Tổng quan luận án

Công trình "Kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi Tỉnh Tuyên Quang qua trò chơi đóng vai theo chủ đề" do nghiên cứu sinh Phạm Thị Thu Thủy thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Ngọc Lan, bảo vệ năm 2016 tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Luận án thuộc chuyên ngành Tâm lý học chuyên ngành, mã số đào tạo 62.01.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định dựa trên vai trò của giao tiếp và kỹ năng giao tiếp đối với sự phát triển tâm lý, nhân cách con người. Ở lứa tuổi mẫu giáo lớn (5-6 tuổi), trẻ chuẩn bị bước vào lớp 1, đòi hỏi phải được trang bị các kỹ năng nền tảng để thích ứng với môi trường tiểu học. Hoạt động vui chơi, trong đó trò chơi đóng vai theo chủ đề (ĐVTCĐ) giữ vị trí hoạt động chủ đạo, là phương thức giúp trẻ thể nghiệm các vai trò xã hội, rèn luyện năng lực ngôn ngữ, biểu đạt cảm xúc và giảm thiểu các biểu hiện nhút nhát. Tuy nhiên, thực tế quan sát của tác giả cho thấy trẻ 5-6 tuổi còn bộc lộ nhiều hạn chế: rụt rè, ngại tiếp xúc, không hiểu trọn vẹn lời nói của đối tượng giao tiếp, khó kiềm chế cảm xúc, lúng túng trong việc khởi xướng chủ đề, khó diễn đạt ý nghĩ mạch lạc, thiếu kỹ năng lắng nghe và thuyết phục. Đặc biệt, tại địa bàn nghiên cứu, một bộ phận trẻ chỉ quen sử dụng tiếng "mẹ đẻ" trong sinh hoạt hàng ngày, tạo ra rào cản khi tham gia giao tiếp chung. Tác giả chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu: trước thời điểm triển khai đề tài, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ trên bình diện tâm lý học.

Mục đích nghiên cứu của luận án là: Nghiên cứu lý luận, phân tích thực trạng mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp ở trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ và những yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đó; từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định gồm 3 nội dung:

  1. Xây dựng cơ sở lý luận cơ bản về kỹ năng giao tiếp, trò chơi đóng vai theo chủ đề, kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ, từ đó xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
  2. Khảo sát thực trạng mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp ở trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ và các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp ở trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ.
  3. Đề xuất một số biện pháp tâm lý sư phạm để phát triển kỹ năng giao tiếp ở trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là: Mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp ở trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở các khía cạnh:

  • Về nội dung: Tập trung vào thực trạng mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp và đề xuất các biện pháp tâm lý - sư phạm nâng cao kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi trong phạm vi hoạt động trò chơi ĐVTCĐ tại trường mầm non.
  • Về không gian và khách thể: Nghiên cứu trên trẻ và giáo viên ở lớp 5-6 tuổi tại hai cơ sở đại diện của tỉnh Tuyên Quang: Trường Mầm non Tân Trào (khu vực nội thành thuộc thành phố Tuyên Quang) và Trường Mầm non Hòa Phú (khu vực huyện vùng sâu, vùng xa thuộc huyện Chiêm Hóa).
  • Về thời gian: Nghiên cứu được triển khai trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả hệ thống hóa các hướng nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan trực tiếp đến đề tài:

Các nghiên cứu quốc tế:

  • Về kỹ năng: Tác giả điểm lại hướng tiếp cận của tâm lý học hành vi (J. Watson) và tâm lý học hoạt động của các tác giả Liên Xô. Hướng nghiên cứu đại cương xem xét bản chất khái niệm kỹ năng, quy luật hình thành, mối liên hệ giữa kỹ năng và kỹ xảo (A.V. Zaporozhets, A.N. Leontiev). Hướng nghiên cứu cụ thể phân tích kỹ năng trong lao động công nghiệp (V.V. Chebysheva) và trong hoạt động sư phạm (N.V. Kuziơmina, N.D. Levitov).
  • Về giao tiếp: Tác giả phân chia ba hướng tiếp cận chính:
    • Hướng tiếp cận giao lưu - giao tiếp tồn tại ở cả người và động vật (B.D. Parygin, Chakin, B.Xocolov). Tác giả luận án chỉ rõ hạn chế của hướng này là chưa phân biệt được sự khác nhau bản chất giữa hành vi động vật và giao tiếp xã hội loài người, coi nhẹ vai trò của giáo dục và văn hóa.
    • Hướng tiếp cận truyền và nhận thông tin (Osgood C.E., M. Argyle, Ia. Janousek, C. Shannon/N. Senen, Moles). Luận án nhận xét hướng này cơ giới hóa quá trình giao tiếp, bỏ qua các yếu tố tâm lý cá nhân như nhu cầu, động cơ, nhận thức và văn hóa.
    • Hướng tiếp cận tương tác liên nhân cách (L.P. Bueva, A.A. Bodalev, B.F. Lomov, L.S. Vygotsky, V.P. Zakharov). Hướng nghiên cứu này khẳng định giao tiếp là sự tiếp xúc giữa các chủ thể, hiện thực hóa các quan hệ xã hội, từ đó làm phát triển tâm lý của các bên tham gia. Tác giả lựa chọn hướng tiếp cận tương tác liên nhân cách làm định hướng cho đề tài.
  • Về kỹ năng giao tiếp của trẻ em: Kak Hai Nodich nghiên cứu vai trò của ngôn ngữ theo các giai đoạn lứa tuổi từ sơ sinh; Linda Maget giới thiệu kỹ năng giao tiếp xã hội và môi trường kết bạn; Steven Gutstein nhấn mạnh việc hình thành quan hệ xã hội thông qua nhận thức về bản thân và đồ vật xung quanh; A. Kurbawa và Ph. Rakhmatinlira phân loại kỹ năng giao tiếp thành ba nhóm (kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, kỹ năng diễn đạt nghĩa trong câu, kỹ năng diễn đạt các đặc điểm văn phạm); V.P. Zakharov phân chia 10 kỹ năng giao tiếp dựa trên các bước tiến hành của một pha giao tiếp (từ thiết lập quan hệ, lắng nghe, tự chủ cảm xúc đến thuyết phục và điều khiển quá trình giao tiếp).
  • Về trò chơi và giao tiếp qua trò chơi: G. Lixina khẳng định tính chủ động giao tiếp của trẻ mẫu giáo phụ thuộc vào tính chủ động của người lớn; Anna Freud và Klorep nghiên cứu nhu cầu giao tiếp; K. Gross tiếp cận trò chơi dưới góc độ bản năng sinh học giải tỏa năng lượng; Z. Freud nhìn nhận trò chơi qua lăng kính phân tâm học. Trái lại, các nhà tâm lý học Mác-xít (L.S. Vygotsky, D.B. Elkonin, N.K. Krupskaya, G.V. Plekhanov, A.S. Makarenko) khẳng định trò chơi có nguồn gốc từ lao động, mang bản chất xã hội, giúp trẻ lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội và chuẩn bị tham gia vào cuộc sống của người lớn.

Các nghiên cứu tại Việt Nam:

  • Nghiên cứu về kỹ năng và giao tiếp: Nguyễn Quang Uẩn làm rõ mối quan hệ giữa tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong việc hình thành năng lực; Ngô Công Hoàn và Hoàng Anh nghiên cứu cấu trúc ba nhóm kỹ năng giao tiếp sư phạm (định hướng, định vị, điều khiển); Trần Trọng Thủy phân tích mối quan hệ giữa văn hóa và kỹ năng giao tiếp; Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Thị Minh Đức tiếp cận giao tiếp như quá trình xác lập quan hệ người - người nhằm hiện thực hóa các quan hệ xã hội; Nguyễn Văn Đồng phân chia kỹ năng giao tiếp thành ba nhóm (ngôn ngữ, phi ngôn ngữ, liên nhân cách); Nguyễn Văn Lũy và Trần Thị Tuyết Hoa phân tích bản chất kỹ năng giao tiếp là sự phối hợp giữa chuẩn mực hành vi xã hội với vận động cơ thể và ngôn ngữ.
  • Nghiên cứu về trò chơi và giao tiếp của trẻ mẫu giáo: Lê Thị Bừng phân tích vai trò của trò chơi ĐVTCĐ đối với sự hình thành nhân cách; Lê Minh Thuận (1989) nghiên cứu trò chơi phân vai theo chủ đề; Nguyễn Thạc và Nguyễn Xuân Thức (1995) khảo sát nhóm giao tiếp bạn bè của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi; Lê Xuân Hồng (1996) nghiên cứu đặc điểm giao tiếp trong nhóm chơi không cùng độ tuổi; Đinh Văn Vang (2002) nghiên cứu kỹ năng dạy học bằng trò chơi của giáo viên mầm non.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trong nước và quốc tế đã xây dựng nền tảng lý luận về giao tiếp, kỹ năng giao tiếp và vai trò giáo dục của trò chơi. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu khảo sát thực nghiệm mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động trò chơi ĐVTCĐ trên bình diện tâm lý học, đồng thời làm rõ sự khác biệt giữa các nhóm trẻ theo địa bàn trường học (nội thành và vùng sâu), giới tính và dân tộc tại một tỉnh miền núi như Tuyên Quang.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của Tâm lý học xã hội, Tâm lý học nhân cách, Tâm lý học phát triển và Tâm lý học hoạt động, vận dụng ba cách tiếp cận cơ bản: tiếp cận hoạt động, tiếp cận liên ngành và tiếp cận tương tác liên nhân cách.

Các khái niệm công cụ và khung phân tích:

  • Khái niệm kỹ năng: Luận án xác định kỹ năng là sự vận dụng các tri thức, kinh nghiệm của chủ thể vào thực hiện có hiệu quả hoạt động nào đó. Luận án vận dụng quan điểm của K.K. Platonov và G.G. Golubev về 5 giai đoạn hình thành kỹ năng (từ kỹ năng sơ đẳng thực hiện bằng thử - sai, biết cách làm nhưng chưa đầy đủ, có kỹ năng chung riêng lẻ, có kỹ năng phát triển cao đến giai đoạn có tay nghề), quan điểm phân biệt kỹ năng nguyên sinh và kỹ năng thứ sinh (kỹ năng bậc cao) của X. Kixegov, cùng lý thuyết hình thành hành động trí óc qua 5 giai đoạn của P.Ya. Galperin.

Bảng so sánh giữa kỹ xảo và kỹ năng bậc cao được tác giả tổng hợp trong luận án như sau:

Tiêu chí Kỹ xảo Kỹ năng bậc cao
1. Độ sáng tạo, linh hoạt Thấp, máy móc, khuôn mẫu Cao
2. Sự tham gia của ý thức Được giải phóng khỏi ý thức Ý thức tham gia tích cực
3. Thời gian xuất hiện Có trước Có sau
4. Cơ sở hình thành Các tri thức và kỹ năng nguyên sinh, tập luyện dẫn đến tự động hóa Các tri thức và kỹ xảo, rèn luyện trong quá trình hoạt động có ý thức
5. Điều kiện hình thành Trong điều kiện, yêu cầu nhất định, không thay đổi Từng bước phức tạp dần trong các điều kiện khác nhau
  • Khái niệm giao tiếp của trẻ mẫu giáo: Là quá trình tiếp xúc tâm lý của trẻ với những người khác nhằm mục đích truyền đạt, tiếp nhận, trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm và hành động của trẻ với các chủ thể qua việc hiểu ngôn ngữ và diễn đạt ngôn ngữ bằng lời nói, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ; thông qua giao tiếp nhân cách của trẻ được hình thành và phát triển.
  • Khái niệm trò chơi ĐVTCĐ: Là dạng trò chơi sáng tạo, đặc trưng của tuổi mẫu giáo, trong đó trẻ thực hiện các vai của người lớn theo một chủ đề nhất định và thực hiện hành động theo chức năng xã hội mà họ đảm nhận. Cấu trúc trò chơi gồm: chủ đề chơi, nội dung chơi, vai chơi, hành động chơi, luật chơi, đồ chơi (đồ chơi công nghiệp, vật thay thế, vật thật), hoàn cảnh tưởng tượng và mối quan hệ trong khi chơi (quan hệ thực giữa các bạn chơi và quan hệ chơi giữa các vai).
  • Cấu trúc kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ: Được xác định thông qua 3 nhóm kỹ năng thành phần:
    1. Kỹ năng nghe hiểu lời nói giao tiếp trong thực hiện trò chơi ĐVTCĐ;
    2. Kỹ năng sử dụng lời nói giao tiếp trong thực hiện trò chơi ĐVTCĐ;
    3. Kỹ năng thực hiện một số quy tắc giao tiếp thông thường trong thực hiện trò chơi ĐVTCĐ.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa các nguồn tài liệu khoa học liên quan.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp quan sát (phương pháp chủ yếu): Theo dõi trực tiếp các biểu hiện hành vi, ngôn ngữ, cử chỉ và cách thức tương tác của trẻ trong quá trình tổ chức các buổi chơi ĐVTCĐ tại trường mầm non.
    • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (phương pháp chủ yếu): Trưng cầu ý kiến của đội ngũ giáo viên trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ lớp 5-6 tuổi nhằm đánh giá mức độ biểu hiện kỹ năng và các yếu tố ảnh hưởng.
    • Phương pháp phân tích chân dung tâm lý điển hình (phương pháp chủ yếu): Tiến hành nghiên cứu trường hợp chuyên sâu trên các trẻ đại diện cho từng mức độ kỹ năng (cao, trung bình, yếu).
    • Các phương pháp bổ trợ: Phỏng vấn sâu giáo viên, phương pháp chuyên gia, phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động của trẻ.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 22.0 để tính toán điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn (ĐLC), kiểm định mối tương quan giữa các kỹ năng thành phần và tương quan giữa các nhóm yếu tố tác động tới kỹ năng giao tiếp.

Nguồn dữ liệu: Thu thập từ mẫu khách thể gồm trẻ 5-6 tuổi và giáo viên tại Trường Mầm non Tân Trào (đại diện cho địa bàn nội thành thành phố Tuyên Quang) và Trường Mầm non Hòa Phú (đại diện cho địa bàn vùng sâu, vùng xa thuộc huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề

Nội dung chương tập trung làm rõ bức tranh tổng thể về lịch sử nghiên cứu kỹ năng, giao tiếp, kỹ năng giao tiếp và trò chơi trẻ em trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả phân tích các luận điểm tâm lý học Mác-xít về bản chất xã hội của hoạt động chơi, khẳng định trò chơi ĐVTCĐ không xuất phát từ bản năng sinh học thuần túy mà nảy sinh trong tiến trình lịch sử khi vị trí của đứa trẻ trong hệ thống phân công lao động xã hội thay đổi (dẫn theo D.B. Elkonin). Trò chơi phản ánh mối quan hệ giữa người với người và đóng vai trò chuẩn bị cho đứa trẻ tham gia vào cuộc sống lao động tương lai (dẫn theo A.S. Makarenko). Tác giả chỉ ra rằng tại Việt Nam, các nghiên cứu đã bước đầu tiếp cận kỹ năng giao tiếp sư phạm và giáo dục kỹ năng sống, song mảng nghiên cứu thực nghiệm đo lường các kỹ năng giao tiếp cụ thể của trẻ 5-6 tuổi qua hoạt động trò chơi ĐVTCĐ tại các trường mầm non miền núi vẫn chưa được giải quyết một cách toàn diện.

Chương 2: Cơ sở lý luận về kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề

Chương 2 thiết lập khung lý thuyết cho toàn bộ đề tài:

  • Phân tích cơ chế tâm lý hình thành kỹ năng theo quan điểm của P.Ya. Galperin qua 5 giai đoạn: thiết lập cơ sở định hướng hành động; hành động với đồ vật; hành động ngôn ngữ bên ngoài; hành động với lời nói thầm; hành động trong trí óc. Phân biệt bản chất giữa kỹ xảo (tự động hóa, máy móc) và kỹ năng bậc cao (sáng tạo, có ý thức).
  • Phân tích đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi: Sự phát triển mạnh mẽ của tính đồng cảm, khả năng xúc cảm và các loại tình cảm bậc cao (trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ). Đồng thời, tác giả phân tích nét tâm lý "duy kỷ" còn tồn tại ở lứa tuổi này: trẻ chưa phân biệt ranh giới giữa ý muốn chủ quan và quy tắc khách quan, dễ dẫn đến tranh chấp đồ chơi nếu không được giáo dục kịp thời. Về mặt giao tiếp, vốn từ của trẻ đạt từ 3.500 đến 4.500 từ; trẻ bắt đầu hiểu các sắc thái biểu cảm, biết dùng phương tiện phi ngôn ngữ và tiếp thu các quy tắc hành vi mang tính chuẩn mực khái quát; hiện tượng trẻ "mách cô" được lý giải là bước kiểm tra, khẳng định tính bắt buộc của các quy tắc xã hội.
  • Cấu trúc và tổ chức trò chơi ĐVTCĐ: Làm rõ vai chơi và hoàn cảnh tưởng tượng là hai thành tố trung tâm. Tác giả dẫn số liệu của Nguyễn Xuân Thức chứng minh ở độ tuổi 5 tuổi, tỷ lệ trẻ chơi cùng nhau chiếm 78,9%, chơi cạnh nhau chiếm 11,4% và chơi một mình chỉ chiếm 9,7%. Phân tích sự đan xen giữa quan hệ thực (thỏa thuận chủ đề, phân chia vai, giải quyết tranh chấp) và quan hệ chơi (thực hiện chức năng xã hội của vai diễn).
  • Xây dựng Bảng 2.1 mô tả chi tiết các tiêu chí và chỉ báo biểu hiện của 3 nhóm kỹ năng thành phần trong trò chơi ĐVTCĐ, đồng thời phân loại các nhóm yếu tố chủ quan (bản thân trẻ) và khách quan (hoạt động chơi, giáo viên, gia đình, bạn bè) tác động đến kỹ năng này.

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày thiết kế nghiên cứu thực nghiệm:

  • Lộ trình tổ chức nghiên cứu được thực hiện qua các giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2016, bao gồm: nghiên cứu lý luận; xây dựng công cụ khảo sát; tiến hành điều tra thử nghiệm; khảo sát chính thức; xử lý và phân tích số liệu thực nghiệm.
  • Xây dựng hệ thống công cụ đo lường: Phiếu quan sát hành vi giao tiếp của trẻ trong các trò chơi ĐVTCĐ, phiếu điều tra an-két dành cho giáo viên mầm non, biên bản phỏng vấn sâu và quy trình phân tích chân dung tâm lý điển hình.
  • Thang đo và cách tính điểm: Xác định thang đánh giá định lượng cho từng chỉ báo của 3 kỹ năng thành phần, quy đổi điểm trung bình để xếp loại mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp (cao, trung bình, yếu).
  • Khách thể nghiên cứu (Bảng 3.1): Trình bày đặc điểm cơ cấu mẫu nghiên cứu gồm trẻ 5-6 tuổi và giáo viên tại Trường Mầm non Tân Trào (đại diện khu vực đô thị nội thành) và Trường Mầm non Hòa Phú (đại diện khu vực nông thôn miền núi, huyện Chiêm Hóa).
  • Quy trình kiểm định thống kê: Ứng dụng phần mềm SPSS 22.0 để xử lý các tham số ĐTB, ĐLC, phân tích mối tương quan Pearson giữa các biến số và so sánh chênh lệch điểm trung bình theo trường, giới tính, dân tộc.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi tỉnh Tuyên Quang qua trò chơi đóng vai theo chủ đề

Chương 4 trình bày toàn bộ số liệu thực nghiệm thu được từ quá trình khảo sát và xử lý thống kê:

  • Đánh giá chung mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp (Bảng 4.1): Kết quả khảo sát cho thấy kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi tỉnh Tuyên Quang qua trò chơi ĐVTCĐ chỉ đạt ở mức độ trung bình. Trẻ còn lúng túng trong việc kết nối lời thoại với bạn chơi và chưa thuần thục trong việc thể hiện các hành vi ứng xử tương ứng với vai chơi.
  • Biểu hiện theo các kỹ năng thành phần:
    • Kỹ năng nghe hiểu lời nói giao tiếp (Bảng 4.2): Trẻ tiếp thu được các yêu cầu đơn giản nhưng khả năng lắng nghe trọn vẹn và giải mã sắc thái biểu cảm phức tạp trong lời nói của bạn chơi còn hạn chế.
    • Kỹ năng sử dụng lời nói giao tiếp (Bảng 4.3): Khả năng diễn đạt ý kiến, sử dụng câu đúng ngữ cảnh và khởi xướng cuộc đối thoại còn gặp khó khăn, đặc biệt là việc phối hợp lời nói với cử chỉ, nét mặt.
    • Kỹ năng thực hiện quy tắc giao tiếp (Bảng 4.4): Trẻ cơ bản nắm được quy tắc chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi nhưng việc tự giác duy trì luật chơi và nhường nhịn bạn chơi khi nảy sinh xung đột chưa cao.
    • Tương quan giữa các kỹ năng (Bảng 4.5): Số liệu thống kê chỉ ra mối tương quan thuận có ý nghĩa giữa kỹ năng nghe hiểu, kỹ năng sử dụng lời nói và kỹ năng thực hiện quy tắc giao tiếp trong cấu trúc chung của kỹ năng giao tiếp.
  • Phân tích sự khác biệt theo các biến nhân khẩu học:
    • So sánh theo trường (Biểu đồ 4.1): Điểm trung bình kỹ năng giao tiếp của trẻ Trường Mầm non Tân Trào cao hơn có ý nghĩa so với trẻ Trường Mầm non Hòa Phú. Sự chênh lệch này xuất phát từ điều kiện cơ sở vật chất, đồ chơi và môi trường tiếp xúc xã hội tại khu vực thành thị thuận lợi hơn khu vực miền núi khó khăn.
    • So sánh theo giới (Biểu đồ 4.2): Luận án ghi nhận sự khác biệt về mức độ thể hiện kỹ năng giao tiếp giữa trẻ nam và trẻ nữ trong việc lựa chọn chủ đề chơi và cách thức biểu đạt ngôn ngữ.
    • So sánh theo dân tộc (Biểu đồ 4.3): Có sự phân hóa rõ nét giữa trẻ người Kinh và trẻ thuộc các dân tộc thiểu số tại huyện Chiêm Hóa, do rào cản ngôn ngữ tiếng Việt và mức độ tự tin khi tham gia vào các trò chơi tập thể.
  • Các yếu tố ảnh hưởng và mối tương quan:
    • Phân tích các yếu tố chủ quan (Bảng 4.6): Bao gồm vốn từ, tính tích cực hoạt động, đặc điểm khí chất và mức độ vượt qua tính duy kỷ của bản thân trẻ.
    • Phân tích các yếu tố khách quan (Bảng 4.7): Bao gồm phương pháp tổ chức và sự định hướng của giáo viên, môi trường giao tiếp gia đình, quan hệ bạn bè và không khí tâm lý lớp học.
    • Mối tương quan giữa các nhóm yếu tố với biểu hiện kỹ năng giao tiếp (Bảng 4.8): Kết quả xử lý tương quan khẳng định nhóm yếu tố thuộc về bản thân trẻ và nhóm yếu tố thuộc về hoạt động vui chơi giữ vai trò tác động mạnh mẽ nhất đến kết quả kỹ năng giao tiếp của trẻ.
  • Nghiên cứu trường hợp điển hình: Luận án phân tích sâu chân dung tâm lý của các trẻ đại diện cho nhóm kỹ năng cao, trung bình và yếu, qua đó làm sáng tỏ cơ chế tâm lý và hoàn cảnh gia đình tác động đến hành vi giao tiếp cụ thể trong trò chơi.
  • Đề xuất các biện pháp tâm lý - giáo dục (trang 129-148): Tác giả xây dựng hệ thống biện pháp can thiệp nhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp cho trẻ thông qua việc chuẩn bị chủ đề chơi phong phú, hướng dẫn trẻ sử dụng vật thay thế mang tính biểu trưng, tạo các tình huống có vấn đề trong trò chơi để kích thích trẻ đàm thoại, và tăng cường bồi dưỡng năng lực tổ chức của giáo viên mầm non.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận:

  • Bổ sung và hệ thống hóa các vấn đề lý luận về kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi thông qua trò chơi ĐVTCĐ trên cơ sở tiếp cận tâm lý học hoạt động và tương tác liên nhân cách.
  • Xác định cấu trúc kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ gồm 3 nhóm kỹ năng thành phần: Kỹ năng nghe hiểu lời nói giao tiếp trong thực hiện trò chơi ĐVTCĐ; Kỹ năng sử dụng lời nói giao tiếp trong thực hiện trò chơi ĐVTCĐ; Kỹ năng thực hiện một số quy tắc giao tiếp thông thường trong thực hiện trò chơi ĐVTCĐ.
  • Làm rõ hệ thống các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của trẻ trong hoạt động chơi, phân chia thành nhóm yếu tố chủ quan (bản thân trẻ) và nhóm yếu tố khách quan (hoạt động vui chơi, giáo viên, gia đình, bạn bè, không khí lớp học).

Đóng góp mới về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp dữ liệu thực chứng khẳng định thực trạng kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi tại tỉnh Tuyên Quang qua trò chơi ĐVTCĐ chỉ đạt ở mức độ trung bình.
  • Phát hiện và lượng hóa sự khác biệt về mức độ kỹ năng giao tiếp giữa các nhóm khách thể: trẻ ở trường nội thành (Mầm non Tân Trào) đạt kết quả cao hơn trẻ ở trường vùng sâu, vùng xa (Mầm non Hòa Phú); chỉ ra sự khác biệt giữa các nhóm giới tính và dân tộc.
  • Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhóm yếu tố, chỉ ra rằng yếu tố bản thân trẻ và yếu tố tổ chức hoạt động vui chơi là hai nhóm tác động mạnh mẽ nhất đến mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ.
  • Đề xuất hệ thống các biện pháp tâm lý - giáo dục có tính khả thi nhằm hỗ trợ giáo viên mầm non nâng cao hiệu quả tổ chức trò chơi ĐVTCĐ, phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo lớn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Về nội dung: Luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu kỹ năng giao tiếp của trẻ trong hoạt động trò chơi ĐVTCĐ tại trường mầm non; chưa mở rộng khảo sát kỹ năng giao tiếp của trẻ trong các hoạt động khác như học tập, lao động tự phục vụ hay sinh hoạt gia đình.
  • Về địa bàn và khách thể: Khảo sát thực tiễn chỉ được tiến hành trên mẫu khách thể tại 02 trường mầm non đại diện thuộc tỉnh Tuyên Quang (Trường Mầm non Tân Trào và Trường Mầm non Hòa Phú) trong mốc thời gian từ 2013 đến 2016, chưa đại diện cho các vùng miền sinh thái, văn hóa khác nhau trên phạm vi cả nước.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng nghiên cứu kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi sang các dạng hoạt động khác ở trường mầm non và trong môi trường gia đình.
  • Mở rộng phạm vi khảo sát thực nghiệm tại các tỉnh, thành phố thuộc các vùng địa lý khác nhau để có dữ liệu so sánh đa chiều giữa các vùng văn hóa và điều kiện kinh tế - xã hội.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tâm lý học phát triển, Tâm lý học lứa tuổi và Giáo dục học mầm non: Luận án cung cấp cơ sở lý luận, hệ thống khái niệm công cụ và bộ tiêu chí, chỉ báo đánh giá kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo lớn qua hoạt động chơi. Phần phân tích các hướng tiếp cận giao tiếp và cơ chế hình thành kỹ năng (Galperin, Platonov) ở Chương 1 và Chương 2 là tài liệu học thuật có giá trị tham khảo chuyên môn.
  • Đối với cán bộ quản lý giáo dục mầm non và giáo viên trực tiếp giảng dạy: Luận án cung cấp bức tranh thực trạng và các bảng số liệu cụ thể về những điểm hạn chế trong kỹ năng nghe hiểu, sử dụng ngôn ngữ và tuân thủ quy tắc của trẻ. Phần biện pháp tâm lý - sư phạm ở Chương 4 là nguồn tư liệu ứng dụng trực tiếp để thiết kế các chủ đề chơi, lựa chọn đồ chơi thay thế và xử lý các tình huống giao tiếp cho trẻ lớp 5-6 tuổi, đặc biệt tại các trường miền núi có học sinh dân tộc thiểu số.
  • Đối với phụ huynh học sinh: Cung cấp hiểu biết về đặc điểm tâm lý lứa tuổi (hiện tượng duy kỷ, tính chủ động giao tiếp) để gia đình phối hợp với nhà trường rèn luyện nền nếp giao tiếp trước khi trẻ vào lớp 1.

Câu hỏi thường gặp

1. Kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ trong luận án được cấu thành từ những nhóm kỹ năng nào? Theo kết quả nghiên cứu lý luận và mô hình đánh giá của luận án, kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ gồm 3 nhóm kỹ năng thành phần:

  • Kỹ năng nghe hiểu lời nói giao tiếp trong thực hiện trò chơi ĐVTCĐ;
  • Kỹ năng sử dụng lời nói giao tiếp trong thực hiện trò chơi ĐVTCĐ;
  • Kỹ năng thực hiện một số quy tắc giao tiếp thông thường trong thực hiện trò chơi ĐVTCĐ.

2. Mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp chung của trẻ 5-6 tuổi tỉnh Tuyên Quang qua khảo sát thực tế đạt kết quả ra sao? Căn cứ vào số liệu phân tích thực trạng tại Chương 4 (Bảng 4.1), mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp chung của trẻ 5-6 tuổi tỉnh Tuyên Quang qua trò chơi ĐVTCĐ chỉ đạt ở mức độ trung bình. Trẻ giao tiếp chưa tốt, còn lúng túng trong việc khởi xướng hội thoại, khó kiềm chế cảm xúc và gặp khó khăn trong việc phối hợp hành động và lời nói theo vai chơi.

3. Luận án ghi nhận sự khác biệt nào về kỹ năng giao tiếp giữa các trường khảo sát tại Tuyên Quang? Dữ liệu khảo sát so sánh (Biểu đồ 4.1) chỉ ra sự khác biệt rõ rệt: Trẻ tại Trường Mầm non Tân Trào (địa bàn nội thành thuộc thành phố Tuyên Quang) đạt mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp cao hơn so với trẻ tại Trường Mầm non Hòa Phú (địa bàn vùng sâu, vùng xa thuộc huyện Chiêm Hóa). Tác giả lý giải sự chênh lệch này gắn liền với điều kiện cơ sở vật chất, môi trường giao tiếp xã hội và yếu tố ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ của trẻ em vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

4. Yếu tố nào có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ theo kết quả phân tích tương quan? Dựa trên kết quả phân tích tương quan tại Chương 4 (Bảng 4.8), trong các nhóm yếu tố được khảo sát (bản thân trẻ, hoạt động vui chơi, giáo viên, gia đình, bạn bè, không khí lớp học), hai nhóm yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong mẫu nghiên cứu là yếu tố thuộc về bản thân trẻ và yếu tố thuộc về hoạt động vui chơi.

5. Nét tâm lý "duy kỷ" ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo được phân tích trong luận án? Trong Chương 2, tác giả phân tích "duy kỷ" là đặc điểm tâm lý khiến trẻ chưa phân biệt rõ giữa yếu tố chủ quan của bản thân và tính khách quan của hiện thực, chưa nhận rõ giữa ý muốn cá nhân và quy tắc xã hội bắt buộc. Trong trò chơi, nét tâm lý này dẫn đến hiện tượng trẻ chỉ muốn thỏa mãn nhu cầu riêng, tranh chấp đồ chơi của bạn, bắt bạn chơi phải phục tùng đòi hỏi của mình, dễ gây ra xung đột và làm tan rã nhóm chơi nếu giáo viên không can thiệp giáo dục ý thức tự ý thức cho trẻ.

Kết luận

Luận án của tác giả Phạm Thị Thu Thủy đã giải quyết đồng bộ từ cơ sở lý luận đến khảo sát thực tiễn về kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi tỉnh Tuyên Quang thông qua hoạt động trò chơi đóng vai theo chủ đề. Kết quả xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0 tại hai trường mầm non đại diện cho thấy kỹ năng giao tiếp của trẻ đạt mức trung bình, có sự phân hóa theo địa bàn trường, giới tính, dân tộc và chịu tác động lớn nhất từ bản thân trẻ cùng hoạt động vui chơi. Hệ thống biện pháp tâm lý - sư phạm được đề xuất trong luận án cung cấp căn cứ thực tiễn để nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo lớn tại các trường mầm non.