Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh lớp 2 ở các trường tiểu học theo tiếp cận tham gia Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh lớp 2 tại các trường tiểu học huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ theo tiếp cận tham gia. Chương 3: Một số biện pháp quản lý Hoạt động trải nghiệm cho học sinh lớp 2 tại các trường tiểu học huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ theo tiếp cận tham gia. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH LỚP 2 Ở CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC THEO TIẾP CẬN THAM GIA 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.
Những nghiên cứu trên thế giới Trải nghiệm được coi là phương pháp, xu hướng giáo dục được các nhà tâm lí giáo dục coi trọng từ xưa đến nay, chẳng hạn như: Rabơle cho rằng, “Trí dục, đạo đức, thể chất và thẩm mỹ là những nội dung của giáo dục” đồng thời theo tác giả, các hình thức giáo dục cũng cần tiến hành đa dạng: Học ở lớp; học ở nhà; tham quan nhà xưởng, các cửa hàng, tiếp xúc với các nhà văn, nghị sĩ; nhất là mỗi tháng một lần thầy và trò về sống ở nông thôn một ngày [27]. Theo tác giả Crupxcaia để đào tạo con người phát triển toàn diện, cần quan tâm tới tất cả mọi mặt giáo dục: Đức, trí, thể, mỹ, quân sự, lao động, kỷ luật tổng hợp [33]. Makarenco cho rằng, một trong những logic của quá trình sư phạm là “Quá trình tổ chức hợp lý hoạt động của HS tham gia vào CMXH, lao động sản xuất [dẫn theo 33]. John Dewey, kinh nghiệm và giáo dục đã chỉ ra hạn chế của giáo dục nhà trường và đánh giá cao vai trò của kinh nghiệm trong giáo dục.
Kinh nghiệm giáo dục có ý nghĩa giáo dục giúp việc nâng cao hiệu quả giáo dục bằng cách kết nối người học và những kiến thức được học với thực tiễn cuộc sống [40]. Kinh nghiệm mà trẻ tiếp thu được qua trải nghiệm không chỉ là kiến thức, mà còn là kĩ năng hoạt động với các đối tượng và kĩ năng tương tác với người 7 khác, qua đó sẽ để lại các dấu ấn cảm xúc về các về các tình huống đã trải qua. Bước sang những năm đầu của thế kỉ XXI, lí thuyết học tập trải nghiệm của Kolb vẫn được coi trọng và ghi nhận là phương thức học tập hiệu quả nhằm phát triển năng lực cho người học. Các phiên bản mới của học tập trải nghiệm thế kỉ XXI có thể nói tới như: Colin M.
Beard, John Peter Wilson (2006); Melvin L. Wurdinger và Julie A. được phát triển theo hướng vận dụng lý thuyết học tập trải nghiệm vào học tập, giảng dạy khác nhau. Việc vận dụng mô hình học tập trải nghiệm của các nghiên cứu kinh điển từ trước đến nay trở nên linh hoạt hơn, nhưng vẫn đảm bảo các yếu tố cơ bản của học tập trải nghiệm.
Những vấn đề trọng tâm nhất của các mô hình học tập trải nghiệm cổ điển, lý thuyết học tập trải nghiệm như: Quan niệm về học tập, đặc điểm của học tập trải nghiệm, chu trình học tập trải nghiệm; từ đó, đưa ra một số định hướng vận dụng vào thiết kế, tổ chức HĐTN trong môn học ở trường phổ thông [39]. Chúng ta thấy, nhiều khía cạnh khác nhau của HĐTN đã được các nghiên cứu trên thế giới đề cập đến, điều cơ bản nhất là các nghiên cứu đã khẳng định rằng việc tham gia các HĐTN trong thực tế sẽ tạo cho HS những cơ hội để thoả sức sáng tạo, để HS “dám nghĩ, dám làm”. Những nghiên cứu ở Việt Nam 1. Các nghiên cứu về tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh Ở Việt Nam, HĐTN trong các nhà trường luôn được quan tâm, nhiều bài viết, học giả cũng đã nghiên cứu, trao đổi về vấn đề này.
Trong Chương trình GDPT mới do Bộ GD&ĐT ban hành năm 2018 [5], một trong những điểm mới nổi bật của Chương trình GDPT 2018 là chương 8 trình đã xây dựng theo mô hình phát triển phẩm chất, năng lực cho HS, thông qua HĐTN để tăng cường những kiến thức cơ bản, thiết thực, các phương pháp tích cực giúp HS hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực mà nhà trường và xã hội kỳ vọng. Bộ GD&ĐT, Tài liệu tập huấn kỹ năng xây dựng và tổ chức các HĐTN sáng tạo trong trường tiểu học và Tài liệu tập huấn kỹ năng xây dựng và tổ chức các HĐTN sáng tạo trong trường trung học đã tập trung nêu nội dung HĐTN trong trường tiểu học và trường trung học; đồng thời cũng chỉ ra hình thức tổ chức, phương pháp dạy học theo HĐTN trong trường tiểu học và trường trung học trong chương trình sách giáo khoa mới; kỹ năng tổ chức triển khai, hỗ trợ việc học của học sinh, đánh giá kết quả tập huấn đại trà về hoạt động giáo dục trải nghiệm trong trường tiểu học và trường trung học qua mạng thông tin trực tuyến [4]. Nguyễn Thị Hằng, Nguyễn Thị Kim Dung, Quan niệm về HĐTN sáng tạo và một số hình thức tổ chức HĐTN sáng tạo cho HS phổ thông. Các tác giả coi HĐTN sáng tạo là hoạt động mang đậm tính tập thể dựa trên tinh thần tự chủ cá nhân, cùng với sự nỗ lực giáo dục giúp phát triển sáng tạo và cá tính riêng của mỗi một cá nhân trong một tập thể [22].
Tác giả Đinh Thị Kim Thoa, HĐTN sáng tạo - Hoạt động quan trọng trong chương trình GDPT mới, đã từng đề cập đến sự khác biệt giữa học đi đôi với hành, học thông qua việc làm và học từ trải nghiệm thực tế: Thực hành, trải nghiệm đều là phương thức học hiệu quả nhất, gắn với vận động, với thao tác vật chất và gắn với đời sống hiện thực [34]. Đỗ Ngọc Thống, HĐTN sáng tạo từ kinh nghiệm giáo dục quốc tế và vấn đề của Việt Nam [35], đã phân tích những kinh nghiệm giáo dục HĐTN của một số nước cụ thể là Anh, Hàn Quốc để từ đó liên hệ với Việt Nam. Trần Văn Tính, Đánh giá năng lực người học qua HĐTN sáng tạo, luận án tiến sỹ giáo dục học, đã đề cập trong HĐTN sáng tạo, đánh giá HS 9 và đánh giá chương trình HĐTN sáng tạo là vô c ng quan trọng. Tác giả cũng cho rằng, GV cần phải xây dựng rõ quy trình đánh giá năng lực, phẩm chất thông qua các HĐTN sáng tạo, cần xác định được mục đích chính của việc đánh giá các kết quả hoạt động.
Đồng thời, cũng cần xây dựng cách thức và công cụ thu thập các thông tin; phân tích và xử lí thông tin; xác nhận kết quả,… [37]. Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh Một số tác giả đã nghiên cứu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm sáng tạo gắn với các địa bàn cụ thể như: Tác giả B i Tố Nhân (2015) đã nghiên cứu Quản lý HĐTN sáng tạo tại các trường trung học cơ sở thuộc quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đề xuất các biện pháp: Bồi dưỡng đội ngũ GV nhà trường các hình thức, phương pháp tổ chức HĐTN sáng tạo; Xây dựng chương trình HĐTN sáng tạo theo hướng phát triển năng lực; Quản lý sự phối kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong HĐTN sáng tạo; Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả chương trình HĐTN sáng tạo… Tác giả Nguyễn Thị Nghĩa (2018) trong công trình Quản lý HĐTN của HS trường tiểu học Vân Phú thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã hệ thống hóa Cơ sở lý luận về quản lý HĐTN của HS trường tiểu học Vân Phú thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ Cơ sở lý luận và thực tiễn tác giả đã xây dựng và đề xuất các biện pháp quản lý, các biện pháp nhằm hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực. Tác giả Trần Thị Thanh Thủy (2019) nghiên cứu tổ chức HĐTN cho HS ở các trường tiểu học Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, đã đánh giá những tồn tại trong tổ chức HĐTN và đề xuất các biện pháp: Nâng cao nhận thức cho GV và CBQL về HĐTN và tổ chức HĐTN cho HS trong nhà trường tiểu học; Bồi dưỡng cho GV về kỹ năng tổ chức HĐTN cho HS; Kế hoạch hóa tổ chức HĐTN cho HS ph hợp với điều kiện của nhà trường; Phối hợp với các 10 lực lượng GD ngoài nhà trường trong tổ chức HĐTN cho HS tiểu học.
Những nghiên cứu trong nước và trên thế giới cho thấy, có nhiều cách tiếp cận, nhiều mô hình, nhiều hình thức tổ chức HĐTN và quản lý HĐTN khác nhau, nhưng hầu hết đều thống nhất nhận định về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của HĐTN trong dạy học đối với HS, đây là một trong những con đường cơ bản để phát triển năng lực người học. Trong các công trình nghiên cứu trên, chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý Hoạt động trải nghiệm cho học sinh lớp 2 tại các trường tiểu học theo tiếp cận tham gia. Chính vì vậy, trong điều kiện công tác của bản thân, tác giả lựa chọn nội dung “Quản lý Hoạt động trải nghiệm cho học sinh lớp 2 tại các trường tiểu học huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ theo tiếp cận tham gia” làm đề tài luận văn Thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý Xét về mặt lịch sử, vấn đề “Quản lý” đã ra đời và xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử nhân loại. Chúng ta đã biết, từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý của con người cũng được hình thành với tư cách là một quá trình lịch sử mang tính khách quan. Ngày nay, cũng có nhiều cách hiểu khác nhau với vấn đề về quản lý. Chủ nghĩa Mác – Lenin đã cho rằng, Quản lý là sự tác động có ý thức của các chủ thể đối với toàn bộ hệ thống xã hội, trên cơ sở vận dụng một cách đúng đắn và khách quan xu thế tất yếu của lịch sử để đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển một cách tối ưu theo mục đích đã đặt ra.
Theo tác giả Taylor thì quản lý được hiểu là biết được chính xác điều mình muốn người khác thực hiện và sau đó có thể thấy được kết quả họ đã hoàn thành một cách tốt nhất, rẻ nhất. Đối với ông tổ của lý luận cổ điển - Henry Fayol khi bàn về thuật từ quản lý, ông lại cho rằng: Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, kiểm tra.