phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm c 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận quản lý GDKNS thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học. Thực trạng quản lý GDKNS thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh các trường Tiểu học thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Biện pháp quản lý GDKNS thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh các trường Tiểu học thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Thuật ngữ “ Kỹ năng sống” đã được sử dụng trong lĩnh vực giáo dục và phát triển cá nhân. Tổ chức UNICEF đã đưa ra một quan niệm về kĩ năng sống một cách phổ quát, cũng như chỉ ra các kĩ năng sống cơ bản mà thế hệ trẻ cần c trong cuộc sống hằng ngày.
Những nghiên cứu về KNS ở giai đoạn này thường tập trung vào làm rõ quan niệm và 12 giá trị phổ biến ở các quốc gia khác nhau [36]. Tổ chức UNESCO đã đưa ra chương trình giáo dục giá trị sống với 12 giá trị cốt lõi: Hợp tác, Tự do, Hạnh phúc, Trung thực, Khiêm tốn, Yêu thương, Hòa Bình, Tôn trọng, Trách nhiệm, Giản dị, Khoan Dung, Đoàn Kết. Chương trình này đã được tiến hành tại một số nước trên thế giới và tạị một số nước Đông Nam Á tr[34]. Để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, phục vụ phát triển kinh tế xã hội, hệ thống giáo dục của nhiều quốc gia đang trải qua các thay đổi theo hướng linh hoạt, hiện đại.
Mục tiêu là đào tạo một thế hệ lao động chủ động, c tính sáng tạo cao và c những năng lực thiết yếu cần thiết để nhanh chòng làm quen, thích ứng với những thay đổi nhanh ch ng của xã hội hiện đại. Vấn đề GD KNS cho lớp trẻ n i chung và cho học sinh phổ thông n i riêng đang được đặc biệt chú trọng ở mọi quốc gia. Trong đ , tại diễn đàn thế giới về giáo dục năm 2000, nhiều nhà nghiên cứu đã đặt ra mục tiêu phát triển là mỗi quốc gia cần đảm bảo cho học sinh được tiếp cận GD KNS. Nội dung GD KNS cho học sinh n i chung và HS tiểu học n i riêng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nước và c cùng khái niệm về nội dung, nhưng quan niệm và nội dung GDKNS đều c sự khác biệt.
Khái niệm KNS 5 c thể thay đổi đáng kể tùy thuộc vào quan điểm và ngữ cảnh của từng quốc gia. Một số quốc gia c thể mở rộng khái niệm KNS để bao gồm không chỉ kỹ năng tâm lý xã hội mà còn các khía cạnh khác như kỹ năng sáng tạo, giải quyết vấn đề. Khái niệm và nội dung GD KNS được triển khai ở các quốc gia không chỉ thể hiện điểm chung mà còn mang tính đặc thù của mỗi quốc gia đ. Quản lý GD KNS giữa hệ thống giáo dục chính quy và không chính quy của một quốc gia và tạo ra những ảnh hưởng lớn đối với việc phát triển và định hình kỹ năng của HS.
Trong đ , quản lý giáo dục KNS ở một số nước phát triển được định hình dựa trên các chương trình giáo dục bao gồm kỹ năng giao tiếp, quản lý xung đột và giải quyết vấn đề thuộc cá nhân và cộng đồng xã hội. Tuy nhiên, những nghiên cứu lí luận về vấn đề này mặc dù khá nhiều song chưa thực sự đa đạng nhất là quản lý giáo dục KNS thông qua HĐTN cho HS tiểu học. Các nghiên cứu của UNESCO và tuyên bố về cam kết của Tiểu ban đặc biệt của Liên Hiệp Quốc về HIV/AIDS (Nguồn: Unicef life skills ) có đề cập đến những nội dung chính về giáo dục KNS và quản lý GD KNS cho HS như sau: - Thống nhất mục tiêu của GD KNS trong giáo dục: Trong hội thảo Bali về giáo dục, các chuyên gia đã nhận định mục tiêu GD KNS trong giáo dục không chính quy của khu vực Đông Nam Á là một bước quan trọng để xác định hướng phát triển và định hình chương trình giáo dục. - Nghiên cứu về chương trình và hình thức GD KNS cho HS: + Thực hợp đồng bộ các KNS vào chương trình giảng dạy dựa trên các nh m học sinh cụ thể.
Ví dụ, một số quốc gia đã thực hiện tích hợp nội dung KNS vào các chương trình giảng dạy cơ bản. Ngoài việt dạy chữ, GV cũng tích cực lồng ghép các nội dung khác như cách thức phát triển nông nghiệp, kĩ năng bảo tồn và phát triển rừng, sức khỏe và đời sống tinh thần. 6 + Dạy các chuyên đề cần thiết cho người học.Ví dụ: tạo thu nhập; môi trường, kĩ năng nghề nghiệp; kĩ năng kinh doanh. Các tác giả Armin Mahmoudi & Golsa Moshayedi, trong nghiên cứu “Kĩ năng sống cho học sinh” công bố trên tạp chí Khoa Học và Đời sống đã đưa ra các nh m kĩ năng căn bản và một số giải pháp chiến lược giáo dục kĩ năng sống.
Tác giả cũng chỉ ra rằng KNS là những khả năng liên quan đến hành vi tích cực và khả năng thích nghi, tăng khả năng giải quyết hiệu quả công việc. N i theo cách này, KNS là vô kể; bản chất và định nghĩa về kĩ năng sống cũng khác nhau tùy theo văn h a và hoàn cảnh. Tuy nhiên phân tích về kĩ năng sống trên thực tế cho thấy c một tập hợp kĩ năng sống căn bản giúp trẻ em và trẻ vị thành niên phát triển tốt bao gồm 10 kĩ năng sau: 1. Ra quyết định; 2.
Giải quyết vấn đề; 3. Suy nghĩ sáng tạo; 4. Suy nghĩ tích cực: 5. Giao tiếp hiệu quả; 6.
Tự nhận thức; 8. Kiểm soát với cảm xúc; [30]. Trong các nghiên cứu về GD KNS, quản lý giáo dục KNS thông qua HĐTN cho HS tiểu học, Trung tâm nghiên cứu giáo dục đạo đức công dân”, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam đã đề cập những vấn đề quan trọng và đề xuất yêu cầu cụ thể để triển khai thực hiện GD KNS cho HS tiểu học thông qua HĐTN, bao gồm: - Xây dựng một chiến lược hiệu quả và bền vững về GD KNS cho HS tiểu học thông qua HĐTN; - Xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên TH, c kỹ năng thiết kế chương trình giáo dục KNS cho HS TH thông qua HĐTN Nhà trường đ ng vai trò quan trọng, là điều kiện thích hợp để thực hiện GD KNS cho HS TH vì: * Nhà trường c vai trò thiết yếu trong việc truyền tải kiến thức KNS cho HS * Khả năng tiếp cận với quy mô số lượng lớn trẻ em và thanh thiếu niên 7 với cơ sở hạ tầng sẵn c * Hiệu quả kinh tế cao khu sử dụng cơ sở hạ tầng c sẵn và đội ngũ giáo viên đầy kinh nghiệm * Sự tin tưởng và kính trọng từ phía học sinh, phụ huynh và cộng đồng. Những điều này thể hiện rằng việc triển khai GD KNS cho HS TH không chỉ đơn giản là một nhiệm vụ của nhà trường mà còn là yêu cầu sự hợp tác chặt chẽ của các bên liên quan.
Giáo dục KNS không chỉ là một xu hướng giáo dục mà còn là cơ sở để xây dựng một xã hội bền vững và hiện đại. Ở Việt Nam Năm 1996, nghiên cứu được thực hiện bởi các chuyên gia Australia đã đống một vai trò quan trọng trong việc phát triển và giới thiệu thuật ngữ này. Năm 2003, UNESCO đã đánh dấu bước quan trọng trong việc làm rõ định nghĩa KNS. Các trụ cột này nhấn mạnh sự đa chiều của quá trình học, không chỉ là việc tích lũy kiến thức mà còn là việc áp dụng và sống trong xã hội [36].
Định nghĩa và nội dung của KNS và GD KNS ngày càng được phát triển theo thời gian. Ngày nay, định nghĩa của KNS là các KNS cốt lõi như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng kiên định và kĩ năng đạt mục tiêu, kĩ năng kiểm soát cảm xúc… Các nghiên cứu về lĩnh vực này đã tập trung vào xác định kỹ năng cần thiết trong lĩnh vực hoạt động mà thiếu niên tham gia, từ đ đề xuất biện pháp để hình thành những kỹ năng này. Các bài nghiên cứu điển hình về thực hiện GD KNS như sau: Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc trong một bài nghiên cứu cũng đã định hướng các giá trị cần trang bị cho học sinh phổ thông, bao gồm các giá trị và các kỹ năng cốt lõi để rèn luyện nhân cách tốt đẹp, phẩm chất đạo đức phù hợp với yêu cầu của cuộc sống. Nghiên cứu về GTS và giáo dục KNS cho học sinh ở Việt Nam nh m 8 tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Bùi Thị Thúy Hằng (2010), đã khái quát những vấn đề GTS và các kĩ năng sống cụ thể cần thiết cho học sinh TH dựa trên nghiên cứu về tâm sinh lí lứa tuổi.
Cuốn sách là tài liệu thiết thực đối với công tác giáo dục KNS cho các trường TH hiện nay. Kết quả của nghiên cứu trên đã chỉ ra rằng thiết kế các hoạt động GD KNS c tác động hiệu quả đến sự phát triển toàn diện cả thể chất và tâm hồn của HS [14]. Các tác giả Ngô Giang Nam và Lục Thị Nga cũng chỉ ra rằng KNS là những khả năng liên quan đến hành vi tích cực và khả năng thích nghi, tăng khả năng giải quyết hiệu quả công việc. N i theo cách này, KNS là vô kể; bản chất và định nghĩa về kĩ năng sống cũng khác nhau tùy theo văn h a và hoàn cảnh Bên cạnh đ , một số nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng giáo dục KNS thông qua HĐTN giúp học sinh sống khỏe mạnh, phòng chống bệnh tật và các tệ nạn xã hội, kĩ năng phát triển bản thân, sống tốt cho bản thân và mọi người, thúc đẩy cá nhân và cộng đồng cùng phát triển [16], [18], [22].
C thể n i nghiên cứu về KNS và giáo dục KNS cho HS TH thông qua HĐTN ở Vệt Nam đã được rất nhiều các nhà khoa học, nhà QLGD quan tâm nghiên cứu khai thác ở nhiều g c độ, nhưng c thể t m lược nội dung nghiên cứu được thực hiện theo các hướng chính sau: - Xác định quan điểm về vai trò và ý nghĩa của GD KNS, đồng thời phân tích các phương pháp luận tiếp cận để triển khai công tác này.