CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học 1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước Nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của HĐTN cho học sinh phổ thông nhất là học sinh tiểu học đã xuất hiện từ rất lâu đời, được các nhà giáo dục nổi tiếng trên thế giới nghiên cứu. Từ thời phong kiến, Khổng Tử đã nói: “Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên; Những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ; Những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu”. Tư tưởng này khẳng định tinh thần chú trọng vào việc học tập từ trải nghiệm và qua quá trình làm việc, học gắn liền với hành. Cùng quan điểm với Khổng Tử, ở phương Tây, nhà triết học Hy Lạp Sokrates đã phát biểu: “Người ta phải học bằng cách làm một việc gì đó; Với những điều bạn nghĩ là mình biết, bạn sẽ thấy không chắc chắn cho tới khi làm nó.” để thấy được vai trò, tầm quan trọng của HĐTN trong quá trình phát triển của học sinh (Hà Nhật Thăng, 1998, tr.
“Giáo dục trải nghiệm” thực sự được đưa vào giáo dục hiện đại từ cuối thế kỉ XIX, đó là xuất hiện mô hình dạy học trải nghiệm đầu tiên trên thế giới của nhà tâm lý học Kurt Lewin. Ông nhấn mạnh việc dạy học phải biết kết hợp giữa lý thuyết và thực hành để phát huy tối đa hiệu quả của việc dạy học, vận dụng các kinh nghiệm cá nhân đã học được trên lớp để giải quyết các vấn đề thực tiễn đề ra. Tại Mỹ các trường học thông qua các nhiệm vụ thực hành tại các câu lạc bộ được thành lập mà trong đó câu lạc bộ trồng ngô đầu tiên dạy các học sinh thực hành trồng ngô, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp thông qua các công việc nhà nông thực tế đã giúp học sinh hào hứng học tập và tích lũy kiến thức từ thực tiễn, điều đó diễn ra vào những năm đầu của thế kỉ XX. Sau đó 100 năm, tổ chức câu lạc bộ này phát triển thanh thiếu niên lớn nhất của Mỹ, tiên phong trong phong trào học tập thông qua lao động trải nghiệm, thực hành và lao động.
Đến giữa Thế kỷ XX, các nhà giáo dục nhắc nhiều đến học thuyết “Giáo dục trải nghiệm”, trong đó tiêu biểu là quan điểm “học qua làm, học bắt đầu từ làm” của nhà 7 triết học người Mỹ, nhà tâm lý học và nhà cải cách giáo dục là Dewey. Với các tác phẩm Experience and Education (Tạm dịch: Kinh nghiệm và Giáo dục), The School and Society (Tạm dịch: Trường học và Xã hội), The Child and the Curriculum (Tạm dịch: Đứa trẻ và Chương trình giảng dạy), Democracy and Education (Tạm dịch: Dân chủ và Giáo dục), My Pedagogic Creed (Tạm dịch: Tín điều sư phạm của tôi). ông đã chỉ ra hạn chế của giáo dục nhà trường và đưa ra quan điểm về vai trò của kinh nghiệm bản thân trong giáo dục. Ông cho rằng giáo dục và học tập là các quá trình xã hội và có tính tương tác, do đó chính nhà trường là một thể chế xã hội thông qua đó có thể tiến hành cải cách xã hội.
Ngoài ra, ông tin rằng học sinh sẽ phát triển mạnh trong một môi trường mà học sinh được phép trải nghiệm và tương tác với chương trình giảng dạy và có cơ hội tham gia vào việc học trải nghiệm của mình (Dewey, 1983). Nhà giáo dục học, tâm lý học nổi tiếng Dewey (1938) ông đã khẳng định vai trò của kinh nghiệm, ông đã cho rằng kinh nghiệm khi đưa vào giáo dục sẽ làm cho các bài học diễn ra thực tế hơn, vận dụng kết nối tri thức với cuộc sống, kiến thức mà học sinh được trên trường lớp học đi vào đời sống hằng ngày một cách dễ dàng. Nhà tâm lý học Rogers (1951), cho rằng mỗi cá nhân học sinh khi tự khám phá ra các kiến thức mới một cách chủ động, tích cực sẽ làm cho hành vi mới xuất hiện, cung cấp phương pháp tự học, tự thay đổi chính mình đó là các HĐTN. Bên cạnh đó Richard Ponzio và Sally Stanley quan niệm rằng khi học sinh được trải nghiệm ở những không gian, thời gian khác nhau sẽ giúp người học có những cảm giác, những trải nghiệm khác nhau, được chia sẻ và mở rộng kiến thức của chính mình thông qua hoạt động kết nối, chia sẻ.
Trên cơ sở nghiên cứu của Dewey, Lewin, Piaget, Vygotsky và các nhà nghiên cứu khác về học tập dựa vào kinh nghiệm, lý thuyết kiến tạo Kolb (1984) đã cho ra đời chu trình học tập trải nghiệm trong công trình Study experience: Experience is the source of Learning and Development (Tạm dịch: Kinh nghiệm học tập: Kinh nghiệm là nguồn học hỏi và phát triển) bao gồm bốn bước: Kinh nghiệm cụ thể - Quan sát phản chiếu - Khái niệm hóa và Thử nghiệm tích cực. Hai giai đoạn đầu tiên của chu kỳ liên quan đến việc nắm bắt một kinh nghiệm, hai giai đoạn thứ hai tập trung vào việc biến đổi một kinh nghiệm. Ông lập luận rằng học tập hiệu quả được coi là người học trải qua chu kỳ và họ có thể tham gia vào chu trình bất cứ lúc nào. Ngoài ra, còn phải kể đến rất 8 nhiều các nhà giáo dục học hiện đại như Willingham, Conrad và HĐTN sáng tạo – lý thuyết và vận dụng trong dạy học Tiểu học Hedin, Druism, Owens và Owens, Karen Warren.
Từ năm 1973, tại các nước trong khu vực châu Á bắt đầu áp dụng các hoạt động dạy học thông qua tham quan, dã ngoại gắn liền với thực tiễn, đầu tiên là Hồng Kông sau đó mở rộng ra Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Trung Quốc. Các nước có nền giáo dục phát triển bắt đầu đưa HĐTN vào chương trình dạy học, đưa các chương trình dạy học theo hướng phát triển năng lực và phẩm chất của người học vào chương trình giáo dục phổ thông với nhiều hình thức đa dạng và phong phú. Năm 1996, Ủy ban Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã xuất bản báo cáo nghiên cứu về vấn đề giáo dục, trong đó đề cập đến 4 trụ cột của giáo dục Thế kỷ XXI: Học để biết - Học để làm - Học để chung sống - Học để khẳng định mình đây có thể coi là những nguyên tắc cơ bản để định hình lại giáo dục cho phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu. Năm 2002, UNESCO thông qua chương trình “Dạy và học vì một tương lai bền vững” trong đó nội dung quan trọng là “Giáo dục trải nghiệm” diễn ra tại tại Hội nghị thượng đỉnh Liên hiệp quốc.
Với các cách gọi khác nhau về “Giáo dục trải nghiệm”, UNESCO đề cao chương trình này vì tính linh hoạt và thực tế, mở ra một thời kỳ tươi sáng cho giáo dục toàn cầu sẽ tạo ra những công dân mới – công dân toàn cầu với nhiều cách thức khác nhau mà các nước phát triển đã thực hiện. Những nhà quản lý giáo dục của Phần Lan đã tin rằng mục đích của giáo dục là phát huy những tiềm năng, tố chất, năng lực của các cá nhân để mang lại giá trị cho xã hội chứ không phải là đưa con người vào trong sự khuôn khổ vì thế giáo dục không thể rập khuôn. Do đó nhà trường là nơi bình đẳng, mọi học sinh đều hưởng những cơ hội ngang nhau, để học sinh tự do phát triển cá tính, nguyện vọng và tài năng như: không thi cử, không áp lực, không điểm danh, không học thêm, bài tập tại trường (30 phút), nhà trường là thiên đường của trẻ em, giáo viên soạn bài giảng phù hợp với từng độ tuổi. Điều thú vị hơn là không chỉ nhất thiết học trong sách giáo khóa, kiến thức ở ngay trong cuộc sống, học sinh có nhiều giờ học vui chơi ngoại khóa, lúc này giáo viên và học sinh tha hồ sáng tạo mà không theo giáo trình nào, học sinh thích thú tìm tòi khám phá, thu được nhiều kiến thức, giáo viên cũng nắm được điểm mạnh cần phát huy của 9 học sinh,.
Điều này tạo nên một nền giáo dục Phần Lan với hệ thống trường học đáng ngạc nhiên nhất thế giới, đây là kinh nghiệm cho Việt Nam không chỉ ở cấp Tiểu học mà còn nhiều cấp khác nhau trong nền giáo dục trên đà phát triển như chúng ta. Một nghiên cứu khác đã chỉ ra HĐTN thường được các tổ chức xã hội, trung tâm giáo dục cùng chung tay góp sức và chia sẻ sứ mệnh giáo dục. Hàng loạt những tình huống, bối cảnh đa dạ, phong phú cho học sinh được cung cấp một cách có hệ thống. Đòi hỏi học sinh phát triển, ứng dụng nhiều tri thức, kỹ năng trong các chương trình, cho phép học sinh sáng tạo và tư duy, giải quyết vấn đề theo nhiều cách thức khác nhau nhằm đạt kết quả tốt hơn, tạo ra môi trường cho học sinh có cơ hội sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới bản thân.
Bên cạnh đó, nhiều hoạt động liên kết với chủ đề của chương trình và phù hợp với mục đích, nội dung học tập. Một trong những trung tâm giáo dục trải nghiệm rất thành công trong lĩnh vực này là trung tâm Wider Horizon (2014) với tầm nhìn và sứ mạng: “Chúng tôi tin rằng mỗi đứa trẻ đều có cơ hội trải nghiệm những tri thức về phiêu lưu, mạo hiểm như là một phần được giáo dục trong cuộc đời”. Tại Australia, các nhà giáo dục cho rằng ở cấp tiểu học, khi học sinh đã được làm quen với hoạt động ngoại khóa và hoạt động giáo dục ngoài trời sẽ là tiền đề cho việc phát triển phẩm chất và năng lực song hành với học văn hóa trong tương lai. Một nghiên cứu khác tại Hàn Quốc đã chỉ ra mục tiêu HĐTN hướng đến con người được giáo dục, đầy đủ nhân cách và sức sáng tạo, biết vận dụng tích cực những kiến thức đã học vào thực tế, đồng thời chia sẻ và quan tâm đến mọi người xung quanh.
Hoạt động này là những hoạt động nằm ngoài hệ thống các môn học trong nhà trường nhưng vẫn có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục, trong đó có bốn nhóm hoạt động chính: Hoạt động độc lập (tự chủ); Hoạt động câu lạc bộ; Hoạt động tình nguyện và Hoạt động hướng nghiệp (định hướng). Tất cả sẽ giúp cho học sinh hình thành và phát triển những năng lực phẩm chất, ý chí cần có của một con người trong thời đại mới. Bậc Tiểu học, giáo dục nhằm hình thành những thói quen cơ bản, phát triển những hành vi đúng đắn thông qua nhận thức đúng đắn, đồng thời phát huy những tố chất vốn có của học sinh tiểu học.