Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẦM NON 4 - 5 TUỔI 1. Tổng quan về quản lý giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non 1. Kĩ năng sống cho trẻ mầm non Con người ngay từ khi mới sinh ra đã cần rất nhiều kỹ năng để có thể tồn tại và phát triển, chính vì thế, kỹ năng sống đã được hình thành từ rất sớm. Kỹ năng sống không chỉ đơn thuần là các kỹ năng để con người tồn tại mà nó còn khiến con người có thể tự khẳng định mình và hoà nhập với cộng đồng.
Một trong những đối tượng cần thiết phải được giáo dục và phát triển kĩ năng sống là lứa tuổi mầm non. KNS lần đầu được đề cập đến ở trong Hiến chương Ottwa của WHO về nâng cao sức khoẻ, trong đó có nêu mục “kỹ năng cá nhân” nhằm “hỗ trợ sự phát triển cá nhân và xã hội thông qua cung cấp thông tin, giáo dục sức khoẻ và nâng cao kĩ năng sống. Năm 1996, UNICEF đã nhận thấy việc giáo dục kĩ năng sống là quan trọng, đặc biệt trong vấn đề bảo vệ sức khoẻ và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường. Ở giai đoạn 1, khái niệm kĩ năng sống được giới thiệu chỉ bao gồm các kĩ năng cốt lõi như kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng kiên định và kĩ năng đạt mục tiêu.
Đối tượng chương trình nhắm đến là thanh thiếu niên. Giai đoạn 2 có tên “Giáo dục sống khoẻ mạnh và kỹ năng sống” được tiếp cận đến nhiều đối tượng hơn, trong đó có trẻ mầm non [46], [Dẫn theo 44]. Ở Việt Nam, KNS được hiểu đầy đủ hơn sau khi hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNESCO tài trợ được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 23 đến 25/10/2003. Từ đây, những người làm công tác giáo dục tại Việt Nam hiểu rõ hơn về giá trị của KNS cũng như việc cần thiết phải GDKNS cho con người, đặc biệt là đối tượng mầm non [Dẫn theo 22].
6 Cũng chủ yếu nhằm vào đối tượng mầm non nhằm giúp các em phát huy thế mạnh cũng như phát triển toàn diện, Quang Lân (2018) đã cho ra mắt cuốn sách “Những KNS dành cho lứa tuổi mầm non”. Cuốn tài liệu này góp phần giúp các bậc cha mẹ và GV có những hiểu biết để hướng dẫn bé hiểu và làm quen dần với những công việc như tự chăm sóc bản thân, chơi vui vẻ, hoà thuận với bạn bè hay cách gia tiếp với mọi người để được những người xung quanh yêu thương, tôn trọng… Đây là những KNS rất cần thiết và phải được rèn luyện từ nhỏ cho trẻ [18]. Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non KNS là vô cùng cần thiết với con người, đặc biệt là trẻ mầm non, chính vì thế, giáo dục kĩ năng sống là một trong những yêu cầu cần thiết với nền giáo dục hiện nay. Nhằm đánh giá một chương trình GDKNS cho trẻ mầm non tại trường học, nhà khoa học Gregory và cộng sự (2003) đã nghiên cứu 16 trẻ mầm non độ tuổi 3 - 5.
Các quan sát trong lớp học được tiến hành trong các tình huống khơi gợi để xác định khả năng xảy ra hành vi có vấn đề (không tuân thủ, gián đoạn giọng nói hoặc vận động, gây hấn) và các KNS ở lứa tuổi mầm non. Các nhà khoa học đã triển khai giảng dạy các KNS sau các đánh giá chức năng về hành vi có vấn đề nghiêm trọng hơn, hoặc cả hai. Các kỹ năng được dạy trên lớp trong các hoạt động thường được lên lịch (vòng tròn, chơi tự do, chuyển tiếp, bữa ăn) thông qua hướng dẫn, làm mẫu, đóng vai và phản hồi. Một thiết kế được nghiên cứu lặp lại cho thấy chương trình giúp giảm 74% hành vi có vấn đề và tăng hơn bốn lần các KNS ở lứa tuổi mầm non [40, tr.
Vào năm 2018, tại Embu West, Kenya, các nhà chức trách đã đưa KNS vào chương trình giáo dục mầm non mới nhất của thành phố này. Do vậy, các nhà khoa học là Gatumu và Kathuri đã nghiên cứu nhằm xác định tác động của chương trình KNS đến cuộc sống của trẻ em mầm non ở đây. Mẫu nghiên cứu bao gồm 39 trẻ, 43 GV và 31 phụ huynh tại một trường mầm non được đánh 7 giá khá tốt. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là sử dụng bảng hỏi, phỏng vấn sâu, quan sát và phân tích tài liệu văn bản.
Kết quả cho thấy, giáo viên và phụ huynh đánh giá cao về chương trình KNS như một môn học giúp trẻ em có được các kỹ năng liên quan cho sự trưởng thành, phát triển trong tương lai. Nghiên cứu cũng cho thấy có sự liên hệ chặt chẽ giữa việc thành thạo các KNS và kết quả học tập [39, tr. Tara và Kevin (2018) khi nghiên cứu về vấn đề này cũng thấy rằng cần tối đa hoá việc tiếp thu kĩ năng, cải thiện tính tổng quát, đánh giá tính khả thi của chương trình KNS ở lứa tuổi mầm non để có thể mở rộng hơn đến các đối tượng khác nhau [43, tr. Các nhà khoa học Aishath N.
(2019) đã thực hiện nghiên cứu nhằm tìm hiểu về hiệu quả của các chương trình GSKNS nói chung. Kết quả cho thấy sự khác biệt trong GDKNS ở các nước đang phát triển và các nước phát triển. Nhìn chung, các nước phát triển tiến hành các chương trình GDKNS có hệ thống hơn nhằm thúc đẩy hành vi tích cực, với các kết quả nghiên cứu chỉ ra rõ ràng về từng thanh niên. Ngược lại, phần lớn các chương trình GDKNS của các nước đang phát triển thiếu sự thực hiện, đánh giá và giám sát một cách có hệ thống.
Các chương trình thường được tiến hành chỉ để mang lại kết quả ngắn hạn. Đánh giá này sẽ hữu ích cho các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu và giáo viên để thực hiện các chương trình GDKNS hiệu quả [37, 362 – 379]. Tại Việt Nam, GDKNS cũng rất được coi trọng. Đây là một trong các nội dung cốt lõi của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động trong chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT do Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo kí ngày 22/7/2008 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2008).
Trong hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học số 4945 ngày 18/8/2010, phần Nhiệm vụ cụ thể có nêu “Tăng cường GDKNS cho trẻ (kỹ năng tự phục vụ, thói quen vệ sinh tốt; kỹ năng tự bảo vệ an toàn bản thân; mạnh dạn trong giao tiếp; thân thiện với bạn bè, lễ phép với người lớn tuổi” [2]. 8 Hướng tới đối tượng là cha mẹ trẻ mầm non, Lê Bích Ngọc (2009) cho rằng, đối với trẻ mầm non 5 – 6 tuổi, nên phân loại thành 7 nhóm KNS, mỗi nhóm có nhiều KNS, có hướng dẫn tên gọi. Thông qua các hoạt động, phương tiện, hình thức giáo dục được đưa ra trong tài liệu, cha mẹ trẻ có thể hướng dẫn trẻ để phát triển các nhóm KNS phù hợp [29]. Cùng nghiên cứu về GDKNS, các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Bùi Thị Thuý Hằng (2010) ra mắt cuốn sách “Giáo dục giá trị sống và KNS cho trẻ mầm non”.
Trong cuốn tài liệu này, các tác giả có đề cập đến tâm lý trẻ mầm non, những vấn đề chung về KNS, phương pháp, mục tiêu và cách giáo dục giá trị sống, KNS cho trẻ mầm non [21]. Trong giáo trình GDKNS, Nguyễn Thanh Bình (2011) cũng đã đề cập đến sự cần thiết phải đưa nội dung GDKNS vào đào tạo sư phạm theo phương pháp dạy học tích cực và phương pháp đánh giá theo cách tiếp cận năng lực khi tổ chức dạy – học chuyên đề này [1]. Năm 2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cho phát hành cuốn sách “Hướng dẫn rèn luyện KNS cho trẻ mầm non” nhằm trình bày nội dung, hình thức rèn luyện KNS cho trẻ. Cuốn sách giúp các GV và cha mẹ trẻ mầm non nói chung tham khảo và có thể áp dụng vào quá trình chăm sóc, giáo dục và rèn luyện KNS cho trẻ mầm non tại gia đình và nhà trường [8].
Cũng nghiên cứu về GDKNS cho trẻ mầm non, tuy nhiên, Nguyễn Thị Xuân Hương (2020) lại đi sâu vào nghiên cứu các biện pháp giáo dục kĩ năng tự bảo vệ mình. Mẫu nghiên cứu bao gồm 190 trẻ mầm non và 54 giáo viên ở các trường mầm non TP. Đồng Hới, Quảng Bình. Kết quả nghiên cứu thấy rằng, tại các trường mầm non hiện nay, GDKNS nói chung và kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ nói riêng đã được xây dựng với những nội dung rõ ràng, dễ thực hiện, tuy nhiên, mức độ thực hiện các nội dung còn chưa được thường xuyên, các giáo viên còn thiếu sự linh hoạt, sáng tạo khi truyền tải các nội dung cho trẻ nên chưa đạt hiệu quả như mong muốn [16, tr.
9 Như vậy, có thể nhận thấy, việc GDKNS đã và đang nhận được sự quan tâm nhất định ở cả trong nước và nước ngoài. Lứa tuổi mầm non lại là lứa tuổi bắt đầu hình thành những giá trị nhân cách, giàu trí tưởng tượng, thích khám phá, tuy nhiên, kinh nghiệm sống còn ít. Chính vì thế, việc GDKNS cho trẻ mầm non thật sự là cần thiết, giúp định hướng trẻ phát triển toàn diện. Quản lý giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non theo hướng phối hợp nhà trường với gia đình và xã hội GDKNS là vô cùng quan trọng, song việc quản lý nó cũng là một vấn đề quan trọng không kém.
Đối với các nước phương Tây, việc quản lý GDKNS được vận dụng theo quan điểm của các tổ chức như WHO, WTO để giúp các em tiếp cận dễ dàng nhất với các KNS. Tuy nhiên, với các nước Châu Á – Thái Bình Dương, việc nghiên cứu KNS còn mới, chưa có thử nghiệm nhiều thì việc quản lý về GDKNS thường thông qua việc tích hợp vào các môn khoa học xã hội như đạo đức, giáo dục công dân, giáo dục giới tính, giáo dục quyền con người…. Tại Việt Nam, việc quản lý GDKNS được quy định trong các Thông tư, Quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Vào năm 2014, Thông tư 04/2014/TT – BGDĐT đã Ban hành quy định quản lý hoạt động GDKNS và hoạt động ngoài giờ chính khoá.
Thông tư yêu cầu về cơ sở vật chất cần có phòng học, phòng chức năng có đủ ánh sáng, đảm bảo vệ sinh trường học theo quy đinh; thiết bị dạy học phải phù hợp với nội dung và đối tượng dạy học; giáo trình, tài liệu phải được Bộ ban hành hoặc phê duyệt.