Chương 1 NHÂN VẬT ĐI TÌM BẢN NGÃ – NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT 1. Giới thuyết về bản ngã 1. Bản ngã trong triết lí Đông Tây Học theo tinh thần minh triết của những học giả phương Đông - đó là đập vỡ các khái niệm để thâm nhập thẳng vào thực tại, vào sự vật chứ không phải là đi giải thích các ý niệm về sự vật, đi vào các khái niệm giả tạo của sự vật - chúng tôi mong muốn bắt đầu việc kiến giải “Bản ngã là gì” bằng cách xé vụn lí thuyết trừu tượng thành những mảng nhỏ thực tế, nhưng cuối cùng nhận thấy rằng để đạt đến sự ngộ của minh triết là điều không đơn giản. Vì vậy chúng tôi cần đến những kiến thức lí thuyết làm nền tảng, khởi đi từ quan niệm khoa học của nhà tâm lí học phương Tây, chúng tôi tiếp cận và so sánh bản ngã với những quan điểm mang tính chất tâm linh trong nền văn hóa phương Đông.
Theo Freud, bản ngã (Ego) là một trong ba cấp độ của hoạt động tinh thần của con người bên cạnh cái tự ngã (Id) và cái siêu ngã (Superego). Freud cho rằng cái tự ngã sẽ phát triển lên thành bản ngã cùng với sự trưởng thành của con người. Nếu tự ngã là những ham muốn bản năng được dẫn dắt hoàn toàn bằng nguyên lý khoái lạc thì bản ngã bị chi phối bởi nguyên lý “thích ứng với thực tại”. Bản ngã biết được thế giới xung quanh và nhận ra rằng phải kìm hãm những khuynh hướng phạm pháp của cái tự ngã nhằm ngăn ngừa mọi xung đột với luật lệ của xã hội.
Như Freud nói, bản ngã là viên trọng tài giữa những đòi hỏi bạt mạng của cái tự ngã và sự kiểm soát của thế giới bên ngoài. Như vậy, đối với Freud, bản ngã thực sự hành động như một nhân viên kiểm duyệt, cắt xén, sửa đổi những thúc giục của cái tự ngã, làm cho những thúc giục này phù hợp với tình hình thực tế. Nhà tâm lý học R. Goldenson cũng khẳng định bản ngã là một phần của nhân cách trong sự giao tiếp với thế giới bên ngoài.
Phần lớn, bản ngã hoạt động trong phạm vi ý thức, nhưng ngoài ra còn gồm cả vài quá trình vô thức. Giống như bản năng sinh tồn, bản ngã là chủ thể đòi hỏi của nguyên tắc ý muốn. Nhưng khi con người trưởng thành, tự ý thức ảnh hưởng nhiều bởi nguyên tắc thực tại thì lúc đó, bản ngã bị xé ra bởi những đối nghịch của ý muốn và thực tại. Nó thường giải quyết mâu thuẫn này bằng cố gắng thỏa mãn ước muốn bản năng trong những cách mà xã hội chấp nhận được.
Như vậy xét thấy trong quan điểm của cả hai nhà tâm lý học là có sự tương đồng. Qua việc hai ông đều nhấn mạnh đến một đặc tính của bản ngã - đó là những ước muốn bản năng trong sự điều chỉnh của con người sao cho tương thích với những quy chế của xã hội - thì khái niệm bản ngã cũng dần dần sáng tỏ. Bản ngã bao hàm cả sự kết nối giữa phần con và phần người trong danh từ “con người”, tức là những nhu cầu thực thể, sinh lý và cả những ước muốn mang tính chất tinh thần. Bản ngã giúp con người ý thức được thật đầy đủ về mối quan hệ giữa nó và thế giới.
Như vậy, bản ngã tiệm cận khái niệm cái tôi cá nhân nhưng nó không đơn thuần chỉ là cái tôi cá nhân bởi lẽ cái tôi mang tính chất cô lập, chủ quan trong khi đó bản ngã như một sự định vị của cái tôi trong cái nhìn khách quan lẫn chủ quan. Mặt khác bản ngã xét về bản thân ngữ nghĩa thì mang ý nghĩa tích cực hơn trong khi cái tôi được hiểu có thể bao gồm những mặt tốt và hạn chế. Không có cái nhìn nhị nguyên luận hay duy lý giống như phương Tây, phương Đông nhìn nhận bản ngã trong chiều hướng mang tính cảm tính hơn là dựa trên việc nghiên cứu chiều sâu vô thức. Bản ngã cũng là một khái niệm khá quan trọng, được đặt ra từ rất lâu đời trong triết học và tôn giáo của các nước phương Đông, mà đặc biệt là ở hai nước có nền văn minh rực rỡ Ấn Độ và Trung Hoa, tuy nhiên nó không được phân biệt một cách rạch ròi, tường minh mà đặt trong sự kết hợp với nhiều phạm trù tư tưởng khác.
Mặc dù trong Upanisad – tác phẩm được xem là khởi nguồn của tư tưởng triết học, quan niệm nhân sinh và vũ trụ của người Ấn Độ cổ xưa – ở đoạn đối thoại bàn về vấn đề Bất tử, Thần Chết Yama khi giảng giải cho Nachiketas có nói: “Rất khó mà hiểu Bản ngã, nếu nghe một thầy giáo tầm thường, thấp kém giảng dạy, dù ta cố công suy nghĩ miệt mài, Bản ngã phải được một người thầy khác truyền giảng, không có cách nào khác, Bản Ngã còn nhỏ bé hơn cả cái bé nhỏ”[31, tr.30] nhưng thông qua những câu chuyện được bàn đến trong Katha Upanishad, Chandogya Upanishad, Brihad – Aranyaka Upanishad… bản ngã dần dần được đề cập và cắt nghĩa thông qua một khái niệm là Atman. Atman được đặt trong mối quan hệ tương quan với Brahman và được khẳng định nếu như Braman là cái ngã vũ trụ đại đồng thì Atman là cái ngã cá nhân, nếu Brahman là Đấng tối cao thì Atman là ý thức cá nhân. Trong quá trình luận giải, những bậc đạo sĩ thi nhân thấu thị không phân biệt bản ngã và tự ngã mà xem đó là một sự tổng hòa trong Atman và Atman lại hòa hợp nhất thể trong Brahman. Jung có nói ý thức về con người cá nhân – cái tôi – xuất hiện rất sớm, khi con người thoát khỏi “vô thức tập thể” của cộng đồng bầy đàn.
Trung Quốc với một chiều dài lịch sử phát triển lâu đời thì ắt hẳn không thể không quan tâm đến cái tôi đó (cho dù sự đánh giá còn tùy thuộc góc nhìn tâm linh văn hóa của mỗi dân tộc): Khổng tử khi đề xướng tôn ti trật tự cho tổ chức xã hội Trung Quốc thời cổ đã đề cập đến vị trí của các cá nhân, đề cao sự tu thân tức là đòi hỏi sự nhìn nhận đánh giá về bản thân mình; Lão tử trong quan niệm “vô vi” cũng chủ trương “vị ngã” bằng cách rút lui khỏi thế sự, đó là sự rút lui về ốc đảo của cá nhân mình, tách rời mọi quan hệ xã hội, chỉ mình ta đối diện với ta; trong sách Mạnh Tử có một vốn từ phong phú chỉ những thao tác cơ bản trong quan hệ mình với mình: tự phản (tự xét mình), phản thân (xét lấy mình), tỉnh ngô thân (xét bản thân mình), bổn chư thân (lấy mình làm gốc), …đó là tiền đề cho sự hình thành của chủ thể. Quả vậy, khi giải mã đời sống tinh thần văn hóa của con người phương Đông thì người ta nhận thấy rằng người Trung Quốc đặc biệt có sự tự ý thức về mình và sự ý thức về người khác để tạo ra một hệ thống “tư duy đa thanh” và buộc con người cá thể phải bộc lộ tới tận cùng chiều sâu bên trong bằng sự tự ý thức. Và cuối cùng sẽ là một cuộc đối thoại bắt buộc giữa con người và thế giới để con người tự nhận thức ra mình. Sự tự nhận thức đó người Trung Quốc xem như là một quá trình ngụp lặn trong thế giới nội tâm để khám phá ra một cõi riêng của Tiểu ngã.
Tiểu ngã này là một khái niệm bao hàm tất cả những gì thuộc về con người cá nhân, từ hoạt động vật chất cho đến thế giới tinh thần của con người. Cho nên bản ngã cũng nằm trong phạm trù này. Và như vậy, cũng giống như ở Ấn Độ, bản ngã không có rường cột lí thuyết cho riêng mình mà hòa nhập vào quan niệm nhân sinh về con người và vũ trụ của người Trung Hoa. Khi đánh giá chung, ta thấy, bản ngã trong tâm thức của người phương Đông xét về mặt nội hàm khái niệm thì cũng tương tự như người phương Tây, cũng chứa đựng những yếu tố thuộc về con người cá nhân, là cái làm cho ta chính là “ta”, nhưng về mặt ngoại diên nó lại hàm chứa thêm nhiều nét ý nghĩa khác.
Một là, do bản ngã khởi phát từ trong quan niệm của tư tưởng và tôn giáo chứ không trên cơ sở tâm lí học nên nó mang tính hướng nội cao hơn, nó hướng đến chiều sâu của thế giới tâm linh, chiêm nghiệm về chính bản thân mình do đó nó mang tính chất tĩnh. Hai là, do người phương Đông không chủ trương đi tìm màu sắc riêng cho tính cách của mình một cách mạnh mẽ như người phương Tây mà chú trọng sự dung hòa giữa cá nhân và vũ trụ, xem con người và vạn vật là đồng nhất thể, mọi sự phân biệt chỉ là tạm thời và miễn cưỡng cho nên bản ngã không phân tách mà thường được xét trong địa vị con người nói chung và có khi được đề cao ngang tầm với đại vũ trụ. Ba là, bản ngã luôn được đặt trong sự tương quan với phi ngã, một mặt không thừa nhận cái tôi cá thể nhưng mặt khác là đòi hỏi cái tôi đạo đức, cái tôi trách nhiệm. Nhưng dù cho được nhìn từ góc độ nào đi nữa, quan niệm văn hóa của phương Đông hay phương Tây; dù cho được tiếp cận từ phương diện nào đi nữa, tâm lý hay tâm linh, thì bản ngã vẫn mang những thuộc tính cố hữu của nó.
Thứ nhất, bản ngã của mỗi con người mang tính duy nhất. Như trên đã nói, bản ngã là sự định vị của cái tôi, cái tạo nên tính cách riêng, bản sắc riêng của mỗi con người cho nên nó là cái không lặp lại, hay nói cách khác nó mang tính độc nhất. Nói như nhà thơ Xuân Diệu: “Ta là một, là riêng, là thứ nhất” (Bài thơ Hy Mã Lạp Sơn) thì bản ngã đòi hỏi ở nó sự không trùng lắp. Mặc dù giữa muôn triệu con người đã và đang tồn tại dù ít dù nhiều bắt buộc phải có sự gặp gỡ nào đó về tính cách, tâm lí, sở thích, quan điểm,… nhưng xét một cách tổng thể thì mỗi người mang một hằng số giá trị riêng.
Hằng số đó chính là bản ngã. Như vậy, bản ngã là một trong những công cụ hữu hiệu nhất để nhận diện, phân biệt con người với con người (tuy nhiên không phải ai cũng được phát hiện và phát hiện được một cõi rất riêng này). Thứ hai, bản ngã luôn có những cuộc đối thoại đặc biệt. Trước hết là cuộc đối thoại nội tâm của nó.