trường không tuân thủ các nguyên tắc về chất lượng giáo dục. Ví dụ như các trường học không giới thiệu các biện pháp đo lường, đánh giá và cấp chứng chỉ về GD KNS, điều này làm giảm giá trị và sự ghi nhận về vị trí của giáo dục KNS trong nhà trường.
Ở Việt Nam việc giáo dục KNS cho học sinh tiểu học cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và triển khai ứng dụng trong thực tiễn. Từ năm 2001 đến năm 2005, giáo dục KNS dưới sự hỗ trợ của UNICEF đã được thực hiện mạnh mẽ nhằm hướng tới cuộc sống khoẻ mạnh cho trẻ em thành niên và chưa thành niên trong và ngoài nhà trường ở nhiều dự án như: Dự án “Trường học nâng cao sức khoẻ” của Bộ GD&ĐT, Bộ Y tế. Giáo dục KNS đã được đưa vào hệ thống giáo dục chính quy và thường xuyên. Nội dung giáo dục của nhà trường phổ thông đã được định hướng bởi mục tiêu giáo dục KNS cho học sinh.
Các nội dung giáo dục KNS cơ bản cho học sinh đã được triển khai ở các TTH là: Kỹ năng thích nghi, kỹ năng hành động, kỹ năng ứng xử, khả năng tự học suốt đời, kỹ năng ra quyết định. Ngoài ra, có thể đề cập đến hai nghiên cứu lí luận chung nhất về giáo dục KNS cho người học là “Giáo dục 10 giá trị và KNS cho học sinh phổ thông” của Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Đinh Thị Kim Thoa (2010). Nghiên cứu này đã phân tích về khái niệm KNS, phân loại KNS và đưa ra các nguyên tắc, hình thức và phương pháp giáo dục KNS cho người học. Bên cạnh đó còn có công trình của các tác giả như: Ngô Thị Tuyên, Bùi Thị Thúy Hằng cũng chỉ ra vai trò quan trọng, cần thiết của giáo dục KNS cho học sinh trong các nhà trường và cho rằng nếu thiếu KNS con người sẽ thiếu nền tảng giá trị sống.