Chương 1 là những vấn đề chung. Ở chương này, chúng tôi giới thiệu khái quát về một số lý thuyết cơ bản của thuyết phân tâm học, quan niệm của phân tâm học về sáng tạo văn học, những tiền đề cơ bản của việc vận dụng phân tâm học trong việc đọc tiểu thuyết Rừng Na-uy. - Chương 2 nghiên cứu thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Rừng Na-uy từ góc nhìn phân tâm học. Chúng tôi khảo sát nhân vật thông qua các dạng thức biểu hiện cụ thể của các nhân vật như Toru Watanabe – một bản thể đầy mâu thuẫn; Naoko – một bản thể đầy thương tổn; Reiko – một bản thể luôn khát khao cống hiến nhưng rơi vào bi kịch; Midori – một bản thể sống động.
Trong từng đối tượng, chúng tôi sẽ đi sâu vào phân tích những biểu hiện cụ thể về tính cách, tư tưởng, tình cảm,… của nhân vật từ góc nhìn phân tâm học. - Chương 3 nghiên cứu các phương thức biểu hiện tiểu thuyết Rừng Na-uy từ góc nhìn phân tâm học như nghệ thuật xây dựng cốt truyện; biểu tượng; nghệ thuật xây dựng không gian và thời gian nghệ thuật qua ẩn ức; ngôn ngữ mang màu sắc phân tâm,. PHÂN TÂM HỌC VÀ CƠ SỞ CỦA VIỆC ỨNG DỤNG PHÂN TÂM HỌC TRONG NGHIÊN CỨU TIỂU THUYẾT RỪNG NA-UY 1. Một số vấn đề lý thuyết trọng tâm của phân tâm học 1.
Lý thuyết về vô thức và ý thức Trong toàn bộ sự nghiệp nghiên cứu của Freud, vấn đề mà ông xem là cốt lõi về phân tâm học chính là khái niệm vô thức. Thực ra đây không phải là một khái niệm hoàn toàn mới do Freud nghĩ ra mà trước ông đã có nhiều người nghiên cứu về nó. Một trong những tên tuổi lừng lẫy có thể kể đến chính là nhà triết học người Pháp Descartes, tiếp sau ông còn rất nhiều những nhà nghiên cứu khác như Hegel Schopenhauer hay Nietzsche cũng đã về khái niệm này và đã đạt được những kết quả đáng trân trọng. Tuy nhiên, phải đến Freud, khái niệm vô thức mới thực sự trở thành một khoa học dùng để nghiên cứu thế giới đầy bí ẩn bên trong con người.
Khái niệm vô thức có thể hiểu theo nhiều cách nhưng tựu trung đó là những yếu tố tâm lý tồn tại bên trong mỗi con người nhưng con người không thể điều khiển được nó. Theo Từ điển tâm lý học, vô thức là “khái niệm dùng để chỉ tập hợp cấu tạo, quá trình và cơ chế tâm lý mà sự vận hành và ảnh hưởng của chúng chủ thể không ý thức được” (Nguyễn Văn Lũy, Lê Quang Sơn, 2009). Vô thức mặc dù tồn tại bên trong mỗi con người nhưng nó không được kiểm soát bởi ý thức, nó là vùng tâm lý vượt ra ngoài khả năng kiểm soát của con người. Vô thức hoạt động theo một cơ chế riêng của nó và nó có một sức mạnh vô hình to lớn đến mức ý thức khó có thể kiểm soát được nó.
Cho nên có những suy nghĩ, hành động mà con người không thể lý giải nổi. Là một bác sĩ tâm thần, Freud không chỉ quan tâm đến những người bị bệnh tâm thần như người ta vẫn nghĩ. Cái mà Freud đặc biệt quan tâm và ông đã cống hiến cho chúng ta cả một lý thuyết chung về tâm trí con người - lý thuyết về vô thức. Ông cho rằng chứng nhiễu tâm hay loạn thần kinh chức năng (neurosis) không đơn giản là những triệu chứng bất thường có tính bệnh lý mà đúng hơn là một loại hoạt động khác của tâm trí, cái mà ông gọi là vô thức.
Từ những công trình nghiên cứu về phương pháp chữa bệnh, Freud đã rất đề cao vai trò của vô thức trên con đường con người tìm kiếm bản thân của chính mình. Trong cuốn Giải mã giấc mơ, Freud đã từng khẳng định “Như Lipps đã nói, chúng ta cần nhìn thấy trong vô thức cái nền móng của đời 8 sống tâm trí”; “Vô thức là bản thân của tâm trí và hiện thực cốt lõi của nó”. Qua những câu nói trên, rõ ràng Freud đã vô cùng đề cao vị trí của vô thức. Trong các nghiên cứu của mình, Freud đã phân chia tâm trí làm hai phần: phần tiền ý thức (preconscious) chứa đựng tất cả các ý nghĩ và ký ức có khả năng trở thành ý thức và phần vô thức bao gồm các mong ước, khát vọng hay ham muốn mà hầu hết mang tính tính dục và đôi khi có tính phá hoại.
Thật ra hai cái này rất dễ lẫn lộn vì nó có cùng điểm đặc thù, đó là nội dung của chúng vượt thoát khỏi tầm kiểm soát của ý thức. Với cái vô thức, Freud cho rằng nó là nguồn gốc của tất cả. Ông khẳng định “Không thể có sự việc mang tính ý thức mà không có giai đoạn vô thức trước đó, trong khi vô thức có thể bỏ qua giai đoạn ý thức” (Sigmund Freud, 2005). Và điều làm nên nét đặc thù đầu tiên của vô thức chính là kiểu kiểm duyệt đặc biệt của nó “Nếu đúng là chính một hình thức kiểm duyệt cũng điều chỉnh sự biến đổi từ tiền ý thức sang ý thức, chúng tôi sẽ phân biệt rõ hơn các hệ thống tiền ý thức và ý thức.
Tại thời điểm này, chúng ta chỉ cần ủng hộ giả thuyết rằng hệ thống tiền ý thức cùng chia sẻ những đặc điểm của hệ thống ý thức, và rằng một sự kiểm duyệt nghiêm ngặt chi phối bước chuyển từ vô thức sang tiền ý thức (hoặc sang ý thức)” (Sigmund Freud, 1915). Chính sự kiểm duyệt này làm cho vô thức không thể tiếp cận và bí hiểm. Chính nó là yếu tố ngăn cản việc gợi nhớ lại các kí ức bị dồn nén. Nói đến vô thức tức là nói đến một vùng tâm lí vượt ra khỏi tầm kiểm soát tâm lí của con người, trong thực tế con người đã nhiều lần cảm thấy bất lực vì không thể nào kiểm soát được những suy nghĩ và hành động của bản thân dù những suy nghĩ, hành động đó lý trí hoàn toàn không muốn có nó.
Vô thức nó ẩn sâu bên trong con người, và vì nó khó kiểm soát nên đôi khi lý trí, ý thức có thể bị nó lấn át. Chính vì thế, vô thức là hoạt động độc lập, nó tách rời hoàn toàn với ý thức, nó không bị bất kì sự chi phối nào của ý thức. Vô thức là “một hoạt động tinh thần bị dồn nén, nó không thể đi vào ý thức” (Diệp Mạnh Lý, 2005). Sự dồn nén, ẩn ức bên trong biến cái hữu thức thành vô thức.
Như Freud đã chỉ rõ rằng toàn bộ những nội dung bị dồn nén này sẽ tạo thành điều cốt lõi của vô thức. Và chính bằng cách này mà “Vô thức được hình thành từ các đại diện của các xung năng đang muốn giải phóng mình khỏi sự đầu tư của chúng, nói cách khác từ những mối xúc động đi kèm ham muốn” 9 (Sigmund Freud, 1915). Freud chỉ ra rằng cái bị dồn nén chính là các biểu tượng của xung năng. Một xung năng không bao giờ có thể trở thành đối tượng của ý thức, chỉ có biểu tượng đại diện cho nó mới có thể làm được điều đó.
Một xung năng cũng không thể được biểu trưng trong vô thức bằng một cách nào khác ngoài biểu tượng. Trong quá trình nghiên cứu để tìm phương pháp chữa trị căn bệnh hystêri, Freud và cộng sự của ông nhận thấy những trở ngại tâm lý như sợ hãi, lo âu, xấu hổ hay đau đớn về thể chất là nguyên nhân chủ yếu gây ra căn bệnh này. Freud đã sử dụng phương pháp thôi miên để chữa cho người bệnh bằng cách để cho họ “giải tỏa” những kí ức bị dồn nén. Tuy nhiên, “giải tỏa” không phải là cách tháo gở duy nhất mà cơ chế tâm thần của một cá nhân khỏe mạnh có được, khi người đó bị chấn thương tâm thần.
Như vậy khái niệm vô thức được suy ra từ lý thuyết về sự dồn nén, những điều bị dồn nén chính là nguyên mẫu của vô thức. Freud nhận ra rằng, cái được dồn nén được tạo nên bởi sự quay lại trong vô thức bởi các yếu tố đã từng ở đây bởi con đường mà xung năng đi theo xuất phát từ vô thức để đến ý thức thông qua trung gian tiền ý thức. Trong quá trình các xung năng muốn giải phóng thoát ra khỏi vô thức, không phải xung năng nào cũng được phép xâm nhập vào ý thức, nó quay trở lại vô thức và nếu như những yếu tố này bị dồn nén là bởi vì nó xung đột với một số yêu sách khác và như thế sẽ gây ra sự khó chịu. Từ kết quả nghiên cứu và điều trị cho các bệnh nhân của mình, Freud và Breuer đã cho ra đời cuốn sách : Nghiên cứu về chứng hysteri (Studies in Hysteria, 1895), trong đó Freud và Breuer đã đi đến những kết luận quan trọng: Bệnh nhân Hysteria bị dày vò vì những kí ức đau đớn, khó chịu mang bản chất gây chấn thương, trong cuộc đời của những bệnh nhân này, họ đã gặp những tổn thương nào đó về cả thể chất lẫn tinh thần, những điều mà họ cho là tội lỗi, mặc cảm không dám cho người khác biết.
Họ che giấu nó, và cố gắng dùng ý thức để che đậy, điều khiển cho đến một lúc nào đó những sự kiện ấy dần quên lãng và rơi vào tiềm thức nhưng nó không mất đi mà chỉ ẩn khuất đâu đó là nó trở thành những xung năng bị dồn nén trong vô thức. Nó gây ra những triệu chứng rối loạn thần kinh chức năng làm mất khả năng kiểm soát suy nghĩ, hành động của con người. Sử dụng liệu pháp chữa bệnh bằng thôi miên, Freud thấy mọi triệu chứng đều biến mất khi ta truy ngược về thời điểm nó xảy ra lần đầu. 10 Có thể gợi lại các triệu chứng bằng cách khơi lại những sự kiện khó chịu mà bệnh nhân đã quên và khi triệu chứng xuất hiện với cường độ mạnh khi bệnh nhân đã thổ lộ ra những dồn nén, ẩn ức của mình.
Như vậy, những ký ức gây chấn thương chính là tác nhân gây bệnh. Đây là một ý niệm có tính cách mạng, chống lại những quan điểm trước đây vốn cho rằng một tác nhân mâu thuẫn tâm lí gây ảnh hưởng trực tiếp với quá trình sinh lý của con người. Nhưng rồi Freud phát hiện ra thuật thôi miên không thể giúp bệnh nhân không thể chữa khỏi hoàn toàn cho các bệnh nhân vì các kí ức gây chấn thương thường không tự chúng mất đi mà vẫn tiếp tục là lực lượng chủ động và vô thức chi phối hành vi của người bệnh.