Nghiên Cứu Kỹ Năng Giao Tiếp Tiếng Việt Cho Trẻ 5-6 Tuổi Dân Tộc H'Mông

Chuyên khảo phân tích Hình thành kĩ năng giao tiếp tiếng việt cho trẻ 5 6 tuổi dân tộc hmông, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Chuyên ngành

Giáo dục mầm non

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

239
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu

0.3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

0.4. Giả thuyết khoa học

0.5. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

0.7. Phương pháp nghiên cứu

0.8. Đóng góp mới của đề tài

0.9. Luận điểm bảo vệ

0.10. Cấu trúc của luận án

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA HÌNH THÀNH KĨ NĂNG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI DÂN TỘC H’MÔNG

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.2. Những nghiên cứu về kĩ năng

1.3. Những nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp

1.4. Những nghiên cứu về giao tiếp và kĩ năng giao tiếp của trẻ mầm non

1.5. Những nghiên cứu về giao tiếp và giao tiếp tiếng Việt của trẻ em dân tộc thiểu số

1.6. Một số vấn đề về giao tiếp và kĩ năng giao tiếp tiếng Việt của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông

1.7. Những vấn đề chung về giao tiếp và kĩ năng giao tiếp

1.8. Một số vấn đề về ngôn ngữ, văn hóa và giao tiếp của dân tộc H’mông

1.9. Tiếng Việt và giao tiếp tiếng Việt của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông

1.10. Hình thành kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông

1.10.1. Khái niệm hình thành kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông

1.10.2. Ý nghĩa của việc học tiếng Việt và hình thành KNGT tiếng Việt đối với trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông

1.10.3. Các kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cần hình thành cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông

1.10.4. Các phương thức hình thành kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông

1.10.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kĩ năng giao tiếp tiếng Việt của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông

1.11. Tiểu kết Chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HÌNH THÀNH KĨ NĂNG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI DÂN TỘC H’MÔNG TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TÍCH HỢP THEO CHỦ ĐỀ Ở TRƯỜNG MẦM NON

2.1. Khái quát về khảo sát thực trạng

2.2. Mục đích khảo sát

2.3. Đối tượng khảo sát. Thời gian khảo sát

2.4. Nội dung khảo sát

2.5. Phương pháp và công cụ khảo sát

2.6. Cách tiến hành khảo sát

2.7. Kết quả khảo sát

2.7.1. Nhận thức của giáo viên mầm non về sự cần thiết phải hình thành kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông

2.7.2. Thực trạng sử dụng các hoạt động giáo dục nhằm hình thành kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông của GVMN tỉnh Lào Cai

2.7.3. Thực trạng biện pháp hình thành kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông qua các hoạt động giáo dục của GVMN tỉnh Lào Cai

2.7.4. Những thuận lợi và khó khăn của giáo viên khi hình thành kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông qua các hoạt động giáo dục ở trường mầm non

2.7.5. Thực trạng ảnh hưởng của gia đình đến việc hình thành kĩ năng giao tiếp tiếng Việt của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông

2.7.6. Thực trạng kĩ năng giao tiếp tiếng Việt của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông

2.8. Tiểu kết Chương 2

3. CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH KĨ NĂNG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT CHO TRẺ

3.1. Một số nguyên tắc xây dựng biện pháp hình thành kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông qua các hoạt động giáo dục tích hợp theo chủ đề ở trường mầm non

3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo thực hiện được mục tiêu, chương trình chăm sóc - giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi

3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp

3.1.3. Đảm bảo tính phát triển

3.1.4. Đảm bảo tạo ra nhiều cơ hội thực hành GT tiếng Việt của trẻ

3.2. Xây dựng một số biện pháp hình thành KNGT tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông qua các HĐGD tích hợp theo chủ đề ở trường mầm non

3.3. Thực nghiệm sư phạm

3.3.1. Khái quát về thực nghiệm

3.3.2. Kết quả thực nghiệm

3.4. Tiểu kết Chương 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Kỹ Năng Giao Tiếp Tiếng Việt Cho Trẻ H Mông

Việc trang bị kỹ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi dân tộc H'Mông là vô cùng quan trọng. Điều này không chỉ giúp trẻ hòa nhập tốt hơn vào môi trường giáo dục mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện. Theo Hiến pháp Việt Nam năm 2013, mọi dân tộc đều bình đẳng và có quyền được học tập, phát triển. Do đó, việc hỗ trợ trẻ em dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân tộc H'Mông, trong việc học tiếng Việt là một nhiệm vụ cấp thiết. Giáo dục mầm non đóng vai trò then chốt trong quá trình này, giúp trẻ làm quen với ngôn ngữ và văn hóa Việt, tạo tiền đề cho sự thành công trong tương lai. Việc này cũng giúp bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc H'Mông, đồng thời mở rộng cơ hội hội nhập cộng đồng cho trẻ.

1.1. Tầm quan trọng của giao tiếp tiếng Việt ở vùng cao

vùng cao, nơi dân tộc H'Mông sinh sống, việc giao tiếp tiếng Việt không chỉ là công cụ học tập mà còn là cầu nối văn hóa. Nó giúp trẻ tiếp cận với tri thức, thông tin và cơ hội phát triển. Việc thành thạo tiếng Việt giúp trẻ tự tin hơn trong giao tiếp, mở rộng mối quan hệ xã hội và tham gia tích cực vào các hoạt động cộng đồng. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hội nhập và phát triển của đất nước.

1.2. Vai trò của giáo dục mầm non trong phát triển ngôn ngữ

Giáo dục mầm non là giai đoạn vàng để phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Tại đây, trẻ được tiếp xúc với môi trường tiếng Việt phong phú, được tham gia vào các hoạt động vui chơi, học tập giúp tăng cường vốn từ vựng tiếng Việtkỹ năng ngôn ngữ. Giáo viên mầm non đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực, khuyến khích trẻ sử dụng tiếng Việt một cách tự nhiên và hiệu quả.

II. Thách Thức Trong Dạy Tiếng Việt Cho Trẻ Dân Tộc H Mông

Mặc dù có nhiều nỗ lực, việc dạy và học giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi dân tộc H'Mông vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Rào cản ngôn ngữ, sự khác biệt văn hóa, và điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn là những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình này. Theo nghiên cứu của Giàng Thị Gấm (2019), nhiều trẻ em dân tộc H'Mông gặp khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức do hạn chế về kỹ năng ngôn ngữ. Phụ huynh cũng đóng vai trò quan trọng, nhưng không phải ai cũng có đủ kiến thức và thời gian để hỗ trợ con em mình học tiếng Việt. Việc thiếu tài liệu học tiếng Việt phù hợp với đặc điểm văn hóa của dân tộc H'Mông cũng là một vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Rào cản ngôn ngữ và sự khác biệt văn hóa

Sự khác biệt giữa tiếng H'Mông và tiếng Việt tạo ra rào cản lớn cho trẻ trong quá trình học tập. Phát âm tiếng Việt có thể khó khăn đối với trẻ do sự khác biệt về âm vị. Ngoài ra, sự khác biệt về văn hóa cũng ảnh hưởng đến cách trẻ tiếp nhận và sử dụng ngôn ngữ. Cần có phương pháp dạy học phù hợp để giúp trẻ vượt qua những rào cản này.

2.2. Thiếu nguồn lực và hỗ trợ từ gia đình cộng đồng

Nhiều gia đình dân tộc H'Mông có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, ít có điều kiện tiếp xúc với tiếng Việt. Phụ huynh có thể không có đủ kiến thức hoặc thời gian để hỗ trợ con em mình học tập. Cộng đồng cũng cần chung tay tạo ra môi trường học tiếng Việt thân thiện và hiệu quả cho trẻ.

2.3. Hạn chế về tài liệu và phương pháp dạy học phù hợp

Sự thiếu hụt tài liệu học tiếng Việt phù hợp với đặc điểm văn hóa và ngôn ngữ của dân tộc H'Mông là một vấn đề đáng quan tâm. Phương pháp dạy tiếng Việt truyền thống có thể không hiệu quả đối với trẻ em dân tộc thiểu số. Cần có sự đổi mới trong phương pháp dạy học để tạo hứng thú và giúp trẻ tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng hơn.

III. Phương Pháp Dạy Giao Tiếp Tiếng Việt Hiệu Quả Cho Trẻ H Mông

Để nâng cao kỹ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi dân tộc H'Mông, cần áp dụng các phương pháp dạy học sáng tạo và phù hợp. Việc sử dụng trò chơi học tiếng Việt, kể chuyện tiếng Việt, và tạo ra môi trường giao tiếp phong phú là những giải pháp hiệu quả. Giáo viên mầm non cần được trang bị kiến thức và kỹ năng sư phạm phù hợp để đáp ứng nhu cầu học tập của trẻ. Sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng là yếu tố then chốt để đạt được thành công.

3.1. Sử dụng trò chơi và hoạt động tương tác trong lớp học

Trò chơi học tiếng Việt giúp trẻ tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên và vui vẻ. Các hoạt động tương tác như đóng vai, thảo luận nhóm, và trình bày giúp trẻ rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ và tự tin hơn trong giao tiếp. Giáo viên cần tạo ra môi trường học tập thân thiện, khuyến khích trẻ tham gia tích cực vào các hoạt động.

3.2. Kể chuyện và đọc sách tiếng Việt cho trẻ

Kể chuyện tiếng Việt là một cách tuyệt vời để mở rộng vốn từ vựng tiếng Việt và phát triển kỹ năng nghe hiểu. Việc đọc sách tiếng Việt giúp trẻ làm quen với cấu trúc câu và ngữ pháp cơ bản. Giáo viên có thể sử dụng hình ảnh, âm thanh, và các hoạt động tương tác để làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn hơn.

3.3. Tạo môi trường giao tiếp tiếng Việt phong phú

Tạo ra môi trường giao tiếp tiếng Việt phong phú là yếu tố quan trọng để giúp trẻ rèn luyện kỹ năng giao tiếp. Giáo viên cần khuyến khích trẻ sử dụng tiếng Việt trong mọi hoạt động, từ học tập đến vui chơi. Việc tạo ra các góc học tập, thư viện, và sân chơi với các tài liệu, trò chơi tiếng Việt giúp trẻ có nhiều cơ hội tiếp xúc với ngôn ngữ.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Mô Hình Dạy Tiếng Việt Tại Lào Cai

Tỉnh Lào Cai đã triển khai nhiều mô hình dạy giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi dân tộc H'Mông với những kết quả đáng khích lệ. Các trường mầm non ở vùng cao đã áp dụng các phương pháp dạy học sáng tạo, phù hợp với đặc điểm văn hóa và ngôn ngữ của trẻ. Sự tham gia tích cực của giáo viên mầm non, phụ huynh, và cộng đồng đã góp phần nâng cao kỹ năng ngôn ngữ cho trẻ. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần được giải quyết để đảm bảo mọi trẻ em dân tộc H'Mông đều có cơ hội tiếp cận với giáo dục mầm non chất lượng.

4.1. Kinh nghiệm từ các trường mầm non vùng cao Lào Cai

Các trường mầm non ở vùng cao Lào Cai đã tích cực đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng các trò chơi học tiếng Việt, kể chuyện tiếng Việt, và tạo ra môi trường giao tiếp phong phú. Giáo viên đã được đào tạo về dạy học hòa nhậpdạy tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số. Sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình đã giúp trẻ có nhiều cơ hội rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ.

4.2. Đánh giá hiệu quả và bài học kinh nghiệm

Việc đánh giá hiệu quả của các mô hình dạy giao tiếp tiếng Việt là rất quan trọng để rút ra bài học kinh nghiệm và cải thiện chất lượng giáo dục mầm non. Cần có các công cụ đánh giá phù hợp để đo lường sự tiến bộ của trẻ về vốn từ vựng tiếng Việt, phát âm tiếng Việt, và kỹ năng giao tiếp. Bài học kinh nghiệm từ Lào Cai có thể được áp dụng cho các tỉnh thành khác có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.

V. Kết Luận Tương Lai Của Giao Tiếp Tiếng Việt Cho Trẻ H Mông

Việc nâng cao kỹ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi dân tộc H'Mông là một quá trình lâu dài và cần sự chung tay của toàn xã hội. Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự nỗ lực của giáo viên mầm non, sự hỗ trợ của phụ huynhcộng đồng, trẻ em 5-6 tuổi dân tộc H'Mông sẽ có cơ hội phát triển toàn diện và hòa nhập tốt hơn vào xã hội. Việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc H'Mông cũng cần được chú trọng trong quá trình dạy và học tiếng Việt.

5.1. Chính sách hỗ trợ và phát triển giáo dục vùng dân tộc

Nhà nước cần tiếp tục ban hành các chính sách giáo dục ưu đãi cho vùng dân tộc, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ giáo viên mầm non công tác tại vùng sâu vùng xa. Cần tăng cường đầu tư vào cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, và tài liệu học tiếng Việt cho các trường mầm non ở vùng cao.

5.2. Đề xuất và khuyến nghị cho giáo dục mầm non

Các trường mầm non cần tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường sử dụng các trò chơi học tiếng Việt, kể chuyện tiếng Việt, và tạo ra môi trường giao tiếp phong phú. Giáo viên cần được đào tạo về dạy học hòa nhậpdạy tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số. Cần tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng để tạo ra môi trường học tập tốt nhất cho trẻ.

08/06/2025
Hình thành kĩ năng giao tiếp tiếng việt cho trẻ 5 6 tuổi dân tộc hmông

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA HÌNH THÀNH KĨ NĂNG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI DÂN TỘC H’MÔNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về kĩ năng KN là một vấn đề phức tạp. Vì vậy, cho đến nay trong tâm lí học và lí luận dạy học vẫn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về KN.

Tổng hợp lại, chúng ta có thể thấy có hai quan điểm nổi trội: + Quan điểm thứ nhất: Xem xét KN nghiêng về mặt kĩ thuật của thao tác hay hành động, hoạt động. Đại diện cho quan điểm này có các tác giả: V. Enconhin, Trần Trọng Thuỷ. Theo quan điểm này V.

Kruchetxki cho rằng: “KN là thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó nhờ sử dụng những kĩ thuật, những phương thức đúng đắn” [62; 88]. Theo Trần Trọng Thuỷ: “KN là mặt kĩ thuật của hành động, con người nắm được hành động tức là kĩ thuật hành động có KN” [110; 65]. + Quan điểm thứ hai: Xem xét KN nghiêng về mặt năng lực của chủ thể hoạt động. Theo quan điểm này, KN vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt, tính sáng tạo và tính mục đích.

Đại diện cho quan điểm này có các tác giả: K.Golubev, Paul Hersey, Ken Blanc Hard, P. Ruđich, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc. Theo quan điểm này K.G Golubev khi bàn đến KN đã rất chú ý tới mặt kết quả của hành động. Theo họ, KN là năng lực thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện khác nhau và trong khoảng thời gian tương ứng [91].Kixengov cho rằng “KN là khả năng thực hiện có hiệu quả hệ thống các hành động phù hợp với các mục đích và điều kiện của hệ thống này” [63; 18].

Các tác giả Ngô Công Hoàn, Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “KN là một mặt năng lực của con người thực hiện một công việc có hiệu quả”. Hai quan điểm trên, về hình thức diễn đạt tuy có khác nhau nhưng thực chất 10 chúng không mâu thuẫn hay loại trừ lẫn nhau. Sự khác nhau là ở chỗ mở rộng hay thu hẹp phạm vi triển khai của một KN hành động trong các tình huống khác nhau. Những nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp GT là hoạt động đặc trưng của con người, nó tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người.

Nói đến GT là nói đến sự trao đổi thông tin giữa người với người, qua đó con người hiểu biết, cảm thông, chia sẻ, hợp tác với nhau trong hoạt động và sinh hoạt. Quá trình GT chỉ có hiệu quả khi chủ thể GT có KNGT. Do vậy cũng như GT, KNGT được khá nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Mỗi tác giả tiếp cận KNGT ở một góc độ khác nhau, có thể khái quát thành các hướng tiếp cận sau: - Hướng thứ nhất: Xem xét KNGT như là năng lực thiết lập các mối quan hệ của con người trong quá trình giao tiếp.

Theo hướng này có thể kể đến: V. Dakharov, Wang Gang, Dale Carnegie, Nguyễn Văn Lê, Trần Tuấn Lộ, Trần Trọng Thuỷ,. Những người theo hướng này cho rằng KNGT là khả năng thiết lập mối quan hệ của chủ thế với đối tượng trong quá trình GT để đạt được mục đích GT của mình. Dakharov cho rằng, KNGT là tập hợp các KN: KN thiết lập mối quan hệ trong GT; KN cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tượng GT; KN nghe và biết lắng nghe; KN tự chủ cảm xúc hành vi; KN tự kiềm chế và kiểm tra đối tượng GT; KN diễn đạt dễ hiểu, ngắn gọn, mạch lạc, linh hoạt, mềm dẻo trong GT; KN thuyết phục trong GT; KN điều khiển quá trình GT.

Những KN này được V. Dakharov xếp vào bốn nhóm KN: KN đóng vai trò tích cực, chủ động trong GT; KN thể hiện sự chủ động trong GT; KN điều khiển, điều chỉnh, cân bằng trong GT; KN diễn đạt cụ thể, dễ hiểu trong GT [Dẫn theo 4]. Cũng theo hướng tiếp cận này, Wang Gang và Dale Carnegie nghiên cứu về nghệ thuật, cách thức khi GT để đạt hiệu quả. Trong cuốn "Giao tiếp có hiệu quả nhất" Wang Gang cho rằng, để GT thiết lập được mối quan hệ GT thân thiện với đối tượng thì cần phân loại đối tượng GT.

Ông đã phân chia ra 6 loại đối tượng GT: GT với người lạ; GT với bạn bè; GT với đồng nghiệp; GT với khách hàng; GT với người khác. Tương ứng với mỗi loại đối tượng, ông đưa ra phong cách GT, ứng xử khác nhau phù hợp với đối tượng [33]. Dale Carnegie trong cuốn "Đắc nhân tâm" 11 chủ yếu trình bày về những nghệ thuật, những bí quyết quan hệ GT giữa con người với con người. Để gây được thiện cảm với đối tượng GT, con người phải có nghệ thuật và KNGT tốt và ông đưa ra 6 cách gây thiện cảm trong GT: Thành thật quan tâm đến người khác; nụ cười (biết thể hiện nét mặt tươi cười) khi tiếp xúc; cố gắng biết tên đối tượng và xưng hô tên họ khi tiếp xúc; hãy biết lắng nghe, hãy động viên những người xunh quanh nói về bản thân họ; khi nói chuyện hãy nghĩ đến mối quan hệ của người khác; hãy làm cho người khác cảm thấy quan trọng.

đều khẳng định vai trò của năng lực thiết lập các mối quan hệ trong GT đối với cuộc sống con người. Theo Trần Đình Tuấn: "Trong thời đại ngày nay GT xã hội đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống. Nếu bạn có tài xã giao, kết bạn với nhiều người, tạo nên mối quan hệ rộng rãi thì sẽ chinh phục được những người xung quanh bạn. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc bạn đã chinh phục được cả thế giới này" [119].

Để thành người GT giỏi trong cuộc sống xã hội Trần Đình Tuấn đã đưa ra 5 quy tắc kết bạn trong GT như: Làm bạn với chính mình; chủ động kết bạn với người khác; tưởng tượng mình là người khác; chấp nhận những cá tính đặc biệt của người khác; cố gắng thỏa mãn nhu cầu của người khác - Hướng thứ hai: Xem xét KNGT như là năng lực điều khiển quá trình GT của con người. Những người theo hướng này cho rằng KNGT là khả năng chủ thể GT điều khiển nhận thức, thái độ, hành vi của người khác để đạt được mục đích của mình trong quá trình GT. Theo hướng này có thể kể đến: A. Lêônchiev, Pơlotnhibôva, Cudơmina, V.

Rakhmatulina … Theo những tác giả này, KNGT bao gồm ba nhóm KN có mối quan hệ mật thiết với nhau: nhóm KN định hướng, nhóm KN định vị, nhóm KN điều chỉnh, điều khiển. Các KN này được hình thành và trở nên hoàn thiện, con người sẽ tự tin, tích cực hơn trong GT và đạt được hiệu quả cao trong quá trình GT. Rakhmatulina, GT là một quá trình gồm ba thành phần lớn (thành phần đó được thể hiện dưới dạng các nhóm KNGT), đó là: Nhóm KN định hướng trước khi GT; 12 nhóm KN tiếp xúc - xảy ra trong quá trình GT; nhóm KN hướng quá trình GT đến các định hướng giá trị khác nhau [Dẫn theo 4]. Hai tác giả này cho rằng, các thành phần của các KN bao gồm: KN nhìn thấy, nghe được các trạng thái của đối tượng GT, KN tiếp xúc, hiểu lẫn nhau, KN tổ chức, điều khiển quá trình GT.

Những nghiên cứu về giao tiếp và kĩ năng giao tiếp của trẻ mầm non GT là con đường quan trọng để phát triển nhân cách nói chung và ngôn ngữ cho trẻ em. Do vậy nó được nhiều nhà tâm lí học trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Iudenphin Dilokhne - nhà tâm lí học người Hungary với công trình nghiên cứu "Vai trò của phương pháp giao tiếp trực tiếp trong việc phát triển ngôn ngữ trẻ em mẫu giáo"; Maria Keliar, nhà tâm lí học người Ba Lan với vấn đề "Phát triển ngôn ngữ giao tiếp của trẻ em mẫu giáo". đều khẳng định vai trò to lớn của GT giữa trẻ em mẫu giáo với nhau và với người lớn trong việc phát triển vốn từ, khả năng phát âm cũng như mối quan hệ gắn bó giữa GT với ngôn ngữ trong các thời kì khác nhau của nhu cầu GT trẻ em [Dẫn theo 111].

Perreklicman - Nhà tâm lí học người Thụy Sỹ, trong các công trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra ảnh hưởng của GT trẻ em - bạn bè đến sự phát triển trí tuệ. Perreklicman cho rằng trẻ mẫu giáo lớn có thể phát triển tư duy tốt hơn nếu được hoạt động cùng nhau dưới sự hướng dẫn của GV. Khi nghiên cứu mối quan hệ gắn bó mẹ - con trong năm đầu, theo quan điểm của các nhà tâm lí học người Mỹ như: Spitz, Klaus và Kenell, Nguyễn Khắc Viện đã chỉ ra mối quan hệ giữa GT và mức độ phát triển trí tuệ cảm xúc ở các em [135]. Trong các nghiên cứu trên đối tượng trẻ em lứa tuổi vườn trẻ và mẫu giáo, V.

Mukhina đã chỉ ra rằng, nhu cầu GT của trẻ với người lớn ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển tâm lí và lĩnh hội ngôn ngữ của trẻ em (học phát âm, học cách sử dụng môi lưỡi và hơi thở, sự thông hiểu ngôn ngữ, hiểu từ và sử dụng từ). Mukhina: "Quá trình đứa trẻ thông hiểu lời nói thường xảy ra như sau: người lớn hỏi đứa trẻ: Cái gì đó? Ở đâu? Câu hỏi gây ra cho đứa trẻ phản ứng định hướng đối với hành vi của người lớn. Kết quả của sự lặp đi lặp lại nhiều lần là xuất hiện mối quan hệ giữa từ do người lớn nói ra với đối tượng mà họ chỉ cho trẻ nhìn thấy. Điều quan trọng là đứa trẻ không đơn giản tìm đối tượng được người lớn nói lên để nhìn vào nó, đứa trẻ tìm đối tượng để tiếp tục giao lưu với người lớn.", cứ như vậy, 13 bằng GT với người lớn, sự hiểu ngôn ngữ, sự lĩnh hội ngôn ngữ được hoàn thiện [79].

Nghiên cứu của M. Lixinna và các nhà khoa học khác chứng minh được rằng, đặc điểm GT của trẻ với người lớn và bạn cùng tuổi được thay đổi phức tạp trong suốt thời kì thơ ấu. Sự phát triển GT, sự phức tạp hóa và làm giàu hình thức GT tạo nên những khả năng mới cho đứa trẻ tiếp thu kiến thức và KN từ môi trường xung quanh. Điều này có ý nghĩa quan trọng nhất đối với sự phát triển tâm lí và nhân cách của trẻ.

Ở tuổi mẫu giáo có hình thức GT với người lớn mà M. Lixinna gọi là GT "hợp tác trí tuệ". Bởi dạng GT này có đặc điểm hợp tác trong hoạt động nhận thức.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Kỹ Năng Giao Tiếp Tiếng Việt Cho Trẻ 5-6 Tuổi Dân Tộc H'Mông" cung cấp những phương pháp hiệu quả để phát triển kỹ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ em dân tộc H'Mông trong độ tuổi mầm non. Nội dung tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giao tiếp sớm trong việc hình thành ngôn ngữ và tư duy cho trẻ, đồng thời giới thiệu các hoạt động và trò chơi giúp trẻ học hỏi một cách tự nhiên và thú vị.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều lợi ích từ tài liệu này, bao gồm cách thức khuyến khích trẻ tham gia vào các cuộc trò chuyện, phát triển từ vựng và cải thiện khả năng nghe hiểu. Để mở rộng thêm kiến thức về phương pháp giảng dạy và hỗ trợ trẻ em trong việc học ngôn ngữ, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ lý thuyết và phương pháp giảng dạy tiếng anh, nơi nghiên cứu về cách sử dụng Quizlet trong việc dạy từ vựng cho trẻ nhỏ.

Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ supporting young learners vocabulary through pictures cũng sẽ cung cấp những phương pháp hỗ trợ từ vựng cho trẻ em thông qua hình ảnh, giúp bạn có thêm góc nhìn về việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ.

Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi, tài liệu này sẽ giúp bạn nắm bắt các biện pháp phát triển từ vựng cho trẻ nhỏ thông qua đồng dao, một phương pháp học tập thú vị và hiệu quả. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và áp dụng vào việc giảng dạy cho trẻ em một cách hiệu quả hơn.