CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH LỚP 1 TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO TIẾP CẬN THAM GIA 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm cho học sinh theo tiếp cận tham gia HĐTN là chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới. Kolb (1984) định nghĩa HĐTN là “một quá trình trong đó kiến thức được tạo ra thông qua chuyển đổi kinh nghiệm” [21, tr.38], từ đó cung cấp một “sự hiểu biết toàn diện quan điểm tích hợp về học tập kết hợp kinh nghiệm, nhận thức và hành vi”.
HĐTN được coi là một kỹ năng then chốt, thậm chí là một lợi thế trong thời đại hiện nay, vì nó liên quan đến việc áp dụng tích cực những gì đã được học và tích cực tham gia vào việc học và thế giới công việc [27]. Bản chất của học tập trải nghiệm là các giai đoạn trải nghiệm (làm), phản ánh và áp dụng đều có mặt. Trong học tập trải nghiệm, yếu tố then chốt là học sinh có vị trí học tập đã xảy ra [10]. Ngoài ra, các giai đoạn phản ánh và ứng dụng là những gì làm cho việc học tập trải nghiệm trở nên khác biệt và mạnh mẽ hơn so với các mô hình thường được gọi là “vừa học vừa làm” hoặc “học qua thực hành” [9].
Một số nghiên cứu đã được công bố liên quan đến học sinh tiểu học (6– 12 tuổi), cho thấy HĐTN có thể hỗ trợ việc học kiến thức khoa học cơ bản, bao gồm vật lý của vật thể rơi [23]; bay hơi và đông tụ [35]; và nhiệt độ [37]. Vương và Tăng (2018) nghiên cứu 208 trẻ em Đài Loan 8 và 9 tuổi, so sánh hiệu quả của HĐTN trong phát triển kiến thức của học sinh về sự thay đổi pha của nước ở cấp độ phân tử, kết luận rằng HĐTN đã hỗ trợ việc xây dựng kiến thức bằng cách làm cho các khái niệm trừu tượng trở nên rõ ràng hơn và nói chung, “Học sinh tiểu học có thể hưởng lợi từ việc học (kiến thức khoa học) thông qua nhiều cách trình bày” [36]. Phát hiện này nhất quán với các nghiên cứu tương tự liên quan đến học sinh lớn tuổi hơn (ví dụ: [20,38]), cho thấy lợi ích tồn tại từ việc sử dụng HĐTN trong học tập khoa học. 7 Nghiên cứu về HĐTN trong việc dạy và học toán của học sinh quận SDN 01 Banjarwaru Bogor, Fatmanisa nhận định ứng dụng dạy học qua HĐTN các mô hình trong toán học có tác động đến việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh [12].
Cũng nghiên cứu hiệu quả của dạy học trải nghiệm môn Toán đối với năng lực nhận thức Toán của 28 học sinh lớp 5 ở bậc tiểu học, Mutmainah chứng minh việc sử dụng tài liệu dạy học Toán qua HĐTN có tác dụng nâng cao năng lực nhận thức Toán của các học sinh [26]. Vận dụng phương pháp HĐTN vào các tiết học môi trường ở tiểu học, Husin (2013) cho rằng phương pháp này được sử dụng rất phù hợp, đồng thời góp phần giúp cải thiện kết quả học tập của học sinh THPT. Các phát hiện của Piščalkienė và Lottrup (2019) trong nghiên cứu về HĐTN theo tiếp cận tham gia thông qua các giờ học thực tế tại làng nổi Baltic nhấn mạnh rằng việc tham gia vào các tiết học theo hình thức HĐTN đã mang lại nhiều lợi ích cho học sinh trong việc phát triển các kỹ năng mềm như việc phát triển ý tưởng, sáng tạo, thu hút sự tham gia của cộng đồng ngôn ngữ, giao tiếp, ngôn ngữ, tri thức đa văn hóa văn hóa. Ngoài ra, HĐTN theo các tác giả có nhiều tác động tích cực đến thái độ và hành vi cá nhân, chẳng hạn như cải thiện thói quen thể chất để bản thân năng động hơn và khả năng tương tác xã hội [28].
Nghiên cứu về ảnh hưởng của HĐTN theo tiếp cận tham gia tại một ngôi làng vùng sâu tại Tazania, Roberts và c. (2015) cho rằng HĐTN theo tiếp cận tham gia có tác động tích cực tới hành vi của học sinh thông qua việc tăng cường đi học, tự tin, tự trọng và tham gia tích cực trong khi giáo viên kết hợp các phương pháp giảng dạy có sự tham gia trong lớp học của họ. Mặt khác, HĐTN theo tiếp cận tham gia cũng bao gồm nhiều yếu tố tạo nên sự đồng thuận ủng hộ của người dân trong làng, lãnh đạo trường học và chính phủ đối với chương trình bao gồm sự tham gia của cộng đồng và chính phủ, việc tạo ra một cộng đồng người học, hỗ trợ theo dõi nhất quán cho giáo viên và củng cố những kỳ vọng [31]. Cheng và Tsai (2019) nghiên cứu về 24 học sinh tiểu học tham gia vào một HĐTN thực tế ảo nằm trong khuôn khổ trại hè kéo dài 2 tuần về chủ đề học tập xã hội.
Trải nghiệm học tập của học sinh (tức là sự hiện diện được nhận thức, sự thay đổi niềm tin về động cơ và thái độ) đã được điều tra và các hành vi tương tác giữa giáo viên và học sinh trong hoạt động học tập đã 8 được khám phá. Kết quả cho thấy động lực của học sinh nhìn chung được nâng cao, đặc biệt là giảm bớt sự lo lắng khi thi. Vai trò quan trọng của nhận thức về sự hiện diện không gian và chủ nghĩa hiện thực được trải nghiệm đối với niềm tin mang tính động lực của học sinh cũng được đề cao [6]. Nghiên cứu về HĐTN theo tiếp cận tham gia cho 94 trẻ em khuyết tật, Richards và c.
Các nghiên cứu về quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh theo tiếp cận tham gia HĐTN và quản lý HĐTN từ lâu đã được nhiều nhà nghiên cứu và học giả quan tâm trong các công trình nghiên cứu lí luận dạy học, quản lý giáo dục. Bùi Ngọc Điệp (2015) cho rằng HĐTN là hoạt động giáo dục thiết thực được thực hiện song song với hoạt động dạy học ở trường THCS và nhấn mạnh mỗi HĐTN đều có tầm quan trọng giáo dục nhất định [11]. Hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định HĐTN có ý nghĩa, vai trò rất quan trọng trong việc hình thành, phát triển nhân cách học sinh và là nhân tố then chốt trong việc nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục kỹ thuật và hình thành thái độ mới. Đinh Thị Kim Thoa (2013) nêu lên lý luận về HĐTN qua văn học dân gian Việt Nam, đồng thời đưa ra những biện pháp thực tiễn triển khai HĐTN trong dạy học văn học dân gian [33].
Phạm Thị Minh An (2016) khái quát được cơ sở lý luận về quản lý HĐTN ở trường THPT, xây dựng được hệ thống các khái niệm công cụ: quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý hoạt động giáo dục, phương pháp dạy học, xây dựng được hệ thống các cơ sở lý luận về HĐTN, từ đó đưa ra khái niệm HĐTN dựa trên mô hình học tập trải nghiệm của David Kolb [1]. Nguyễn Thị Việt Hà (2024) nghiên cứu về quản lý HĐTN cho học sinh THCS lý giải các 9 nội dung cơ bản của quản lý HĐTN cho học sinh trung học phổ thông và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến yếu tố này [10]. Phan Thị Tuyết Mai (2020) góp phần làm rõ cơ sở lý luận về quản lý HĐTN của học sinh tiểu học và mô tả thực trạng công tác quản lý HĐTN ở các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Trà Vinh nêu bật những điểm mạnh, điểm yếu của hoạt động này và đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả HĐTN cho học sinh tiểu học ở thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh. Bàn về quản lý HĐTN theo hướng phối hợp các lực lượng được nhiều tác giả đề cập trong các bài báo, tạp chí, sách chuyên khảo, luận văn… Cao Hữu Công (2015) đánh giá tầm quan trọng vá ý nghĩa của phối hợp giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác quản lý hoạt động giáo dục môi trường.
Ngoài ra tác giả còn khảo sát, đánh giá và kết luận về thực trạng giáo dục môi trường cho HS ở một số trường tiểu học tại thành phố Đà Nẵng [7]. Nguyễn Thị Thanh Hương (2016) xây dựng cơ sở lý luận của quản lý phát triển chương trình HĐTN sáng tạo cho HS tiểu học thông qua khảo sát thực trạng quản lý phát triển chương trình HĐTN sáng tạo tại trường tiểu học Văn Chương. Từ đó, Nguyễn Thị Diệu Thúy (2016) trong luận văn “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường trung học cơ sở Sài Đồng, quận Long biên, Thành phố Hà Nội” đã nghiên cứu động giáo dục kỹ năng sống thông qua HĐTN cho HS các trường tiểu học quận Long Biên thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay, từ đó đề xuất các biện pháp nâng cao sự phối hợp giữa các chủ thể trong và ngoài nhà trường nhằm đạt được hiệu quả giáo dục tối đa [34]. Bàn về quản lý HĐTN theo hướng phối hợp các lực lượng được nhiều tác giả đề cập trong các bài báo, tạp chí, sách chuyên khảo, luận văn…Tác giả Lê Thanh Hải, (2021) với bài viết “Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học” đã nghiên cứu lý luận cơ bản về quản lý hoạt động giáo dục môi trường, quan niệm về lực lượng giáo dục ngoài nhà trường.
Ngoài ra tác giả còn khảo sát, đánh giá và kết luận về thực trạng giáo dục môi trường cho HS ở một số trường tiểu học tại thành phố Đà Nẵng [15]. Triệu Thị Hằng (2016) trên cơ sở nghiên cứu lí luận và khảo sát thực 10 trạng quản lý, tác giả khảo sát và chỉ ra thực trạng quản lí hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ học bán trú tại trường mầm non Hoa Hồng, Đống Đa, Hà Nội theo hướng phối hợp các lực lượng giáo dục và các yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng quản lý hoạt động này. Từ đó, tác giả đề xuất một loạt biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ ở các trường mầm non Hoa Hồng, Đống Đa và Hà Nội trong sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục, giúp nâng cao chất lượng giáo dục mầm non đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục [16]. Có thể thấy, các nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau trong công tác quản lý HĐTN trong nhà trường và sự phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài trường.
Các bài viết có tìm hiểu HĐTN và đề xuất nhiều biện pháp nhằm tối ưu hóa triệt để và nâng cao chất lượng dạy, học và quản lý.