CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÈ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SÓNG CHO TRẺ MẢU GIÁO TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ THEO HƯỚNG PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH 1. Tông quan nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo Trong hướng nghiên cứu này, các nhà khoa học tập trung làm rõ các vấn đề như: khái niệm KNS, vai trò của KNS, hệ thống các KNS cho con người, bản chất của quá trình hinh thành KNS, nội dung, phương pháp giáo dục KNS. Chương trinh hành động Dakar tại Diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người ở Senegal (2000) đà đề ra 6 mục tiêu, trong đó nhấn mạnh: Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình GDKNS phù hợp và yêu cầu khi đánh giá chất lượng GD cần phải đánh giá KNS của người học [1].
Tố chức UNESCO ủng hộ nguyên tắc quyền được học KNS, khi cho rằng tất cả các thế hệ có quyền hưởng lợi từ một nền giáo dục chứa đựng các họp phần học để biết, học để làm, học để chung sống với mọi người và học để khẳng định mình[l]. Hiện nay, ở các nước, KNS là một nội dung quan trọng trong chương trình giáo dục từ bậc học mầm non cho đến đại học. Trong những vấn đề lý luận về KNS, khái niệm và phân loại KNS là các vấn đề được nhiều tổ chức quan tâm, bàn luận nhiều nhất và đồng thời cũng có nhiều tranh luận trái chiều nhất. Chẳng hạn, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) coi KNS là những kT năng mang tính tâm lý xã hội và kĩ năng giao tiếp được vận dụng để giải quyết nỏ một cách hiệu quả trong các tinh huống thường nhật [26].
Trong khi đó, UNESCO cho rằng KNS có nội hàm rộng hơn, nó bao gồm những năng lực để thực hiện đầy đủ các chức năng, tham gia vào cuộc sống hàng ngày như kì năng nghe, nói, đọc, viết, tính toán và những kĩ nãng tâm lý - xã hội thuộc phạm vi hẹp hơn 6 trong số những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống hàng ngày. về hệ thống các KNS: theo UNĨCE, hệ thống KNS gồm 3 nhóm kỹ năng được nhìn nhận dưới góc độ tồn tại và phát triển cá nhân bao gồm: (1) Nhóm kỹ năng nhận thức và sống với chính mình (kỹ năng nhận thức và đánh giá bản thân, kỹ năng xây dựng mục tiêu cuộc sống, kỹ năng bảo vệ bản thân,.), (2) Nhóm kỹ năng tự nhận thức và sống với người khác (kỷ năng thiết lập quan hệ, kỹ năng hợp tác, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm,.), và (3) Nhóm kỹ năng ra quyết định và làm việc hiệu quả (kỹ năng phân tích vấn đề, kỹ năng nhận thức thực tể, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng ứng xử, kỹ năng giải quyết vấn đề,. Theo quan niệm của UNESCO, hệ thống KNS bao gồm 2 nhóm kỹ năng: (1) Nhóm kỹ năng chung (kỹ năng nhận thức, kỹ năng đương đầu với cảm xúc, kỹ năng xã hội hay kỹ năng tương tác) và (2) Nhóm kỹ năng trong từng vấn đề cụ thể (các vấn đề về giới, phòng chống bạo lực, gia đình và cộng đồng, bảo vệ thiên nhiên và môi trường)[35] Một trong những tác giả có những nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình. Với một loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và giáo trinh, tài liệu tham khảo điên hình như: Nguyễn Thanh Bình (2003), “GDKNS cho người học”; Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Kim Dung, Lưu Thu Thuỷ, Vũ Thị Sơn (2003): “Những nghiên cún và thực hiện chương trình GDKNS ở Việt Nam”; Nguyễn Thanh Binh (2007), GDKNS, Giáo trinh dành cho sv Cao đẳng Sư phạm; Nguyễn Thanh Bình (2008), Xây dựng và thực nghiệm một số chủ đề GDKNS cơ bản cho học sinh phổ thông trung học; Nguyễn Thanh Bỉnh (2009), Giáo trình chuyên đề GDKNS,.
đà làm sáng tỏ nội hàm về khái niệm cũng như ý nghĩa của GDKNS. Quan trọng hơn, các công trình trên có cách tiếp cận mới đối với quá trình giáo dục nói riêng, quá trình sư phạm và quá trình đào tạo nói chung. Các hoạt động nhàm tố chức giáo dục từng KNS đã được nhiều tác giả tập trung thiết kế trong các chương trình GDKNS. Tác giả Nguyễn Thanh Bình (2009) đã thiết kế nhũng hoạt động GDKNS cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông.
Bốn công trinh GDKNS cho trẻ mầm non, tiếu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông đã được nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa và Phan Thị Thảo Hương, Bùi Thị Thúy Hằng, Đặng Hoàng Minh, Trần Văn Tính, Vũ 7 Phương Liên (2010) biên soạn, trong đó, cách thức tiên hành các hoạt động giáo dục từng KNS theo từng lứa tuổi đã được các tác giả xây dựng rất rõ ràng. Các tác giả cũng đã khẳng định rằng, việc GDKNS phải đi liền với việc giáo dục giá trị sống. Nội dung GDKNS được các nhà trường thực sự quan tâm từ khi có chỉ thị 40/2008/CT-BGD&ĐT phát động các nhà trường thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, trong đó, nội dung thứ ba và thứ tư của phong trào chính là tổ chức GDKNS cho học sinh, sv. về rèn luyện KNS cho học sinh, tại điểm c của phần nội dung, Chỉ thị nêu rõ: - Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm.
- Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác. - Rèn luyện kỹ năng ứng xử vàn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội. [5] Bộ sách "Tủ sách an toàn" của nhóm tác giả Nam Hồng, Dương Phong, Ngọc Lan được xuất bản gồm 4 cuốn: (1) Ngôi nhà an toàn cho trẻ; (2) An toàn cho trẻ trên đường phố và nơi thiên nhiên; (3) An toàn cho trẻ trong cộng đồng xà hội; (4) Sơ cấp cúu các loại tốn thương do tai nạn ở trẻ em. Nội dung chính yểu và quan trọng cùa bộ sách này là việc hướng dẫn cách thức và phương pháp giúp trẻ em đối mặt hiệu quả với những nguy hiềm có thể xảy ra khi trẻ tự mình tiếp xúc với môi trường thiên nhiên và bên ngoài xã hội mỗi lúc một phức tạp hơn [17].
Năm 2012, các tác giả là giảng viên trường Đại học Sư phạm Ulianov đà tiến hành nghiên cứu đề tài “Giáo dục các kỹ nãng an toàn cho trẻ mẫu giáo”. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, đa số trẻ em được nghiên cứu đã rất thụ động khi đối mặt với sự nguy hiểm. Vì vậy, rất cần thiết phải dạy cho các em các kỹ năng phòng chống và tự bảo vệ bản thân trước những nguy hiểm có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong cuộc sống. Nghiên cứu cũng khẳng định rằng, có một số phưong pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho học sinh tở ra có hiệu quả cao khi được áp dụng đó là: phương pháp trò chơi.
Đây là phương pháp được đánh giá cao khi giáo viên bắt đầu giúp trẻ hình thành các kỹ năng tự bảo vệ bản thân. Các nhà nghiên cứu cho rằng, chính trong trò chơi, trẻ em 8 sẽ được học những mẫu hành vi cụ thể, trong những tình huống cụ thể và những tình huống này có thế các em sẽ phải đối mặt và giải quyết. Khi các em đã được học các kỹ năng tự vệ thông qua các tình huống thực thì các em sẽ tự tin đế xử lỷ tình huống nguy hiểm nếu nó xảy đến với mình. Ỏ Việt Nam, các nghiên cứu về nội dung, chương trinh và phương pháp giáo dục kỹ năng sống đã và được được quan tâm nghiên cứu.
Một trong số những nhà nghiên cứu có những công bố chuyên sâu về vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh cũng như nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là tác giả Nguyễn Thanh Bình. Dưới đây, sẽ nêu dẫn cụ thế các nghiên cứu theo hướng này của tác giả: Trong bài báo công bổ trên Tạp chí Giáo dục, tác giả Nguyễn Thanh Bình đã bàn luận về ’’Giáo dục kỹ năng sống dựa vào trải nghiệm”.[2] Trong công bố này, tác giả đã bàn luận tới chương trình, tài liệu giáo dục kĩ năng sống cho học sinh hiện nay. Tác giả cho rằng, nội dung, chương trình giáo dục kỹ năng sống đã có của nước ta chủ yếu được thiết kế cho giáo dục không chính quy. Nội dung, chương trình giáo dục kỹ năng sống được lồng ghép vào chương trình dạy chữ, học vấn và vào tất cả các môn học và các chương trình dạy học ở các mức độ khác nhau.
Việc dạy kĩ năng sống có thể được lồng ghép vào các chương trình dạy chữ cơ bản nhằm xoá mù chữ, hay có thể dạy chữ kết hợp với dạy kĩ năng làm nông nghiệp, kĩ năng bảo tồn môi trường, sức khỏe, H1V/A1DS. Bàn luận và khẳng định quan điềm của mỉnh về nội dung, chương trinh giáo dục kỹ năng sống cho học sinh còn được tác giả Nguyễn Thanh Bình trình bầy sâu và có hệ thống trong giáo trình “Giáo dục kĩ năng sống”. Tác giả cho rằng, việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh muốn đạt được hiệu quả như mục tiêu đề ra rất cần phải đối mới chương trình, nội dung và phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh[3]. Riêng đối với giáo dục kỹ năng sống cho trẻ MN, trong “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi”, Bộ GD&ĐT (2010) đã tích hợp KNS trong các năng lực thuộc lĩnh vực phát triền tình cảm và quan hệ xã hội nhằm rèn luyện các kỹ nàng cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi chuẩn bị vào lớp 1, như: Trẻ thể hiện sự nhận thức về bản thân, tin tưởng 9 vào khả năng của bản thân, biết cảm nhận và thể hiện cảm xúc, có mối quan hệ tích cực với bạn bè và người lớn, hợp tác với bạn bè và mọi người xung quanh, có các hành vi thích họp trong ứng xử xã hội, thể hiện sự tôn trọng người khác[7].
Các nghiên cứu về quăn lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo Xuất phát tù’ vai trò của hoạt động giáo dục trẻ em trong nhà trường MN và đề nâng cao chất lượng hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ em, trong lĩnh vực quản lý giáo dục đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý đối với các hoạt động khác nhau trong nhà trường có liên quan đến GD KNS.