Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA HÌNH THÀNH KĨ NĂNG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI DÂN TỘC H’MÔNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về kĩ năng KN là một vấn đề phức tạp. Vì vậy, cho đến nay trong tâm lí học và lí luận dạy học vẫn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về KN.
Tổng hợp lại, chúng ta có thể thấy có hai quan điểm nổi trội: + Quan điểm thứ nhất: Xem xét KN nghiêng về mặt kĩ thuật của thao tác hay hành động, hoạt động. Đại diện cho quan điểm này có các tác giả: V. Enconhin, Trần Trọng Thuỷ. Theo quan điểm này V.
Kruchetxki cho rằng: “KN là thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó nhờ sử dụng những kĩ thuật, những phương thức đúng đắn” [62; 88]. Theo Trần Trọng Thuỷ: “KN là mặt kĩ thuật của hành động, con người nắm được hành động tức là kĩ thuật hành động có KN” [110; 65]. + Quan điểm thứ hai: Xem xét KN nghiêng về mặt năng lực của chủ thể hoạt động. Theo quan điểm này, KN vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt, tính sáng tạo và tính mục đích.
Đại diện cho quan điểm này có các tác giả: K.Golubev, Paul Hersey, Ken Blanc Hard, P. Ruđich, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc. Theo quan điểm này K.G Golubev khi bàn đến KN đã rất chú ý tới mặt kết quả của hành động. Theo họ, KN là năng lực thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện khác nhau và trong khoảng thời gian tương ứng [91].Kixengov cho rằng “KN là khả năng thực hiện có hiệu quả hệ thống các hành động phù hợp với các mục đích và điều kiện của hệ thống này” [63; 18].
Các tác giả Ngô Công Hoàn, Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “KN là một mặt năng lực của con người thực hiện một công việc có hiệu quả”. Hai quan điểm trên, về hình thức diễn đạt tuy có khác nhau nhưng thực chất 10 chúng không mâu thuẫn hay loại trừ lẫn nhau. Sự khác nhau là ở chỗ mở rộng hay thu hẹp phạm vi triển khai của một KN hành động trong các tình huống khác nhau. Những nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp GT là hoạt động đặc trưng của con người, nó tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người.
Nói đến GT là nói đến sự trao đổi thông tin giữa người với người, qua đó con người hiểu biết, cảm thông, chia sẻ, hợp tác với nhau trong hoạt động và sinh hoạt. Quá trình GT chỉ có hiệu quả khi chủ thể GT có KNGT. Do vậy cũng như GT, KNGT được khá nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Mỗi tác giả tiếp cận KNGT ở một góc độ khác nhau, có thể khái quát thành các hướng tiếp cận sau: - Hướng thứ nhất: Xem xét KNGT như là năng lực thiết lập các mối quan hệ của con người trong quá trình giao tiếp.
Theo hướng này có thể kể đến: V. Dakharov, Wang Gang, Dale Carnegie, Nguyễn Văn Lê, Trần Tuấn Lộ, Trần Trọng Thuỷ,. Những người theo hướng này cho rằng KNGT là khả năng thiết lập mối quan hệ của chủ thế với đối tượng trong quá trình GT để đạt được mục đích GT của mình. Dakharov cho rằng, KNGT là tập hợp các KN: KN thiết lập mối quan hệ trong GT; KN cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tượng GT; KN nghe và biết lắng nghe; KN tự chủ cảm xúc hành vi; KN tự kiềm chế và kiểm tra đối tượng GT; KN diễn đạt dễ hiểu, ngắn gọn, mạch lạc, linh hoạt, mềm dẻo trong GT; KN thuyết phục trong GT; KN điều khiển quá trình GT.
Những KN này được V. Dakharov xếp vào bốn nhóm KN: KN đóng vai trò tích cực, chủ động trong GT; KN thể hiện sự chủ động trong GT; KN điều khiển, điều chỉnh, cân bằng trong GT; KN diễn đạt cụ thể, dễ hiểu trong GT [Dẫn theo 4]. Cũng theo hướng tiếp cận này, Wang Gang và Dale Carnegie nghiên cứu về nghệ thuật, cách thức khi GT để đạt hiệu quả. Trong cuốn "Giao tiếp có hiệu quả nhất" Wang Gang cho rằng, để GT thiết lập được mối quan hệ GT thân thiện với đối tượng thì cần phân loại đối tượng GT.
Ông đã phân chia ra 6 loại đối tượng GT: GT với người lạ; GT với bạn bè; GT với đồng nghiệp; GT với khách hàng; GT với người khác. Tương ứng với mỗi loại đối tượng, ông đưa ra phong cách GT, ứng xử khác nhau phù hợp với đối tượng [33]. Dale Carnegie trong cuốn "Đắc nhân tâm" 11 chủ yếu trình bày về những nghệ thuật, những bí quyết quan hệ GT giữa con người với con người. Để gây được thiện cảm với đối tượng GT, con người phải có nghệ thuật và KNGT tốt và ông đưa ra 6 cách gây thiện cảm trong GT: Thành thật quan tâm đến người khác; nụ cười (biết thể hiện nét mặt tươi cười) khi tiếp xúc; cố gắng biết tên đối tượng và xưng hô tên họ khi tiếp xúc; hãy biết lắng nghe, hãy động viên những người xunh quanh nói về bản thân họ; khi nói chuyện hãy nghĩ đến mối quan hệ của người khác; hãy làm cho người khác cảm thấy quan trọng.
đều khẳng định vai trò của năng lực thiết lập các mối quan hệ trong GT đối với cuộc sống con người. Theo Trần Đình Tuấn: "Trong thời đại ngày nay GT xã hội đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống. Nếu bạn có tài xã giao, kết bạn với nhiều người, tạo nên mối quan hệ rộng rãi thì sẽ chinh phục được những người xung quanh bạn. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc bạn đã chinh phục được cả thế giới này" [119].
Để thành người GT giỏi trong cuộc sống xã hội Trần Đình Tuấn đã đưa ra 5 quy tắc kết bạn trong GT như: Làm bạn với chính mình; chủ động kết bạn với người khác; tưởng tượng mình là người khác; chấp nhận những cá tính đặc biệt của người khác; cố gắng thỏa mãn nhu cầu của người khác - Hướng thứ hai: Xem xét KNGT như là năng lực điều khiển quá trình GT của con người. Những người theo hướng này cho rằng KNGT là khả năng chủ thể GT điều khiển nhận thức, thái độ, hành vi của người khác để đạt được mục đích của mình trong quá trình GT. Theo hướng này có thể kể đến: A. Lêônchiev, Pơlotnhibôva, Cudơmina, V.
Rakhmatulina … Theo những tác giả này, KNGT bao gồm ba nhóm KN có mối quan hệ mật thiết với nhau: nhóm KN định hướng, nhóm KN định vị, nhóm KN điều chỉnh, điều khiển. Các KN này được hình thành và trở nên hoàn thiện, con người sẽ tự tin, tích cực hơn trong GT và đạt được hiệu quả cao trong quá trình GT. Rakhmatulina, GT là một quá trình gồm ba thành phần lớn (thành phần đó được thể hiện dưới dạng các nhóm KNGT), đó là: Nhóm KN định hướng trước khi GT; 12 nhóm KN tiếp xúc - xảy ra trong quá trình GT; nhóm KN hướng quá trình GT đến các định hướng giá trị khác nhau [Dẫn theo 4]. Hai tác giả này cho rằng, các thành phần của các KN bao gồm: KN nhìn thấy, nghe được các trạng thái của đối tượng GT, KN tiếp xúc, hiểu lẫn nhau, KN tổ chức, điều khiển quá trình GT.
Những nghiên cứu về giao tiếp và kĩ năng giao tiếp của trẻ mầm non GT là con đường quan trọng để phát triển nhân cách nói chung và ngôn ngữ cho trẻ em. Do vậy nó được nhiều nhà tâm lí học trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Iudenphin Dilokhne - nhà tâm lí học người Hungary với công trình nghiên cứu "Vai trò của phương pháp giao tiếp trực tiếp trong việc phát triển ngôn ngữ trẻ em mẫu giáo"; Maria Keliar, nhà tâm lí học người Ba Lan với vấn đề "Phát triển ngôn ngữ giao tiếp của trẻ em mẫu giáo". đều khẳng định vai trò to lớn của GT giữa trẻ em mẫu giáo với nhau và với người lớn trong việc phát triển vốn từ, khả năng phát âm cũng như mối quan hệ gắn bó giữa GT với ngôn ngữ trong các thời kì khác nhau của nhu cầu GT trẻ em [Dẫn theo 111].
Perreklicman - Nhà tâm lí học người Thụy Sỹ, trong các công trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra ảnh hưởng của GT trẻ em - bạn bè đến sự phát triển trí tuệ. Perreklicman cho rằng trẻ mẫu giáo lớn có thể phát triển tư duy tốt hơn nếu được hoạt động cùng nhau dưới sự hướng dẫn của GV. Khi nghiên cứu mối quan hệ gắn bó mẹ - con trong năm đầu, theo quan điểm của các nhà tâm lí học người Mỹ như: Spitz, Klaus và Kenell, Nguyễn Khắc Viện đã chỉ ra mối quan hệ giữa GT và mức độ phát triển trí tuệ cảm xúc ở các em [135]. Trong các nghiên cứu trên đối tượng trẻ em lứa tuổi vườn trẻ và mẫu giáo, V.
Mukhina đã chỉ ra rằng, nhu cầu GT của trẻ với người lớn ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển tâm lí và lĩnh hội ngôn ngữ của trẻ em (học phát âm, học cách sử dụng môi lưỡi và hơi thở, sự thông hiểu ngôn ngữ, hiểu từ và sử dụng từ). Mukhina: "Quá trình đứa trẻ thông hiểu lời nói thường xảy ra như sau: người lớn hỏi đứa trẻ: Cái gì đó? Ở đâu? Câu hỏi gây ra cho đứa trẻ phản ứng định hướng đối với hành vi của người lớn. Kết quả của sự lặp đi lặp lại nhiều lần là xuất hiện mối quan hệ giữa từ do người lớn nói ra với đối tượng mà họ chỉ cho trẻ nhìn thấy. Điều quan trọng là đứa trẻ không đơn giản tìm đối tượng được người lớn nói lên để nhìn vào nó, đứa trẻ tìm đối tượng để tiếp tục giao lưu với người lớn.", cứ như vậy, 13 bằng GT với người lớn, sự hiểu ngôn ngữ, sự lĩnh hội ngôn ngữ được hoàn thiện [79].
Nghiên cứu của M. Lixinna và các nhà khoa học khác chứng minh được rằng, đặc điểm GT của trẻ với người lớn và bạn cùng tuổi được thay đổi phức tạp trong suốt thời kì thơ ấu. Sự phát triển GT, sự phức tạp hóa và làm giàu hình thức GT tạo nên những khả năng mới cho đứa trẻ tiếp thu kiến thức và KN từ môi trường xung quanh. Điều này có ý nghĩa quan trọng nhất đối với sự phát triển tâm lí và nhân cách của trẻ.
Ở tuổi mẫu giáo có hình thức GT với người lớn mà M. Lixinna gọi là GT "hợp tác trí tuệ". Bởi dạng GT này có đặc điểm hợp tác trong hoạt động nhận thức.