CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP VÀ HỢP TÁC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Tổng quan những nghiên cứu về quản lý HĐTN ở trường tiểu học 1. Những nghiên cứu về HĐTN theo hướng phát triển năng lực. Trên thế giới Để phát triển NL của học sinh các nhà khoa học cho rằng chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như môi trường học tập, chương trình học tập, phương pháp học tập….
Trong đó, có tác giả cho rằng môi trường học tập chịu ảnh hưởng của bối cảnh quốc gia như Anne Gilleran và Caroline, Wege. Hay như Lev Vygotsky lại cho rằng bản chất của việc học tập vốn là được trải nghiệm vào một môi trường văn hóa cụ thể, ở đó người học sẽ phải thích nghi, hình thành các chuẩn, hành vi, kỹ năng, niềm tin, ngôn ngữ, thái độ phù hợp với bối cảnh. Các nhà khoa học cũng thống nhất cao với quan điểm khi tham gia vào một nhóm thực hành người học sẽ có thể được trải nghiệm nhiều hơn. Nhiều nước phát triển trên thế giới đã lựa chọn cách tiếp cận quan điểm NL đi đôi với khả năng và nguyện vọng của người học để xây dựng chương trình và gặt hái được nhiều thành công.
Các chương trình giáo dục của Vương quốc Anh tập trung vào hai kỹ năng thiết yếu mà học sinh cần có, kỹ năng chức năng và cá nhân, tư duy và học tập, đồng thời cam kết mang lại cơ hội thành công, thu hút tất cả học sinh và tập trung vào hai nhiệm vụ quan trọng: phát triển toàn diện các năng lực trí tuệ và tinh thần. Và các em có thể tiếp thu, trải nghiệm, trải nghiệm các kỹ năng đạo đức, kỹ năng xã hội, văn hóa và thể chất để tạo cơ hội cho tương lai. Chương trình nhằm mục đích cá nhân hóa các kỹ năng của người học thông qua tác động tích cực. 6 Các chương trình giáo dục tại Hàn Quốc nhằm mục đích giúp người học phát triển nhân cách, kiến thức và kỹ năng của riêng họ.
Khám phá con đường sự nghiệp với kiến thức và sự hiểu biết; tạo ra giá trị mới dựa trên di sản văn hóa Hàn Quốc và để làm cho cộng đồng tốt hơn với tư cách là một công dân. Các mục tiêu trên khuyến khích khả năng sáng tạo của các cá nhân trong quá trình áp dụng kiến thức và kỹ năng của họ để tạo ra giá trị mới và cải thiện cộng đồng của họ. Quá trình phát triển được thể hiện rõ ràng trong mục tiêu từng cấp học. Chương trình này dành cho các trường tiểu học được thiết kế để giúp học sinh phát triển thể chất và tinh thần của cá nhân.
Phát triển các kỹ năng sống cơ bản và cho phép thể hiện cảm xúc và suy nghĩ của mình thông qua các phương tiện giao tiếp khác nhau. Khám phá sở thích và khả năng; Di sản và đánh giá cao di sản văn hóa truyền thống Hàn Quốc; rèn luyện lối sống lành mạnh và tình yêu quê hương, đất nước. Trong quá trình hình thành kĩ năng sống, học sinh được phát triển toàn diện nhiều loại kỹ năng. Chương trình giáo dục của Pháp nêu rõ mục đích của giáo dục bắt buộc là đảm bảo tối thiểu mỗi học sinh được cung cấp những công cụ cần thiết để đạt được một nền tảng chung, bao gồm toàn bộ kiến thức và kỹ năng thiết yếu.
Thành công ở trường đòi hỏi phải tiếp tục giáo dục, định hình tương lai cá nhân và nghề nghiệp và thành công trong cuộc sống. Các quy tắc về năng lực được trình bày rõ ràng trong khung kiến thức cơ bản và năng lực dành cho học sinh, bao gồm 7 năng lực chính: sử dụng được một ngoại ngữ khác; Các yếu tố cơ bản của toán học và văn hóa, khoa học và công nghệ. Có được các kỹ năng công nghệ thông tin cơ bản; văn hóa nhân văn, kỹ năng xã hội và công dân, tự chủ và sáng tạo, Mỗi năng lực này mô tả rất cụ thể mối quan hệ giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ. Đây là những năng lực xuyên suốt, đồng thời là năng lực đầu ra đáp ứng yêu cầu của quá trình giáo dục thông qua việc tích hợp có chọn lọc các chủ đề học tập toàn diện, liên môn liên quan đến nội dung, môn học và thực hành.
7 Trong các nghiên cứu của mình David Kolb đã đề cập đến chu trình học tập từ trải nghiệm. Ông cho rằng cần có một số điều kiện để kinh nghiệm học tập được chính xác như người học phải sẵn sàng tham gia trải nghiệm tích cực, có khả năng suy nghĩ về những gì mình đã trải qua và sử dụng kỹ năng phân tích để khái quát hóa các kinh nghiệm có được; cũng như phải có kĩ năng ra quyết định, giải quyết vấn đề. Học tập từ trải nghiệm theo David Kolb có sáu đặc điểm chính:“Học tốt nhất chú trọng đến quá trình chứ không phải kết quả; Học là một quá trình liên tục trên nền tảng kinh nghiệm; Học tập đòi hỏi việc giải quyết xung đột giữa mô hình lý thuyết với cuộc sống thực tiễn; Học là sự kết nối giữa con người với môi trường; Học là quá trình kiến tạo ra tri thức, là kết quả của sự chuyển hóa giữa kiến thức xã hội và kiến thức cá nhân” [28]. Bisson và Luckner thông qua nghiên cứu của mình đã thấy rằng trong và sau quá trình tham gia trải nghiệm, người học cảm thấy thích thú, thoải mái, tăng cảm xúc bản thân, giảm stress, giảm rào cản xã hội giữa các cá nhân và giảm sự ganh đua tiêu cực giữa học sinh giỏi và học sinh yếu.
Jonh Deway cho rằng quá trình sống và giáo dục là một, trong quá trình đó con người không ngừng thu lượm và cải tiến kinh nghiệm nên trẻ em phải học tập trong chính cuộc sống xã hội và đúc kết thành tư tưởng “Học qua làm, học bắt đầu từ làm”. Giáo dục Việt Nam muốn đổi mới theo hướng phát triển năng lực người học đáp ứng yêu cầu của sự phát triển toàn cầu thì những tư tưởng giáo dục thể hiện trong các nghiên cứu trên là những kinh nghiệm quý giá để chọn lọc, vận dụng phù hợp. Ở Việt Nam Vấn đề dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường đã được các nhà giáo dục thời phong kiến như Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Kiêm, Lê Quý Đồng đặt ra. Trong giai đoạn cách mạng, việc tham khảo triết lý giáo dục, quan điểm về giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt 8 quan trọng.
Năm 1945, Bác ra chỉ thị khẳng định: “Việc học ở trường có ảnh hưởng lớn đến tương lai của thanh niên, mà thanh niên là tương lai của nước nhà”. Với quan điểm giáo dục này, trong giai đoạn phát triển mới của thập niên 90 thế kỷ 20, công cuộc đổi mới giáo dục nhà trường bắt đầu được thực hiện lấy phát triển năng lực học sinh làm trung tâm. Trên tạp chí Khoa học giáo dục số 113 và 115 năm 2015, tác giả Bùi Ngọc Diệp đã đăng bài viết “Các hình thức tổ chức hoạt động sáng tạo ở trường phổ thông” [8]. Trong bài báo này, các hoạt động trải nghiệm được gọi là hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nhưng sau đó được đổi thành hoạt động trải nghiệm.
Tác giả Đỗ Ngọc Thống có bài viết “Kinh nghiệm giáo dục quốc tế về các hoạt động TNST từ góc nhìn các vấn đề ở Việt Nam”[30]. Trong đó đề cập đến kinh nghiệm của Hàn Quốc, Singapo về thiết kế, tổ chức hoạt động trải nghiệm trong chương trình giáo dục phổ thông. Tháng 4/2015 tác giả Đinh Thị Kim Thoa đã có bài viết “Xây dựng chương trình trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông” tại Hội thảo khoa học quốc tế được Học viện QLGD tổ chức về giáo dục phát triển năng lực đã được công bố. Bài viết này tác giả phân tích về vị trí, mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức và điểm mạnh, cách thức các nước trên thế giới có thể tận dụng và tổ chức hợp tác sáng tạo, các biện pháp áp dụng ở Việt Nam [29].
Tác giả Huỳnh Thị Thu Nguyệt đã thực hiện nghiên cứu luận văn thạc sĩ “Quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo hướng tổ chức hoạt động sáng tạo”. Các nghiên cứu này chủ yếu liên quan đến trách nhiệm của giáo viên, đưa ra lời khuyên cho giáo viên về cách tổ chức hoạt động TN sáng tạo cho học sinh cũng như quản lý hoạt động TN sáng tạo của học sinh [9]. Tài liệu tập huấn Kỹ năng xây dựng và tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường phổ thông của Bộ GD&ĐT đề cập đến phương pháp, hình thức tổ chức HĐTNST cho học sinh tiểu học [4]. Hiệu quả của việc tiến hành TN cho HS còn hạn chế do chưa xác định 9 rõ mục đích cho HS.
Vì vậy, sau khi nhìn nhận toàn diện hoạt động TNST và làm rõ trách nhiệm của từng nhà trường, cần tiếp tục nghiên cứu chính sách quản lý hoạt động này tương ứng với hoàn cảnh cụ thể của nhà trường ở từng cấp học, từng vùng miền. Tác giả Nguyễn Thu Hoài đã mô tả quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh phổ thông và đề xuất những giải pháp phát huy năng lực người học (2014). Nhà nghiên cứu Đinh Thị Kim Thoa đã đề xuất nội dung, các tiêu chí đánh giá năng lực hoạt động trải nghiệm sáng tạo của học sinh phổ thông [28]. Các nghiên cứu đã có quan tâm đến một số khía cạnh cụ thể về HĐTN và quản lý HĐTN, song, còn ít công trình đi sâu nghiên cứu, hoàn thiện hình thức và phương pháp tổ chức các HĐTN; biện pháp quản lý HĐTN trong các nhà trường một cách toàn diện, phù hợp, hiệu quả.
Điều này đòi hỏi giáo viên phải tự làm mới mình, nâng cao kiến thức và đổi mới phương pháp, hình thức dạy học cho phù hợp. Hơn nữa, điều này cũng chỉ ra các nhà quản lý, các khoa và các trường cần đổi mới phương pháp lựa chọn đội ngũ đào tạo giáo viên và giảng viên để nâng cao chất lượng và năng lực của các giáo viên và giảng viên tương lai. Các nghiên cứu về quản lý HĐTN theo hướng phát triển năng lực trong trường tiểu học Trong quản lý trường tiểu học, quản lý các hoạt động giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt, là nhân tố quyết định chất lượng nhà trường và sự phát triển bền vững của giáo dục tiểu học.