Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Bệnh tiêu chảy cấp là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn cầu, đặc biệt tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Ước tính mỗi năm có khoảng 1,3 tỷ lượt trẻ dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp và gần 4 triệu trẻ tử vong do các biến chứng mất nước và rối loạn điện giải. Tại khu vực châu Á, Việt Nam đứng thứ 3 về tỷ lệ trẻ nhập viện vì tiêu chảy cấp (chiếm khoảng 54% tổng số ca nhập viện nhi khoa, tương đương tỷ lệ cứ 2 trẻ nhập viện thì có 1 trẻ mắc tiêu chảy). Cùng với các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, tiêu chảy cấp vẫn là gánh nặng y tế và kinh tế đáng kể. Mặc dù các chương trình mục tiêu quốc gia về phòng chống tiêu chảy (CDD) triển khai từ năm 1982 đã kéo giảm tỷ lệ tử vong từ 3,33% xuống còn 0,084% vào năm 1993, đồng thời việc đưa vắc xin phòng ngừa Rotavirus vào chương trình tiêm chủng đã mang lại nhiều chuyển biến tích cực, tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng vẫn duy trì ở mức cao.
Tại Bệnh viện Đa khoa khu vực (ĐKKV) Phúc Yên (tỉnh Vĩnh Phúc), nghiên cứu năm 2014 của Lưu Thị Hồng Quyên chỉ ra rằng tỷ lệ trẻ đến khám vì tiêu chảy cấp chiếm 22,5%, tỷ lệ nhập viện điều trị là 16,8% và tỷ lệ tiêu chảy do Rotavirus chiếm 22,4%. Trên thực tế lâm sàng tại Khoa Nhi của bệnh viện, mô hình bệnh tật ghi nhận bệnh nhân điều trị nội trú vì tiêu chảy cấp do các nguyên nhân luôn dao động từ 20% đến 30% và chưa có xu hướng thuyên giảm.
Trong quản lý bệnh tiêu chảy ở trẻ dưới 5 tuổi, vai trò của người mẹ trong việc phòng bệnh, phát hiện sớm dấu hiệu mất nước, xử trí bù nước - điện giải ban đầu và nuôi dưỡng đúng cách tại nhà có ý nghĩa quyết định nhằm giảm thiểu biến chứng nặng và tử vong. Tuy nhiên, việc trang bị kiến thức và hướng dẫn thực hành đúng cho các bà mẹ vẫn chưa được chú trọng đồng đều. Xuất phát từ thực tiễn đó, học viên Đồng Thị Đông đã thực hiện báo cáo chuyên đề tốt nghiệp Chuyên khoa cấp I ngành Nội người lớn tại Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định dưới sự hướng dẫn của TS. Mai Thị Lan Anh với đề tài: "Thực trạng kiến thức chăm sóc xử trí tại nhà cho bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc bệnh tiêu chảy tại khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên năm 2022".
Đề tài xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Mô tả thực trạng kiến thức chăm sóc xử trí tại nhà cho bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc bệnh tiêu chảy tại Khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên năm 2022.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao kiến thức chăm sóc xử trí tại nhà cho bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc bệnh tiêu chảy tại cơ sở nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là 179 bà mẹ có con dưới 5 tuổi được chẩn đoán mắc tiêu chảy cấp đang điều trị nội trú tại Khoa Nhi Bệnh viện ĐKKV Phúc Yên trong thời gian từ tháng 01/2022 đến tháng 06/2022. Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm: bà mẹ không đồng ý tham gia nghiên cứu, không có khả năng nghe/trả lời phỏng vấn hoặc có rối loạn tâm thần, và bà mẹ không trực tiếp chăm sóc trẻ trong thời gian điều trị tại viện.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và hướng dẫn chuyên môn
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và chăm sóc trẻ tiêu chảy của Bộ Y tế (ban hành năm 2021), chương trình Lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh (IMCI) và các khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Hệ thống lý thuyết tập trung vào các nội dung trọng tâm:
- Định nghĩa bệnh học: Tiêu chảy là tình trạng đi ngoài phân lỏng hoặc toé nước trên 3 lần trong 24 giờ. Đợt tiêu chảy được xác định từ ngày đầu tiên bị tiêu chảy cho đến ngày mà sau đó 2 ngày liền phân trẻ trở lại bình thường. Tiêu chảy cấp kéo dài không quá 14 ngày; tiêu chảy kéo dài là đợt tiêu chảy kéo dài trên 14 ngày.
- Căn nguyên và đường lây truyền: Lây truyền chủ yếu qua đường phân - miệng. Căn nguyên gồm virus (chiếm ưu thế là Rotavirus ở trẻ dưới 2 tuổi, Adenovirus, Norwalk virus), vi khuẩn (chiếm 25% là E. coli với 5 nhóm chính gồm ETEC, EAEC, EPEC, EIEC, EHEC; trực trùng lỵ Shigella; Campylobacter jejuni; Salmonella; phẩy khuẩn tả Vibrio cholerae 01), ký sinh trùng (Entamoeba histolytica, Giardia lamblia, Cryptosporidium) và nấm (Candida albicans).
- Phân loại và phác đồ xử trí mất nước:
- Không mất nước: Xử trí theo Phác đồ A tại nhà dựa trên 3 nguyên tắc (Bù nước sớm bằng dung dịch Oresol hoặc dịch thay thế; Duy trì dinh dưỡng đầy đủ giàu đạm; Nhận biết dấu hiệu nặng cần đưa trẻ tái khám ngay).
- Mất nước mức độ nhẹ đến trung bình: Xử trí theo Phác đồ B tại cơ sở y tế (Bù Oresol đường uống liều 75 ml/kg trong 4 giờ, theo dõi đánh giá lại).
- Mất nước nặng: Xử trí cấp cứu theo Phác đồ C (Truyền tĩnh mạch dung dịch Ringer lactat hoặc NaCl 0,9% theo phác đồ thời gian dựa vào độ tuổi).
Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang (cross-sectional study).
- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện toàn bộ các bà mẹ thỏa mãn tiêu chuẩn chọn lựa trong thời gian nghiên cứu, thu thập được $n = 179$ đối tượng.
- Công cụ và phương pháp thu thập số liệu: Phỏng vấn trực tiếp từng bà mẹ bằng bộ câu hỏi cấu trúc thiết kế sẵn theo hướng dẫn của Bộ Y tế (2021). Bộ công cụ bao gồm 3 nhóm biến số chính:
- Đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ (tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, số con).
- Kiến thức nhận biết bệnh, dấu hiệu mất nước và dung dịch bù nước điện giải ORS (khái niệm, tác dụng, cách pha gói ORS chuẩn 20,5g/1 lít nước hoặc ORS cam/200ml nước, cách xử trí khi trẻ nôn, thời hạn dùng trong 24 giờ).
- Thực hành chăm sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh bình sữa, rửa tay và thói quen sử dụng thuốc tại nhà.
- Phương pháp xử lý số liệu: Nhập và phân tích dữ liệu bằng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 20.0; sử dụng thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ %, số trung bình $\pm$ độ lệch chuẩn) và kiểm định mối liên quan thống kê (giá trị $p$, ngưỡng ý nghĩa $p < 0,05$).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương này hệ thống hóa các kiến thức chuyên môn về dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh, triệu chứng lâm sàng và các phác đồ điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em:
- Trình bày chi tiết các yếu tố nguy cơ về phía vật chủ (độ tuổi 6–11 tháng trong giai đoạn ăn sam, suy dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch, trẻ đẻ non) và các tập quán bất lợi (ăn nhân tạo, bú bình khó tiệt trùng, cho ăn sam sớm trước 4 tháng, nguồn nước ô nhiễm, vệ sinh cá nhân kém).
- Chuẩn hóa các bước thăm khám lâm sàng đánh giá dấu hiệu mất nước: tri giác (tỉnh táo, vật vã kích thích, li bì/hôn mê), dấu hiệu mắt trũng, tình trạng khóc có nước mắt, niêm mạc môi lưỡi, mức độ khát (uống bình thường, uống háo hức, không uống được/uống kém), độ chun giãn da (dấu hiệu nếp véo da mất nhanh, mất chậm $< 2$ giây, hoặc rất chậm $> 2$ giây), độ lõm thóp và lượng nước tiểu.
- Tổng quan các bằng chứng nghiên cứu trên thế giới: Dữ liệu khảo sát nhân khẩu học y tế (EDHS) tại các nước thu nhập thấp cho thấy tỷ lệ tiêu chảy trẻ em giảm từ 24% (năm 2000) xuống 12% (năm 2016). Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức tốt về phòng ngừa và xử trí tiêu chảy tại Ethiopia đạt 65,2%–65,9%, cao hơn tại Kashan - Iran (28,8%) và Assosa - Ethiopia (37,5%). Tỷ lệ nhận biết đúng cách pha ORS ở các nước dao động từ 62,4% đến 85,4%.
- Tổng quan các nghiên cứu tại Việt Nam: Nghiên cứu của Nguyễn Văn Đang, Mai Thị Thanh Xuân, Nguyễn Thị Thanh Huyền, Lưu Thị Mỹ Thục, Phan Hoàng Thùy Linh và Huỳnh Minh Dương phản ánh thực trạng đa số bà mẹ đã biết đến gói ORS (trên 90%), nhưng tỷ lệ hiểu đúng bản chất bù nước chỉ đạt 58,1%, tỷ lệ đạt kiến thức tốt chung dao động từ 13,3% đến 26,8%, phần lớn rơi vào mức trung bình và kém.
Chương 2: Liên hệ thực tiễn
Chương này giới thiệu tổng quan về địa bàn nghiên cứu và trình bày toàn bộ kết quả khảo sát thực trạng trên 179 bà mẹ:
- Bối cảnh nghiên cứu: Bệnh viện ĐKKV Phúc Yên là bệnh viện đa khoa hạng 1 tuyến tỉnh thuộc Sở Y tế Vĩnh Phúc với quy mô 850 giường kế hoạch (1.300 giường thực kê) và 813 cán bộ nhân viên. Khoa Nhi có 100 giường kế hoạch (140 giường thực kê), gồm 13 bác sĩ, 25 điều dưỡng và 2 dược sĩ, thường xuyên hoạt động quá tải trong các đợt dịch tiêu hóa và hô hấp.
- Đặc điểm mẫu nghiên cứu:
- Độ tuổi trung bình của bà mẹ: $26,70 \pm 4,38$ tuổi (nhóm 18–35 tuổi chiếm đa số với 96,0%).
- Nghề nghiệp: Công nhân và nông dân chiếm tỷ lệ cao nhất (61,5%), nội trợ chiếm 19,5%, cán bộ viên chức chiếm 7,7%.
- Trình độ học vấn: THPT chiếm 54,7%, chưa hết THCS chiếm 7,8%, cao đẳng/đại học/sau đại học chiếm 4,5% (tổng số bà mẹ có trình độ từ THPT trở lên là 88,3%).
- Thứ tự con trong gia đình: Trẻ bị tiêu chảy là con thứ nhất chiếm 50,9%, con thứ hai chiếm 26,8%, từ con thứ ba trở đi chiếm 22,3%.
- Kiến thức về bệnh và bù nước:
- Chỉ 37,9% bà mẹ hiểu đúng khái niệm tiêu chảy cấp (đi ngoài phân lỏng nhiều nước trên 3 lần/ngày và kéo dài không quá 14 ngày).
- 24,7% bà mẹ hiểu đúng định nghĩa một đợt tiêu chảy; 68,7% hiểu nhầm là tính đến ngày phân trẻ bình thường trở lại.
- 67,0% bà mẹ chỉ chọn được 1–3 dấu hiệu đánh giá mất nước; 29,9% chọn được $> 3$ dấu hiệu; chỉ 22,2% nhận biết đúng dấu hiệu khát nước ở trẻ mất nước nặng.
- 50,3% bà mẹ nhận biết đúng mất nước - rối loạn điện giải là nguyên nhân chính gây tử vong.
- 91,4% bà mẹ biết về gói ORS và 98,3% hiểu đúng tác dụng bù nước điện giải. Tuy nhiên, vẫn có 25,7% bà mẹ pha sai ORS (chia nhỏ gói để pha hoặc pha vào cốc nước nhỏ).
- Khi trẻ bị nôn sau khi uống ORS, chỉ có 29,6% xử trí đúng (tạm dừng 5–10 phút rồi cho uống tiếp với tốc độ chậm hơn); 54,7% dừng hẳn cữ đó và 15,6% không cho uống nữa.
- Thực hành chăm sóc và phòng bệnh:
- Thời điểm ăn bổ sung: 56,0% cho ăn đúng lúc 4–6 tháng tuổi; 24,0% cho ăn sam quá sớm (dưới 4 tháng tuổi).
- Nuôi dưỡng bằng bình: 87,0% bà mẹ cho trẻ bú bình; trong đó chỉ có 3,0% luộc bình trước cữ bú, 60,0% tráng nước sôi và 37,0% chỉ rửa bằng nước thường.
- Vệ sinh tay: 76,8% có thói quen rửa tay thường xuyên trước khi nấu ăn, trước khi cho ăn và sau khi đi vệ sinh.
- Chế độ ăn khi mắc bệnh: Chỉ 32,0% bà mẹ duy trì chế độ ăn đầy đủ dinh dưỡng và bổ sung chất đạm; 68,0% kiêng khem dầu mỡ và chất tanh.
- Hành vi dùng thuốc: 78,0% đưa trẻ đi khám cơ sở y tế; 22,0% tự điều trị tại nhà; 31,8% dùng thuốc không theo đơn hoặc dùng sai (trong đó 13,0% tự mua thuốc cầm tiêu chảy); chỉ 37,4% bà mẹ chủ động mua dung dịch bù điện giải cho con uống tại nhà.
- Phân tích mối liên quan:
- Không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nghề nghiệp của mẹ với kiến thức về tiêu chảy cấp ($p = 0,647$) hay thực hành sử dụng ORS ($p = 0,318$).
- Trình độ học vấn có liên quan có ý nghĩa thống kê với thực hành dùng thuốc đúng theo hướng dẫn nhân viên y tế ($p = 0,03 < 0,05$).
- Số con trong gia đình có liên quan có ý nghĩa thống kê với thực hành pha ORS ($p = 0,04 < 0,05$) và thực hành chế độ dinh dưỡng không kiêng khem ($p = 0,001 < 0,05$).
Chương 3: Bàn luận
Tác giả phân tích, so sánh các phát hiện nghiên cứu với các y văn trong nước và quốc tế:
- Về nhân khẩu học và kinh nghiệm chăm sóc: Tỷ lệ lớn bà mẹ là công nhân, nông dân (61,5%) và có trình độ THPT trở lên (88,3%) phản ánh đặc điểm vùng bán đô thị công nghiệp Phúc Yên. Tỷ lệ con đầu mắc bệnh chiếm hơn 50% giải thích cho sự thiếu hụt kỹ năng và kinh nghiệm xử trí thực tế.
- Về sai sót trong pha chế và sử dụng ORS: Tác giả nhấn mạnh mối nguy hiểm của tỷ lệ 25,7% pha sai ORS. Việc pha ORS với quá ít nước làm tăng áp lực thẩm thấu, kéo nước từ tế bào ra ngoài gây teo tế bào và tổn thương thần kinh trung ương; ngược lại pha quá loãng làm giảm natri máu, thừa nước gây phù tế bào và ngộ độc nước. Việc 70,3% bà mẹ ngưng bù dịch khi trẻ nôn phản ánh lỗ hổng lớn về hướng dẫn điều dưỡng.
- Về tập quán ăn sam sớm và vệ sinh bình sữa: 24% trẻ ăn sam trước 4 tháng khi hệ tiêu hóa chưa đủ men amylase, kết hợp với 37% bà mẹ chỉ rửa bình bằng nước thường tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập đường ruột.
- Về sai lầm trong dinh dưỡng và dùng thuốc: Tỷ lệ 68% bà mẹ kiêng chất tanh và dầu mỡ (cao hơn mức 40,2% tại Bệnh viện Bạch Mai theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thơ) dẫn đến nguy cơ suy dinh dưỡng sau tiêu chảy. Nguy cơ đặc biệt nghiêm trọng là 13% bà mẹ tự ý dùng thuốc cầm tiêu chảy làm ức chế nhu động ruột, ứ đọng độc tố vi khuẩn và phân trong lòng ruột, tăng nguy cơ liệt ruột, tắc ruột và thủng ruột.
Kết quả và đóng góp
Bảng tổng hợp các chỉ số thực trạng chính
Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ số kiến thức và thực hành chăm sóc của 179 bà mẹ tham gia nghiên cứu:
| Nội dung khảo sát |
Tiêu chí đánh giá |
Số lượng ($n$) |
Tỷ lệ (%) |
| Kiến thức về bệnh |
Hiểu đúng khái niệm tiêu chảy cấp |
68 |
37,9% |
|
Hiểu đúng khái niệm một đợt tiêu chảy |
44 |
24,7% |
|
Nhận biết $> 3$ dấu hiệu mất nước |
52 |
29,9% |
|
Nhận biết đúng dấu hiệu khát khi mất nước nặng |
41 |
22,2% |
|
Biết mất nước là nguyên nhân gây tử vong chính |
90 |
50,3% |
| Kiến thức về ORS |
Biết về gói dung dịch ORS |
164 |
91,4% |
|
Hiểu đúng tác dụng bù nước và điện giải |
176 |
98,3% |
|
Biết cách pha ORS chính xác |
133 |
74,3% |
|
Xử trí đúng khi trẻ nôn (nghỉ 5-10 phút, cho uống chậm lại) |
53 |
29,6% |
|
Biết thời hạn sử dụng dung dịch sau pha trong 24 giờ |
93 |
52,0% |
| Thực hành chăm sóc |
Cho trẻ ăn bổ sung đúng thời điểm (4–6 tháng) |
100 |
56,0% |
|
Cho trẻ bú sữa bình |
156 |
87,0% |
|
Luộc/tiệt trùng bình sữa trước khi dùng ($n=156$) |
5 |
3,0% |
|
Thường xuyên rửa tay vệ sinh |
137 |
76,8% |
|
Thực hành chế độ ăn đúng (không kiêng khem, đủ chất) |
57 |
32,0% |
|
Đưa trẻ đi khám cơ sở y tế khi bị tiêu chảy |
140 |
78,0% |
|
Tự ý dùng thuốc cầm tiêu chảy |
23 |
13,0% |
|
Mua và sử dụng ORS xử trí ban đầu tại nhà |
67 |
37,4% |
Giải pháp can thiệp do tác giả đề xuất
- Tổ chức giáo dục sức khỏe trực tiếp tại khoa lâm sàng: Thiết lập các buổi truyền thông giáo dục sức khỏe định kỳ cho thân nhân người bệnh đang điều trị nội trú tại Khoa Nhi; phân công điều dưỡng trực tiếp kiểm tra, giám sát thao tác pha ORS và cho trẻ uống hàng ngày để điều chỉnh kịp thời.
- Xây dựng tài liệu truyền thông trực quan: Thiết kế tờ rơi phát trực tiếp cho phụ huynh tại phòng khám ngoại trú và các áp phích minh họa trực quan treo tại khu vực chờ khám, khu hành lang Khoa Nhi.
- Ứng dụng nền tảng số: Biên tập các bài viết hướng dẫn chăm sóc, theo dõi dấu hiệu nguy hiểm và chế độ dinh dưỡng đăng tải trên trang Fanpage của Khoa Nhi nhằm tạo kênh tương tác, giải đáp thắc mắc từ xa.
- Tăng cường công tác chỉ đạo tuyến: Lồng ghép chương trình tập huấn "Chăm sóc, dinh dưỡng và theo dõi trẻ bị tiêu chảy cấp tại nhà" vào hoạt động chỉ đạo tuyến của bệnh viện đối với các trung tâm y tế huyện và trạm y tế xã trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Đóng góp của chuyên đề
Chuyên đề cung cấp số liệu thực tế về khoảng trống giữa nhận thức lý thuyết và hành vi thực hành của bà mẹ tại địa bàn công nghiệp Phúc Yên; chỉ rõ các sai lầm phổ biến có nguy cơ đe dọa tính mạng trẻ nhỏ (pha sai tỷ lệ ORS, dừng bù dịch khi nôn, kiêng ăn chất đạm/tanh, lạm dụng thuốc cầm đi ngoài). Đây là cơ sở thực chứng để cải tiến quy trình tư vấn giáo dục sức khỏe của điều dưỡng tại Bệnh viện ĐKKV Phúc Yên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp mô tả cắt ngang trên cỡ mẫu $n = 179$ bà mẹ tại một khoa lâm sàng duy nhất trong 6 tháng, chưa bao quát được toàn bộ đối tượng bà mẹ chăm sóc trẻ tiêu chảy nhẹ tại cộng đồng. Phương pháp phỏng vấn hồi cứu một số thói quen chăm sóc có thể chịu ảnh hưởng của sai số nhớ lại (recall bias).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần phát triển các nghiên cứu can thiệp giáo dục sức khỏe có đối chứng (đánh giá trước - sau can thiệp) nhằm đo lường sự thay đổi thực chất về kiến thức và kỹ năng thực hành của bà mẹ; đồng thời mở rộng phạm vi khảo sát ra quy mô mạng lưới y tế cơ sở tại cộng đồng.
Giá trị tham khảo
Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp này là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Điều dưỡng và Bác sĩ Nhi khoa: Tham khảo khung lý thuyết chăm sóc tiêu chảy chuẩn theo Bộ Y tế, cấu trúc bộ câu hỏi khảo sát KAP (Knowledge - Attitude - Practice) và phương pháp phân tích số liệu điều dưỡng lâm sàng.
- Điều dưỡng viên lâm sàng tại các bệnh viện: Ứng dụng bảng kiểm các sai lầm thường gặp của thân nhân người bệnh để xây dựng nội dung tư vấn giáo dục sức khỏe trước khi người bệnh xuất viện.
- Cán bộ y tế dự phòng và y tế cơ sở: Sử dụng các số liệu thực chứng và đề xuất giải pháp để xây dựng thông điệp truyền thông phòng chống suy dinh dưỡng và xử trí tiêu chảy tại nhà.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ bà mẹ hiểu đúng định nghĩa tiêu chảy cấp và đợt tiêu chảy trong khảo sát là bao nhiêu?
Trong số 179 bà mẹ, chỉ có 37,9% hiểu đúng khái niệm tiêu chảy cấp (đi ngoài phân lỏng nhiều nước trên 3 lần/ngày và kéo dài không quá 14 ngày). Đối với định nghĩa một đợt tiêu chảy, chỉ có 24,7% bà mẹ trả lời đúng (tính từ ngày đầu tiên bị bệnh đến ngày mà sau đó 2 ngày liền phân bình thường), trong khi 68,7% hiểu nhầm là tính đến ngày đầu tiên phân trở lại bình thường.
2. Thực trạng hiểu biết và thực hành pha dung dịch Oresol (ORS) của các bà mẹ ra sao?
Có 91,4% bà mẹ biết về gói ORS và 98,3% hiểu đúng tác dụng bù nước - điện giải. Tuy nhiên, vẫn có 25,7% bà mẹ pha ORS không đúng cách (chia nhỏ gói bột để pha hoặc pha vào lượng nước quá ít). Về thời gian sử dụng dung dịch sau khi pha, chỉ có 52,0% bà mẹ biết dung dịch chỉ có giá trị dùng trong vòng 24 giờ.
3. Khi trẻ bị nôn trớ sau khi uống ORS, các bà mẹ xử trí như thế nào?
Chỉ có 29,6% bà mẹ xử trí đúng theo hướng dẫn chuyên môn (tạm ngừng 5–10 phút, sau đó tiếp tục cho uống từng thìa với tốc độ chậm hơn). Phần lớn các bà mẹ còn lại xử trí sai cách: 54,7% ngừng cữ uống đó để chờ lần sau và 15,6% quyết định không cho trẻ uống tiếp.
4. Tỷ lệ bà mẹ áp dụng chế độ ăn kiêng cữ sai lầm và tự ý dùng thuốc nguy hiểm là bao nhiêu?
Có 68,0% bà mẹ kiêng hoàn toàn dầu mỡ và chất tanh trong khẩu phần ăn của trẻ khi bị tiêu chảy, chỉ 32,0% cho trẻ ăn đủ chất dinh dưỡng và bổ sung đạm. Ngoài ra, có 31,8% bà mẹ không đưa con đi khám hoặc dùng thuốc không theo chỉ định của cán bộ y tế, trong đó có 13,0% bà mẹ tự ý mua thuốc cầm tiêu chảy cho con uống.
5. Những yếu tố nhân khẩu học nào có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với thực hành chăm sóc trẻ?
Phân tích thống kê cho thấy không có mối liên quan giữa nghề nghiệp của mẹ với kiến thức phòng bệnh ($p = 0,647$). Tuy nhiên, trình độ học vấn có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với thực hành dùng thuốc theo hướng dẫn y tế ($p = 0,03$). Số con trong gia đình có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với thực hành pha ORS đúng cách ($p = 0,04$) và thực hành chế độ ăn đủ chất cho trẻ ($p = 0,001$).
Kết luận
Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp Chuyên khoa I của học viên Đồng Thị Đông đã phản ánh toàn diện thực trạng kiến thức và thực hành chăm sóc trẻ tiêu chảy cấp dưới 5 tuổi của 179 bà mẹ tại Bệnh viện ĐKKV Phúc Yên năm 2022. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù tỷ lệ nhận biết về gói ORS rất cao, song tỷ lệ hiểu đúng về bệnh, nhận diện dấu hiệu mất nước nặng, kỹ thuật pha ORS và chế độ dinh dưỡng hợp lý vẫn còn nhiều hạn chế nghiêm trọng. Các giải pháp truyền thông, tư vấn giáo dục sức khỏe lâm sàng và tăng cường chỉ đạo tuyến do tác giả đề xuất mang tính thực tiễn cao, đóng góp thiết thực vào việc nâng cao chất lượng chăm sóc điều dưỡng và giảm thiểu biến chứng cho bệnh nhi tiêu chảy cấp.