Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 2 thông qua hoạt động trải nghiệm tại các trƣờng Tiểu học Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 2 thông qua hoạt động trải nghiệm tại các trƣờng tiểu học thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội Chương 3: Các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 2 thông qua hoạt động trải nghiệm tại các trƣờng Tiểu học thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 2 THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TẠI CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Theo WHO, giáo dục KNS xuất hiện ở hàng loạt các chƣơng trình giáo dục nhƣ phòng ngừa lạm dụng chất gây nghiện, mang thai tuổi vị thành niên, phòng ngừa bắt nạt, … Giáo dục KNS thông qua các chƣơng trình đã thể hiện giá trị của các KNS, gắn liền với cuộc sống hàng ngày trong việc thúc đẩy, đảm bảo sức khỏe tinh thần, thể chất, mối quan hệ xã hội và hành vi của mỗi ngƣời.
Năm 1993 - 1997, WHO đã đƣa ra hƣớng dẫn thực hiện chƣơng trình giáo dục KNS cho trẻ em và trẻ vị thành niên, hƣớng đến kết hợp thực hiện giáo dục KNS trong các trƣờng học. Các cam kết quốc tế về KNS đã đƣợc đƣa vào các văn kiện quan trọng trên toàn cầu cũng nhƣ trong các chính sách và chiến lƣợc của nhiều quốc gia. Điều này đã dẫn tới sự mở rộng nhanh chóng các sáng kiến về giáo dục KNS với nhiều nội dung, quy mô, cách tiếp cận, thực hiện giáo dục KNS phong phú. UNICEF đã đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ việc giới thiệu giáo dục KNS thông qua các hƣớng dẫn về KNS, giáo dục KNS.
Giáo dục KNS đã đƣợc đƣa vào các trƣờng học chính quy theo nhiều cách khác nhau, theo chủ đề mới, hoặc đƣợc kết hợp giảng dạy trong các môn học ở mức độ khác nhau. UNESCO đã đƣa ra nguyên tắc cơ bản để định hƣớng giáo dục kỹ năng sống trong thực tiễn: “Tất cả thế hệ trẻ và người lớn có quyền hưởng lợi từ một nền giáo dục chứa đựng các hợp phần học để biết, học để làm, học để chung sống với mọi người và học để khẳng định mình. Giáo dục hướng tới yêu cầu bồi dưỡng năng khiếu tiềm năng và phát triển cá tính người học cần quan tâm kết hợp kỹ năng thực hành và các khả năng tâm lí xã hội, đánh giá chất lượng giáo dục phải bao hàm đánh giá mức độ đạt được các kỹ năng sống và tác dụng của kỹ năng sống đối với xã hội và cá nhân”. 9 Ở khu vực Đông Nam Á, những năm đầu thập niên 90, một số nƣớc Châu Á nhƣ: Ấn Độ, Lào, Indonexia, Thái Lan, … cũng đã nghiên cứu và triển khai chƣơng trình dạy KNS ở các bậc học phổ thông.
Các nƣớc đã xây dựng, thiết kế chƣơng trình giáo dục và trang bị KNS, nhƣ tích hợp, lồng ghép vào chƣơng trình dạy học, vào các môn học và các chƣơng trình khác. Mặc dù cùng xuất phát từ quan niệm chung về KNS của UNESCO hoặc WHO, nhƣng quan niệm và nội dung giáo dục KNS ở các nƣớc không giống nhau, thể hiện những nét đặc thù chung và nét riêng của từng quốc gia. Nhìn chung việc triển khai giáo dục KNS ở các quốc gia chƣa thật toàn diện và sâu sắc, còn thiếu kinh nghiệm và chƣa có hệ thống tiêu chí đánh giá chất lƣợng KNS. Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho thế hệ trẻ đã thu hút nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó khoa học giáo dục có vai trò, trọng trách lớn cả về nghiên cứu lý luận lẫn triển khai thực tiễn giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên phù hợp với thực tiễn giáo dục nƣớc nhà.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác giáo dục thiếu nhi. Trong bài báo "1- 6" ký tên C.B đăng trên báo Nhân dân số ra ngày 01/6/1955, Bác đã đề ra nội dung giáo dục toàn diện đối với học sinh bao gồm: thể dục, trí dục, mỹ dục, đức dục. Bác đã đƣa ra quan điểm giáo dục thiếu nhi đó là: "Trong quá trình giáo dục thiếu nhi phải giữ toàn vẹn cái tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng và trong lúc học, cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học". Bác yêu cầu: "Cách dạy phải nhẹ nhàng và vui vẻ, chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của ngƣời lớn".
Với nguyên lý giáo dục "Học đi đôi với hành, giáo dục gắn liền với thực tiễn, nhà trƣờng gắn liền với xã hội", Bác đã từng nói: "Giáo dục phải theo hoàn cảnh và điều kiện" và "Một chƣơng trình nhỏ mà đƣợc thực hành hẳn hoi còn hơn một trăm chƣơng trình lớn mà không làm đƣợc". Luật Giáo dục 2019 (Điều 29) xác định mục tiêu của giáo dục phổ thông: Nhằm phát triển toàn diện cho ngƣời học về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo; hình thành nhân cách con ngƣời Việt Nam xã hội chủ nghĩa và trách nhiệm công dân; chuẩn bị 10 cho ngƣời học tiếp tục học chƣơng trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giáo dục Tiểu học nhằm củng cố và phát triển kết quả của giáo dục mầm non; bảo đảm cho học sinh có học vấn phổ thông nền tảng, hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hƣớng nghiệp để tiếp tục học trung học cơ sở. Giai đoạn đầu của chƣơng trình, khái niệm KNS ở nƣớc ta đƣợc giới thiệu chỉ bao gồm những KNS cốt lõi nhƣ: Kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định và kỹ năng đạt mục tiêu.
Ở giai đoạn này chƣơng trình chỉ tập trung vào các chủ đề giáo dục sức khỏe của thanh thiếu niên. Giai đoạn hai của chƣơng trình mang tên: "Giáo dục sống khỏe mạnh và KNS" trong đó nội dung của khái niệm KNS và giáo dục KNS đã đƣợc phát triển sâu sắc hơn. Ngành Giáo dục đã triển khai chƣơng trình đƣa giáo dục KNS vào hệ thống giáo dục chính qui và không chính qui. Nội dung giáo dục của nhà trƣờng phổ thông đƣợc định hƣớng bởi mục tiêu giáo dục KNS.
Đã có một số công trình nghiên cứu trong nƣớc đề cập đến vấn đề KNS nói chung và kỹ năng trong nhà trƣờng nói riêng nhƣ: “Kỹ năng sống cho vị tuổi thành niên” của tác giả Nguyễn Thị Oanh “Cẩm nang tổng hợp kỹ năng hoạt động thanh thiếu niên” của tác giả Phạm Văn Nhân “Kỹ năng thanh niên tình nguyện” của tác giả Trần Thời. Trong cuốn “Chuyên đề giáo dục KNS” - tác giả Nguyễn Thanh Bình (2009) đã đề cập đến vấn đề xã hội hóa giáo dục Mầm non, Tiểu học và THCS, THPT trên địa bàn xã phƣờng. Các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn Tính, Vũ Phƣơng Liên với tài liệu “Phương pháp giáo dục Giá trị sống - Kỹ năng sống cho học sinh phổ thông”. Đặc biệt trong các tài liệu này vấn đề quản lý nhà nƣớc đƣợc đề cập đến trong bối cảnh xã hội hóa giáo dục và đặt ra những vấn đề liên quan đến giáo dục pháp luật, giáo dục KNS.
Đẩy mạnh và tăng cƣờng giáo dục KNS đồng thời phải tổ chức giáo dục KNS cho các em theo tinh thần xã hội hóa. Có thể nhận thấy ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều công 11 trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục KNS, một số công trình đã đi sâu nghiên cứu một số lĩnh vực nội dung và phƣơng thức giáo dục KNS, các đề tài đã phân tích làm rõ thực trạng trƣớc tính cấp bách của vấn đề giáo dục KNS, một số đề tài đã đề cập đến những hình thức giáo dục kỹ năng sống cụ thể trong nhà trƣờng phổ thông, đề xuất các biện pháp giáo dục KNS cho học sinh, sinh viên. Tuy nhiên hiện nay ở các trƣờng Tiểu học việc giáo dục KNS cho học sinh mới chỉ đƣợc thực hiện ở mức độ tích hợp ở một số môn học: Đạo đức, Tự nhiên xã hội,. mà chƣa khai thác hết nội lực của việc giáo dục kỹ năng sống thông qua các hoạt động tập thể, hoạt động GDNGLL trong nhà trƣờng để thực hiện có hiệu quả nội dung giáo dục KNS cho học sinh Tiểu học trong bối cảnh hiện nay.
Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý và quản lý giáo dục 1. Quản lý Quản lý đƣợc hiểu với nhiều cách khác nhau, đƣợc định nghĩa ở nhiều khía cạnh khác nhau trên cơ sở những quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau. "Quản lý là biết chính xác điều muốn ngƣời khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và chi phí thấp nhất" (FW.
“Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt đƣợc các mục đích của nhóm về thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất” (Harold Kontz). Từ điển Tiếng Việt thông dụng (NXBDG, 1998) viết: Quản lý là “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Tác giả Trần Kiểm khẳng định: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài nƣớc một cách tối ƣu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [21]. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: định nghĩa quản lý một cách kinh điển nhất là: “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” 12 Cũng nói về quản lý, tác giả Trần Khánh Đức:“Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất”.