Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề rèn luyện KNTƯ cho sinh lớp 1 qua HĐTN. Chương 2: Biện pháp rèn luyện KNTƯ cho HS lớp 1 qua HĐTN. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ RÈN LUYỆN KỸ NĂNG THÍCH ỨNG CHO HỌC SINH LỚP 1 QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM 1.1 Một số khái niệm 1.1 Kỹ năng Theo từ điển tiếng Việt (2014) định nghĩa “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [28].
Theo từ điển GD học (2000) “Kỹ năng là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ” [18]. Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng: “Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp những điều kiện cho phép” [29]. Như vậy, người có kỹ năng phải nắm tri thức về hành động và có các kinh nghiệm cần thiết. Song bản thân tri thức kinh nghiệm không phải là kỹ năng, muốn có kỹ năng, con người phải vận dụng vốn tri thức và kinh nghiệm đó vào hành động và đạt kết quả.
Từ những quan niệm trên, chúng tôi cho rằng kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động hay còn gọi là cách thức thực hiện hành động hay công việc cụ thể nào đó, vừa là biểu hiện năng lực của con người. Cơ sở của kỹ năng là tri thức, kinh nghiệm đã có từ trước và được hình thành do luyện tập.2 Thích ứng Theo Từ điển Tiếng Việt (2014) thì “Thích ứng là phù hợp với điều kiện mới, nhờ những thay đổi, điều chỉnh nhất định” [28]. Theo từ điển Tâm lý (2001), TƯ là “bước đầu điều chỉnh những phản ứng sinh lý (thích nghi với nhiệt độ cao hay thấp, môi trường khô hay ẩm), sau là thay đổi cách ứng xử” [37]. Theo tác giả Đỗ Mạnh Tôn, “Thích ứng của con người là thích ứng trong cuộc sống cộng đồng với các quan hệ xã hội cụ thể.
Thích ứng của con người là thích ứng trong hoạt động, trong hiệu năng lao động sáng tạo, cải tạo thế giới đối tượng. Thích 10 ứng là quá trình chủ thể nắm lấy công cụ, phương tiện do xã hội tạo ra để làm chủ quá trình phát triển của bản thân như là một cá nhân sống trong cộng đồng xã hội nhất định. Thích ứng của con người cũng chính là quá trình nhân cách ý thức sâu sắc về “cái tôi” tạo nên những cấu tạo tâm lý mới, kiểm tra, kiềm chế, điều khiển bản thân tránh khỏi các tác động lạc hướng ”. Cụ thể hơn, Đỗ Mạnh Tôn còn cho rằng: “Thích ứng với học tập và rèn luyện của học viên các trường sỹ quan quân đội là một phẩm chất phức hợp và cơ động của nhân cách học viên, biểu hiện ở quá trình người học tự tổ chức hoạt động học tập, rèn luyện của mình dưới sự định hướng của người thầy và nhà trường nhằm phát triển các chức năng sinh lí, các phẩm chất tổng hợp của nhân cách, đạt tới sự phù hợp tối đa với những điều kiện và học tập và rèn luyện ở trường sỹ quan” [32].
Theo tác giả Trần Thị Minh Đức, “Thích ứng là một quá trình hòa nhập tích cực với hoàn cảnh có vấn đề, qua đó cá nhân đạt được sự trưởng thành về mặt tâm lý” [15]. Hòa nhập tích cực: là sự chủ động thay đổi bản thân và cải tạo hoàn cảnh trong sự hài hòa nhất định. Cá nhân phát hiện vấn đề, phân tích vấn đề, liên hệ kinh nghiệm bản thân và tìm cách thay đổi bản thân, cải tạo hoàn cảnh cho phù hợp với bản thân. Hoàn cảnh có vấn đề: Tình huống, sự kiện xuất hiện không nằm trong kinh nghiệm của cá nhân có ảnh hưởng đến cuộc sống của cá nhân, buộc cá nhân phải huy động tiềm năng của bản thân để giải quyết chúng.
Sự trưởng thành về mặt tâm lý: Là sự thoải mái bên trong của mỗi cá nhân, sự phát triển hài hòa và làm chủ trong các mối quan hệ xã hội. Sự thích ứng tâm lý của con người hình thành thông qua hoạt động và giao tiếp, dưới sự tác động của các yếu tố bên trong: trình độ phát triển, lịch sử cá thể, vốn kinh nghiệm, nhu cầu, động cơ… và những yếu tố bên ngoài: loại hoạt động và giao tiếp, những điều kiện sống mà cá nhân tham gia. Thích ứng là quá trình diễn ra sự điều chỉnh về nội dung, phương thức hoạt động và giao tiếp của cá nhân để phù hợp với điều kiện môi trường sống nhằm tồn tại và phát triển. Theo quan điểm của chúng tôi thích ứng chính là hoạt động có định hướng, các cá nhân tích cực, chủ động thay đổi nhận thức, thái độ, điều chỉnh hành vi cho phù hợp với điều kiện sự thay đổi của hoàn cảnh sống nhằm đạt được kết quả như mong muốn đối với bản thân cũng như của xã hội.
11 Thích ứng có vai trò thay đổi cách thức suy nghĩ, hiểu biết về chủ thể của bản thân, về các vấn đề trong cuộc sống và xã hội, là cơ sở định hướng cho thái độ và hành vi của con người. Kỹ năng thích ứng KNTƯ là một khái niệm được xây dựng trên cơ sở kết hợp của hai khái niệm kỹ năng và thích ứng. Do vậy, cần tìm hiểu, làm rõ hai khái niệm kỹ năng và thích ứng trước khi có nhận thức đúng về khái niệm KNTƯ. Từ những phân tích ở trên chúng tôi cho rằng: KNTƯ là sự vận dụng được tri thức và kinh nghiệm đã có của chủ thể hoặc cấu trúc lại chúng nhằm khắc phục những khó khăn, thách thức để ứng phó với những biến đổi (hoặc yêu cầu mới) của môi trường (hay hoạt động) giúp chủ thể hoạt động một cách chủ động, linh hoạt và có hiệu quả.
Như vậy, theo chúng tôi KNTƯ của con người có các đặc trưng cơ bản sau: Tính thay đổi của chủ thể. Khả năng thích ứng của con người thường được thể hiện thông qua khả năng thích nghi và điều chỉnh bản thân để phù hợp với môi trường và tình huống mới. Chủ thể có khả năng linh hoạt và mở lòng tiếp nhận sự thay đổi, đồng thời thích ứng và thích nghi với những thách thức và yêu cầu mới. Tính tích cực, chủ động của chủ thể Khả năng thích ứng thường được thể hiện thông qua sự tích cực và chủ động trong việc tìm kiếm và thực hiện các giải pháp để vượt qua các tình huống khó khăn và thách thức.
Chủ thể không chỉ chấp nhận mà còn tìm cách tạo ra các biện pháp và giải pháp mới để thích ứng. Tính hiệu quả của hành động Khả năng thích ứng của con người thường được đánh giá qua tính hiệu quả của hành động thích ứng. Điều này có nghĩa là chủ thể có khả năng đạt được kết quả mong muốn hoặc giải quyết vấn đề một cách hiệu quả và đáp ứng được yêu cầu của môi trường một cách hợp lý và đúng đắn. Hoạt động trải nghiệm * Trải nghiệm Trải nghiệm trong học tập giúp HS cố kiến thức, hình thành và phát triển các năng lực, kỹ năng, hành xử mới và thậm chí là cách tư duy mới.
Đây là cách học có rất nhiều ưu thế so với cách học truyền thống trước đây của HS. 12 * Hoạt động trải nghiệm Tác giả Huỳnh Mộng Tuyền đưa ra khái niệm này như sau: “HĐTN là dưới sự hướng dẫn tổ chức của nhà giáo dục, HS chủ động, tích cực thực hiện các hoạt động ở nhà trường, gia đình, xã hội nhằm phát triển năng lực, phẩm chất nhân cách. Theo Chương trình GDPT môn HĐTN thì: “HĐTN và HĐTN hướng nghiệp được xác định là các hoạt động giáo dục được nhà giáo dục chỉ đạo, lập kế hoạch và hướng dẫn thực hiện. Các hoạt động này tạo ra cơ hội cho HS tiếp xúc với thực tế, trải nghiệm các cảm xúc tích cực và khai thác những kinh nghiệm có sẵn.
Thông qua việc này, HS có thể áp dụng kiến thức và kỹ năng từ các môn học để giải quyết các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống hàng ngày, từ môi trường gia đình đến xã hội, phù hợp với tuổi trẻ của họ. Qua quá trình này, HS có thể chuyển hóa những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới và kỹ năng mới, từ đó phát huy tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp trong tương lai” [6, tr. Như vậy có thể hiểu: HĐTN là hoạt động giáo dục do nhà giáo dục định hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện, tạo cơ hội cho HS tiếp cận thực tế, thể nghiệm cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng của các môn học để thể hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi; thông qua đó, chuyển hoá những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới, hiểu biết mới, kỹ năng mới góp phần phát huy tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp tương lai.2 Một số vấn đề về rèn luyện kỹ năng thích ứng 1.1 Các biểu hiện của kỹ năng thích ứng của học sinh lớp 1 Kỹ năng hợp tác với bạn bè: Trong quá trình phát triển, khả năng hợp tác với bạn bè là một yếu tố quan trọng giúp HS lớp 1 học hỏi và phát triển từ môi trường xã hội. Bằng cách tham gia vào các hoạt động nhóm, HS học cách chia sẻ ý tưởng, lắng nghe ý kiến của người khác và làm việc cùng nhau để đạt được mục tiêu chung.
Với HS lớp 1, biểu hiện của kỹ năng hợp tác với bạn bèn là: biết chia sẻ đồ chơi, dụng cụ học tập với bạn bè; biết tham gia chơi trò chơi tập thể một cách hòa đồng, vui 13 vẻ; biết lắng nghe ý kiến của bạn bè, cùng nhau thảo luận để hoàn thành nhiệm vụ chung; biết giúp đỡ bạn bè khi gặp khó khăn; Kỹ năng kiểm soát và kiềm chế: Kỹ năng kiểm soát và kiềm chế giúp HS tự quản lý hành vi và cảm xúc của mình. Bằng cách học cách điều chỉnh hành vi để phù hợp với quy tắc và môi trường học tập, HS trở nên tự tin hơn trong việc giao tiếp và tương tác với người khác.