Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẪU GIÁO (5 - 6 TUỔI) THEO HƯỚNG TRẢI NGHIỆM 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh theo hướng trải nghiệm Khái niệm KNS lần đầu được đề cập trong Hiến chương Ottawa về nâng cao sức khỏe của WHO năm 1986. Sau đó WHO (1997) mở rộng khái niệm KNS đó là “KNS có thể được định nghĩa là các khả năng về thích nghi và hành vi tích cực giúp cho các cá nhân có thể đáp ứng hiệu quả các nhu cầu và thử thách trong cuộc sống hàng ngày”.
Từ góc độ sức khỏe tâm thần thì WHO (1999) đã xác định 5 lĩnh vực cơ bản của kỹ năng sống [47]. Tổ chức CASEL của Hoa Kỳ cũng phân loại ra 5 nhóm năng lực xã hội và cảm xúc nòng cốt: Nhận thức về bản thân, quản lý bản thân, nhận thức về xã hội, các kỹ năng thiết lập quan hệ và kỹ năng ra quyết định [37]. Trong một số chương trình giáo dục của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) với chương trình đầu tiên là “Giáo dục các giá trị sống” đưa ra khái niệm KNS khi nêu ra 12 nội dung cần giáo dục cho thế hệ trẻ [44]. Hầu hết các nghiên cứu về KNS ở giai đoạn này muốn đưa ra một khái niệm chung về KNS và một hệ thống các KNS cơ bản cần có ở thế hệ trẻ.
Nhưng phần nhiều là các nghiên cứu đều đưa ra khái niệm KNS ở nghĩa hẹp, đồng bộ KNS thành các kỹ năng xã hội và cho rằng việc giáo dục các KNS là một phương pháp hữu hiệu để giáo dục phòng ngừa. “Trải nghiệm học tập: Kinh nghiệm là nguồn học tập và phát triển (Study experience: Experience is the source of Learning and Development)” là công trình do David A. Kolb nghiên cứu và xuất bản dựa vào những nghiên cứu của John Dewey, G. Piaget, Lev Vygotsky… về học tập dựa vào kinh nghiệm [38].
Kolb cho rằng “Học tập là quá trình mà trong đó kiến thức được tạo ra thông qua việc chuyển đổi kinh nghiệm” và đưa ra lý thuyết, cung cấp một mô hình học tập dựa vào trải nghiệm có thể ứng dụng trong trường học. Đây có thể coi là cơ sở áp dụng cho GD KNS theo hướng trải nghiệm khi KNS cũng là một nội dung cần phải được giáo dục và sự học tập của trẻ em. 6 Với ngành giáo dục Việt Nam, nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu việc GD KNS cho người học và hoạt động này trở thành một nhiệm vụ quan trọng của giáo dục. Bộ sách GD KNS ở các môn học bậc tiểu học xuất bản năm 2011 do tác giả Hoàng Hòa Bình cùng các tác giả khác soạn thảo đã đưa ra kiến thức cơ bản về KNS với nội dung có tính thực tiễn và đưa ra cách thức giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống giúp học sinh có thể định hình cách sống cũng như có định hướng cho tương lai [2].
Năm 2012, các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa đã tập trung phân tích nội dung GD KNS và giá trị sống trong tài liệu tập huấn cán bộ quản lý và giáo viên Trung tâm giáo dục thường xuyên, Vụ giáo dục thường xuyên [19]. Trong lĩnh vực GD KNS cho trẻ mầm non, năm 2010 Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) ban hành “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi” trong đó các KNS nhằm rèn luyện các kỹ năng cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi chuẩn bị vào lớp 1 cũng đã tích hợp vào các năng lực thuộc lĩnh vực phát triển tình cảm và quan hệ xã hội [6]. Trong cuốn sách “Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ từ 5 đến 6 tuổi” xuất bản năm 2009, tác giả Lê Bích Ngọc phân loại thành 7 nhóm KNS với gồm nhiều kỹ năng trong mỗi nhóm trong đó các KNS có hướng dẫn về tên gọi, gợi ý cho các hoạt động, phương tiện, hình thức giáo dục KNS và những điều cha mẹ cần hướng dẫn cho trẻ khi giáo dục KNS [24]. Về giáo dục theo hướng trải nghiệm cũng có những nghiên cứu đề cập đến nội dung này như bài báo “Giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua trải nghiệm ở trường mầm non” tác giả Nguyễn Thị Hải Yến (2017) đã đề cập đến một khía cạnh trong giáo dục kỹ năng xã hội một thành phần quan trọng của KNS thông qua trải nghiệm, trong đó xác định trải nghiệm là con đường cơ bản để giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ [35].
Qua bài báo “Vận dụng mô hình giáo dục trải nghiệm của D.KOLB vào tổ chức hoạt động học cho trẻ mầm non” năm 2017,tác giả Nguyễn Thị Xuân đưa ra cách thức tổ chức hoạt động học theo hướng trải nghiệm bằng việc vận dụng nghiên cứu của D. Trong cuốn sách “Tổ chức hoạt động giáo dục theo hướng trải nghiệm cho trẻ ở trường mầm non” của tác giả Hoàng Thị Phương, và nhóm các tác giả khác xuất bản năm 2021 cũng đưa ra những quan điểm nghiên cứu, trình bày rất cụ thể chi tiết các khái niệm về trải 7 nghiệm, giáo dục theo hướng trải nghiệm cho trẻ ở trường mầm non, cùng những chia sẻ về hình thức, phương pháp, nội dung tổ chức giáo dục theo hướng trải nghiệm cho trẻ mầm non [27]. Nghiên cứu về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh theo hướng trải nghiệm Năm 1996, UNESCO xác định trong dự án cải thiện chất lượng GD KNS rằng GD KNS trên toàn quốc muốn thực hiện thành công thì chủ yếu phụ thuộc vào cơ quan quản lý thực hiện khuyến khích ở các cấp độ trường học, địa phương và chính phủ. Và muốn thực hiện thành công các chương trình GD KNS ở trường học thì lãnh đạo nhà trường có vai trò hết sức quan trọng do muốn các chương trình thành công thì chủ yếu cần sự hỗ trợ của nhà lãnh đạo [42].
Trong bài báo “Supervision that improves teaching” năm 2000 của Sullivan và Glanz có nêu quan điểm các nhà quản lý nhà trường cần coi việc cải tiến trường học như một động lực để áp dụng thành công các chính sách và chương trình mới trong trường học [41]. Ở Việt Nam, có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu về quản lý GD KNS cho trẻ mầm non như: Trong luận văn thạc sĩ của Công Thị Hồng Điệp năm 2017 tác giả đã tiến hành nghiên cứu khảo sát tại các trường mầm non quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội và đưa ra kết quả: đánh giá ở mức độ khá tốt thực trạng công tác GD KNS cho trẻ em trong các trường mầm non; các nhà trường đều thực hiện các nội dung quản lý GD KNS từ lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch; nêu ra được các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý GD KNS cho trẻ em trong các trường mầm non. Từ thực trạng nhận định để có thể nâng cao chất lượng hoạt động GD KNS trong các trường mầm non thì cần thực hiện một cách đồng bộ các biện pháp quản lý GD KNS trong nhà trường [12]. Tác giả Đào Thị Chi Hà trong luận án tiến sĩ năm 2018 của mình đã tập trung nghiên cứu về quản lý GD KNS cho trẻ em lứa tuổi 5 đến 6 ở các trường mầm non tư thục.
Luận án đưa ra những khái niệm cơ bản về quản lý GD KNS cho trẻ mầm non, đánh giá thực trạng và đưa ra một số giải pháp quản lý phù hợp với các trường mầm non tư thục [13]. Hai tác giả Cao Văn Quang và Nguyễn Thành Nhân (2021) trong bài báo “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non theo 8 hướng tiếp cận chức năng quản lý” đã đề cập sâu vào nội dung đảm bảo bốn chức năng quản lý căn bản trong công tác quản lý GD KNS cho trẻ mầm non, đặc biệt làm rõ các biện pháp tăng cường các chức năng quản lý [28]. Trong các năm học thì Bộ GD&ĐT đều có các công văn hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm trong đó chú trọng đến giáo dục đạo đức, KNS cho các bậc học mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên [8]. Có thể thấy các nghiên cứu phần nào đề cập đến một số khía cạnh của giáo dục nói chung và GD KNS nói riêng cũng như việc giáo dục theo hướng trải nghiệm tuy nhiên việc tập trung phân tích về GD KNS cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi theo hướng trải nghiệm thì chưa có nghiên cứu chuyên sâu.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý giáo dục Chương trình Quản lý là các hoạt động mà người quản lý thực hiện để đảm bảo đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra. Những nguồn lực thường không liên quan với nhau được phối hợp thành một hệ thống tổng thể để hoàn thành mục tiêu trong quá trình Quản lý. Quản lí giáo dục (QLGD) có thể hiểu là thực hiện hoạt động quản lý trong các tổ chức giáo dục.
Con người là nhân tố quan trọng nhất trong QLGD vì trong một tổ chức giáo dục thì con người đóng vai trò là chủ thể và khách thể của quản lý, mọi hoạt động giáo dục và QLGD đều hướng vào việc đào tạo và phát triển nhân cách của người học. Trong “Quản lý giáo dục một số vấn đề lý luận và thực tiễn” do Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Mỹ Lộc chủ biên cùng với các tác giả xuất bản năm 2012 đã tổng hợp các khái niệm và đưa ra định nghĩa tổng quát nhất về QLGD theo đó “quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch có tổ chức của các cơ quan QLGD các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học – giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra” [18]. Quản lý Nhà trường Đơn vị cơ sở của hệ thống giáo dục là các trường học với đặc trưng là hoạt động dạy học. Dạy học là hoạt động có mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện được tổ chức dưới sự lãnh đạo của các nhà quản lý giáo dục với những hoạt động của người học một cách tự giác, tích cực.
9 Quản lý trường học có thể hiểu là QLGD tại cơ sở, hoặc là quản lý một tổ chức giáo dục trong xã hội. Khái niệm quản lý nhà trường được diễn tả ở nhiều góc độ khác nhau trong các nghiên cứu trong và ngoài nước. Trong cuốn “Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục” xuất bản năm 1984, tác giả M.