CHƯƠNG 1: TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. KHÁI QUÁT VÈ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT 1. Khái niệm về bệnh tâm thần phân liệt Tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng tiến triển từ từ, có khuynh hướng mạn tính, căn nguyên hiện nay chưa rõ ràng, làm cho người bệnh dần dần tách khỏi cuộc sống bên ngoài, thu dần vào thế giới bên trong, làm cho tình cảm trở nên khô lạnh, khả năng làm việc và học tập ngày càng sút kém, có những hành vi và ý nghĩ kỳ dị, khó hiểu [2];[17];[23]. Sơ lược lịch sử nghiên cứu bệnh tâm thần phân liệt 1.
Lịch sử phát triển của ngành tâm thần và quan niệm về bệnh Tâm thần - Trên Thế giới Lịch sử phát triển của ngành tâm thần học là lịch sử đấu tranh giữa một bên là quan điểm duy tâm và bên kia là quan điểm duy vật khoa học. - Thời thượng cổ Bệnh được coi như là do thần thánh tức giận gây ra, do đó người bệnh tâm thần (NBTT) bị ngược đãi. Trong thời kỳ này, Hippocrate là người đầu tiên đã đưa ra quan niệm bệnh Tâm thần do bệnh của bộ não. - Thời kỳ trung cổ Bệnh tâm thần bị xem như là do ma quỷ xâm nhập.
Vì vậy, NBTT bị huy nã như người phạm pháp và bị trừng phạt vô cùng dã man như treo cổ, thiêu sống, xiềng xích, gông cùm, đánh đập,. - Cuối thế kỷ 18 đến thế kỷ 19 Ở Pháp, dưới ảnh hưởng của các nhà duy vật và cuộc cách mạng tư sản Pháp, những quan điểm duy vật và khoa học về bệnh tâm thần chiếm ưu thế. Nhà tâm thần học Philippe Pinel đã giải phóng NBTT khỏi xiềng xích, biến trại giam thời Trung cổ thành bệnh viện Tâm thần (BVTT). Sau đó, Esquirol đã kế tục và phát triển tốt đẹp.
6 Ông đã mô tả nhiều bệnh cảnh lâm sàng, phân loại các bệnh tâm thần, thực hiện chế độ làm bệnh án và theo dõi hằng ngày NBTT. Đặc biệt, ở Châu Âu đã nổi lên phong trào cải cách BVTT. Nửa cuối thế kỷ 19, xuất hiện nhiều nhà tâm thần học nổi tiếng như: Charcot với lâm sàng bệnh Hysteria, Mangan (1893) gọi là hoang tưởng mãn tính mà một bộ phận kết thúc bằng trạng thái mất trí vô tình cảm, R. Moerl (1857) gọi là bệnh mất trí sớm, mô tả một loại bệnh phát triển ở những người trẻ tuổi và thường đi đến mất trí.
Ở Đức, nửa sau thế kỷ 19, Tâm thần học mới bắt đầu chuyển hướng. Nhiều nhà tâm thần học xuất hiện và ra đời hàng loạt các tên gọi của bệnh.Griesinger mô tả trong y văn, dưới cái tên sự mất trí tiên phát (Primary dementia); K. Kahlbanm (1863) và Hecker.E (1870) gọi là tâm thần thanh xuân, mô tả bệnh tâm thần ở lứa tuổi thanh niên; E Kraepelin (1898) thống nhất các bệnh cảnh khác nhau nói trên dưới tên gọi chung là bệnh mất trí sớm (Dementia Praecox), nguyên nhân do rối loạn chuyển hóa, bệnh đưa đến mất trí ở những người trẻ tuổi. Ở Nga, trong thời kỳ này đã xuất hiện một số BVTT có tổ chức.
Ngành tâm thần tách khỏi ngành nội khoa và có một số công trình nghiên cứu khoa học như: Cocxacop đã phát triển và chứng minh luận điểm cho rằng bệnh tâm thần là bệnh của vỏ não và của toàn bộ cơ thể,. Ở Anh, Conolly đã kêu gọi mọi người thực hiện “chể độ không gò bó đối với người bệnh tâm thần”. Maudsley đã vận dụng thuyết tiến hóa của Darwin vào nghiên cứu và khẳng định bệnh tâm thần phát sinh là do rối loạn các trung khu thần kinh ờ não. - Từ đầu thế kỷ 20 đến nay Tâm thần học ngày càng phát triển mạnh mẽ và trở thành một ngành quan trọng trong Y học và Y tế.
về mặt tổ chức y tể, các BVTT hiện đại được xây dựng, NBTT được giải phóng đến mức tối đa, các biện pháp tái thích ứng xã hội được áp dụng rộng rãi, hệ thong Dixpanxe tâm thần của Nga nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh ngoại trú và quản lý chặt chẽ NBTT được áp dụng có hiệu quả. 7 Năm 1911, Bleulef (Thụy Sĩ) căn cứ vào sự phân tích các diễn biến lâm sàng của các ca “trí tuệ sa sút sớm” đã chỉ ra rối loạn chủ yếu của bệnh này là tâm thần bị chia cắt. Ông đã đề xuất tên gọi mới là Tâm thần phân liệt (Schizophrenia). TTPL được dịch từ chữ Schizophrenic.
Phrenie nghĩa là tâm thần và Schizo là chia cắt, không hòa hợp, không thống nhất hay phân liệt. Năm 1992, TCYTTG tập trung trí tuệ của 915 nhà Tâm thần học có uy tín của 52 Quốc gia trên thế giới, thống nhất đưa ra bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD-10F) và xếp bệnh TTPL vào mục F20-F29. Từ đó, bệnh TTPL được kết họp giữa lâm sàng cổ điển và quan điểm tâm thần học hiện đại [2];[28];[29]. - Tại Việt Nam Trước kia, nước ta không có một cơ sở chữa bệnh tâm thần, không có thày thuốc và cũng không có những tài liệu về bệnh tâm thần nói chung và TTPL nói riêng mà chỉ những thày lang có các bài thuốc cổ truyền chữa bệnh.
Bên cạnh đó, còn có những phương pháp chữa bệnh mang tính chất mê tín dị đoan như: cúng lễ, lên đồng, đâm đinh vào lưng,. Thời kỳ thực dân Pháp, suốt 80 năm thống trị gần như không làm gì để chữa bệnh mà chỉ cho xây dựng hai nhà thương điên ở “Biên Hòa” và ở Vôi “Bắc Giang”. Ngoài ra, còn một khu “Điên” ở bệnh viên Bạch Mai. Nhưng thực chất, các cơ sờ này chỉ là khu giam giữ NB.
Sau ngày giải phóng thủ đô (1954), Đảng, Chính phủ và Bộ Y tế đã quan tâm đến ngành Tâm thần học. Từ đây, ngành Tâm thần học Việt Nam đã phát triển nhanh chóng. -Năm 1957, Bộ môn Thần kinh và Tâm thần trường Đại học Y Hà Nội được thành lập. -Năm 1962, Hội thần kinh, tâm thần và phẫu thuật thần kinh ra đời, đánh dấu một bước tiến mới của ngành Tâm thần.
-Năm 1963, BVTT Thường Tín được thành lập, tiếp nhận NB từ các tỉnh chuyển về và từ năm 1969 trở thành BVTT Trung ương giúp ngành Y tế trong việc chỉ đạo ngành Tâm thần. 8 Sau khi đất nước được giải phóng (1975), ngành tâm thần có những điều kiện phát triển. Bệnh viện Biên hòa với số giường 2000 chiếc đã được cải tạo, NBTT được giải phóng đến mức tối đa, liệu pháp lao động được phát triển tạo điều kiện cho việc phục hồi chức năng (PHCN) và thích ứng xã hội. Các tỉnh, thành phổ phía Nam lần lược thành lập các BVTT, tổ chức được mạng lưới trạm tâm thần đến các tuyến cơ sở.
Tháng 9 năm 1981 tại Đại hội toàn quốc lần thứ hai của ngành Tâm thần, các ngành như: Y tế, thương binh xã hội và công an đã nhất trí phối họp trong một tổ chức chung để bảo vệ SKTT và xã hội. Ngày 10/10/1998, ngày Sức khỏe tâm thần thế giới lần thứ 7, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định thành lập Chương trình Quốc gia chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng. Đó là vinh dự lởn cho ngành tâm thần đồng thời cũng là một trách nhiệm nặng nề giao cho ngành tâm thần. Tóm lại, ngành tâm thần nước ta ra đời muộn hơn so với thế giới, lại gặp phải ách đô hộ của thực dân và đế quốc, song nhờ sự đi đúng hướng nên đã phát triển nhanh chóng.
Tuy nhiên, ngành Tâm thần còn gặp rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý, điều trị ngoại trú và CSNBTTPL tại Cộng đồng [15];[16];[28];[30]. Một số đặc điểm dịch tễ bệnh Tâm thần phân liệt tại Việt Nam Bệnh TTPL là một bệnh tương đối phổ biến, theo TCYTTG tỷ lệ mắc bệnh khoảng 0,3 - 1% dân số, tại Việt Nam tỷ lệ này dao động từ 0,52- 0,62% [4];[8];[ 12]. Bệnh TTPL thường gặp ở tuổi trẻ. Đa số trường họp phát bệnh ở lứa tuổi từ 15-35 chiếm 49- 65%.
Tỷ lệ mắc điểm là 0,49- 0,53% ; tỷ lệ mới mắc trong một năm 0,29- 0,56%o; xác suất mắc bệnh 1,26 - 1,44%; tỷ lệ NB nữ/nam là như nhau; số NB khởi phát ở độ tuổi 15- 25 có tỷ lệ cao nhất 49 - 65%. Tỷ lệ độc thân ở NB nam là 40,58%; tỷ lệ mãn tính và hay tái phát là 88 - 94%; tỷ lệ thuyên giảm tốt là 33% [3];[13];[23]. Bệnh nguyên và bệnh sinh bệnh tâm thần phân liệt Trong suốt quá trình lịch sử của ngành tâm thần học, các tác giả đã kiên trì nghiên cứu và thử nghiệm, có nhiều giả thuyết của các chuyên ngành liên quan đến Tâm thần học như: Hoá sinh học, Di truyền học, Thần kinh học, Triết học,.nhưng 9 cho đến nay bệnh nguyên và bệnh sinh của TTPL vẫn chưa xác định được rõ ràng, chưa có một giả thuyết nào mang đến một kết quả thuyết phục [2]; [40]. Giả thuyết về sinh hóa Nghiên cứu của nhiều tác giả cho rằng ở NBTTPL có rối loạn chuyển hoá các chất trung gian hoá học thần kinh như Serotonin, Catecho lamin,.
Giả thuyết về rối loạn cấu trúc và chửc năng não Một hướng nghiên cứu được chú ý gần đây là giả thuyết về rối loạn động hệ Dopaminergic. Cơ sờ khoa học của giả thuyết này là hiệu quả điều trị của các thuốc hướng thần làm phong tỏa Receptors Dopamin và làm giảm sự dẫn truyền Dopamin ở các vùng khác nhau của não. Do vậy, bệnh TTPL có thể liên quan đến thừa hoặc tăng tương đổi hoạt tính Neuron hệ thống Dopamine trung ương. Một số giả thuyết về di truyền học Bệnh TTPL và những rối loạn liên quan đến TTPL xảy ra với tỷ lệ cao trong số những người có mối liên hệ sinh học với NBTTPL.
Một số nghiên cứu cho thấy rằng nếu bố hoặc mẹ mắc bệnh thì khả năng mắc bệnh của con cái từ 10% - 20% và nếu cả bố và mẹ mắc bệnh thì tỷ lệ con mắc bệnh tăng lên đến 30% - 40%. Một số giả thuyết khác Môi trường tâm lý xã hội, mất khả năng thích ứng với các Stress tâm lý, rối loạn cấu trúc và xung đột gia đình, các biến đổi văn hóa,.tuy không phải là nguyên nhân nhưng cũng là những nhân tố thúc đẩy bệnh phát sinh và phát triển. Lâm sàng bệnh tâm thần phân liệt 1. Triệu chứng lâm sàng bệnh tâm thần phân liệt - Roi loạn ngôn ngữ Ngôn ngữ của người mắc bệnh TTPL thường nghèo nàn, tối nghĩa, khó hiểu, thường gặp hiện tượng lời nói bị ngắt quãng, thêm vào những từ lạ khi nói, dòng liên tưởng lỏng lẻo, có lúc nói nhanh, có lúc nói chậm, không nói hoặc nói liên hồi, có lúc nói một mình, nói hỗn độn đầu gà đuôi vịt, lặp đi lặp lại.