Đặt vấn đề 1 Mục tiêu nghiên cứu 3 1. Mục tiêu chung 3 2. Mục tiêu cụ thể 3 Phần I: Tổng quan tài liệu 4 1. Vài nét về bệnh tiêu chảy ở trẻ em 4 2.
Vấn đề tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam 15 3. Vai trò của bà mẹ 17 Phần II: Đôi tượng và phương pháp nghiên cứu 18 1. Đối tượng nghiên cứu 18 2. Phương pháp nghiên cứu 18 3.
Cách chọn mẫu 18 4. Kỹ thuật thu thập thông tin 19 5. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20 6. Xử lý số liệu 20 7.
Một số hạn chế của nghiên cứu 20 8. Vấh đề đạo đức trong nghiên cứu 20 9. Biến số nghiên cứu 20 Khái niệm biến 22 Cách đánh giá 25 Phần III: Kết quả nghiên cứu 26 1. Thồng tin chung về các bà mẹ được điều tra 26 2.
Kiến thức của các bà mẹ về phòng chống bệnh tiêu chảy 30 3. Thái độ của các bà mẹ về phòng chống bệnh tiêu chảy cấp 35 4. Thực hành điều trị và phòng bệnh tiêu chảy cấp của các bà mẹ 36 5. Các yếu tô' ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ, thực hành và kết quả phòng chống bệnh tiêu chảy của các bà mẹ 49 Kết quả nghiên cứu định tính 56 Phần IV: Bàn luận 60 1.
Thông tin chung về các bà mẹ được điều tra 60 2. Kiến thức của các bà mẹ về phòng chống bệnh tiêu chảy 61 3. Thái độ của các bà mẹ về phòng chống bệnh tiêu chảy cấp 63 4. Thực hành điều trị và phòng bệnh tiêu chảy cấp của các bà mẹ 63 5.
Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ, thực hành và kết quả phòng chống bệnh tiêu chả của các bà mẹ 69 Phần V: Kết luận 73 Phần VI: Khuyên nghị 76 Phần VII: Tài liệu tham khả 77 Phần VIII: Phụ lục 83 Phụ lục 1: Phiêu phỏng vấn 83 Phụ lục 2: Thảo luận nhóm trọng tâm 91 Phụ lục 3: Mẫu ghi chép thảo luận nhóm trọng tâm 92 Phụ lục 4: Cây vấn đề 93 1 ĐẶT VÂN ĐỂ Tiêu chảy là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong cho trẻ em các nước đang phát triển. Ở những nơi này, ước tính hàng năm có tới 1,3 ngàn triệu lượt trẻ em dưới 5 tuổi mắc bệnh tiêu chảy và 4 triệu chết vì bệnh này. Trên toàn thế giới, hàng năm, trung bình mỗi trẻ mắc 3,3 lượt tiêu chảy, đặc biệt ở một số vùng, mỗi năm trung bình trẻ mắc vượt quá 9 lượt [32]. Tại những nơi mà tiêu chảy vẫn còn là 1 bệnh phổ biến thì trên 15% thời gian sống của trẻ gắn liền với bệnh tiêu chảy.
Có khoảng 80% các trường hợp tử vong do tiêu chảy xảy ra ở nhóm trẻ dưới 2 tuổi. Nguyên nhân chính gây tử vong là do cơ thể bị mất nước và điện giải. Tiêu chảy là nguyên nhân hàng đầu gây suy dinh dưỡng, ảnh hưởng tới sự tăng trưởng của trẻ, nếu ỉa chảy tái diễn, kéo dài làm cho tình trạng suy dinh dưỡng càng trầm trọng và nguy cơ tử vong sẽ càng tăng lên [32], Tại nhiều nước, trên 1/3 số giường nhi là dành cho bệnh tiêu chảy. Do đó bệnh tiêu chảy là 1 vấn đề y tế toàn cầu và là gánh nặng kinh tế đối với các nước đang phát triển [32].
ơ Việt Nam, chương trình phòng chống bệnh tiêu chảy (CDD) đã được triển khai từ nãm 1982 tại một số tỉnh, đến năm 1987 chương trình đã phủ khắp toàn quốc. Kết quả hoạt động của chương trình đã làm giảm một cách đáng kể tỷ lệ tử vong do tiêu chảy từ 3,33%ớ xuống còn 0,084%ỡ vào năm 1993 (sau 11 năm). Tuy nhiên tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy cấp chưa giảm mà còn có xu hướng gia tàng [23]. Theo thống kê của chương trình quốc gia phòng chống bệnh tiêu chảy, hàng năm nước ta có tới 20 triệu lượt trẻ em bị tiêu chảy (trung bình mỗi trẻ mắc 2-3 lượt / năm) [3].
2 Nhiều tài liệu nghiên cứu chỉ ra rằng: trẻ em dưới 1 tuổi, đặc biệt là trẻ từ 6 đến 11 tháng có tỷ lệ mắc cao nhất trong tổng số trẻ em dưới 5 tuổi bị tiêu chảy cấp vì giai đoạn này trẻ phải thay đổi chế độ ăn (ăn sam) và những hiểu biết của bà mẹ về bệnh tiêu chảy có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc phòng và xử trí khi con mình bị tiêu chảy. Kiến thức, thái độ và kỹ năng thực hành của các bà mẹ là nhân tố quyết định trong việc phòng, chống bệnh tiêu chảy, làm giảm tần sô' mắc và tử vong do tiêu chảy ở trẻ em [3] [12] [20] [25] [32] [55]. Huyên Khoái Châu tỉnh Hưng Yên là huyện Đồng bằng châu thổ sông Hồng với 180.000 dân, kinh tế nông nghiệp là chủ yếu. Thu nhập bình quân của người dân đứng hàng trung bình trong vùng Đồng bằng Bắc bộ (khoảng 3.000 đồng / người / năm).
Trong những nãm 80 chương trình phòng chống bệnh tiêu chảy đã được triển khai tại Huyện. Theo điều tra của Trần Ngọc Phương năm 2000, tỷ lệ mắc tiêu chảy cấp ở trẻ em dưới 1 tuổi tại đây là 35% và theo báo cáo của TTYT huyện nãm 2000, tỷ lệ trẻ bị tiêu chảy chiếm 40% trong tổng sô' bệnh nhi nhập viện. Xuất phát từ thực tê' trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: " Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của các bà mẹ đối với việc phòng chống bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em dưới 1 tuổi tại huyện Khoái Châu - Hưng Yên năm 2001”. Từ đó để xuất một sô khuyến nghị góp phần nâng cao kiến thức, thái độ, kỹ năng thực hành cho các bà mẹ về phòng và xử trí bệnh tiêu chảy.
MỤC TIÊU CHUNG Đánh giá kiến thức, thái độ và kỹ năng thực hành của các bà mẹ đối với việc phòng chống bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em dưới 1 tuổi. MỤC TIÊU CỤ THỂ - Đánh giá kiến thức của các bà mẹ về phòng chống bệnh tiêu chảy. - Đánh giá thái độ của các bà mẹ về phòng chống bệnh tiêu chảy. - Đánh giá kỹ năng thực hành của các bà mẹ về phòng chống bệnh tiêu chảy.
- Mô tả một số yếu tố ảnh hưởng đêh kết quả các hoạt động phòng chống ưới 1 tuổi. bệnh tiêu chảy cấp của các bà mẹ CC 4 Phần I: TỔNG QUAN 1. VÀI NÉT VỂ BỆNH TIÊU CHẢY Ở TRẺ EM. Khái niệm về tiêu chảy [33].
- Tiêu chảy: là đi ngoài phân lỏng hoặc toé nước trên 3 lần trong 24 giờ. - Đợt tiêu chảy (lượt): là giai đoạn bắt đầu từ khi bị tiêu chảy tới ngày, mà sau đó hai ngày phân trẻ bình thường. Nếu sau 2 ngày trẻ tiêu chảy lại là trẻ bắt đầu 1 đợt tiêu chảy mới. Phân loại tiêu chảy [33].
Về lâm sàng, dựa vào tính chất phân và thời gian kéo dài của bệnh phân ra 3 loại tiêu chảy: - Tiêu chảy cấp: là tiêu chảy khởi đầu cấp tính phân lỏng hoặc toé nước không có máu kéo dài không quá 14 ngày. - Hội chứng lỵ: là tiêu chảy có máu trong phân, đau quặn, mót dặn. - Tiêu chảy kéo dài: là tiêu chảy cấp kéo dài quá 14 ngày. Dịch tễ học bệnh tiêu chảy.
Các tác nhân gây tiêu chảy thường lây truyền qua đường phân - miệng do ãn phải thức ăn, nước uống bị ô nhiễm hoặc tiếp xúc trực tiếp với phân đã nhiễm khuẩn gây bệnh. Vấn để này có liên quan mật thiết với nguồn nước bị ô nhiễm và điều kiện vệ sinh môi trường kém [32]. Ngày nay, vấn đề thời sự và thu hút sự quan tâm của nhiều người là ngộ độc thức ãn gây tiêu chảy cấp, mất nước nặng kèm theo nhiễm trùng nhiễm độc. Nguyên nhân chính của vâh đề này là do an toàn vệ sinh thực phẩm không đảm bảo.
Theo báo cáo không đầy đủ từ 32 tỉnh thành phố nãm 1992- 1993 đã ghi nhận cả nước có 32 vụ ngộ độc thức ăn, 1.962 người phải nhập viện vì tiêu chảy cấp và hậu quả là 17 ca tử vong. Báo cáo của Vụ y tế dự phòng năm 1997 có 585 vụ ngộ độc thức ăn với 6.500 người mắc tiêu chảy 5 cấp; năm 1998 có 270 vụ ngộ độc với 6.773 người phải nhập viện, 41 ca tử vong. Năm 1999 có 295 vụ ngộ độc với 7.000 người mắc , 65 ca tử vong. Những số liệu trên theo các chuyên gia phân tích ở Việt Nam thì chỉ là những con số khiêm tốn, chưa phản ánh đầy đủ tình hình mắc tiêu chảy cấp do ngộ độc thức ăn, vì nó chỉ mới được tính trên các trường hợp cấp cứu phải nhập viện và từ một hệ thống báo cáo chưa thật hoàn thiện và chưa ổn định về mặt kỹ thuật [201.
Bảng và biểu đồ sau đây cho biết rõ hơn về sô' vụ ngộ độc thức ăn, tình hình mắc tiêu chảy cấp và tử vong do ngộ độc thức ăn: Năm Số vụ ngộ độc TĂ Sô mắc Sò' tử vong 1992-1993 32 1962 17 1997 585 6500 0 1998 270 6773 41 1999 295 7000 65 1992- 1997 1998 1999 1993 Qua bảng và biểu đồ trên ta thấy số vụ ngộ độc thức ăn, số người mắc tiêu chảy cấp và số ca tử vong do ngộ độc thức ãn từ 1992 đến 1999 có chiều hướng gia tăng. Những tập quán làm tăng nguy cơ mắc tiêu chảy. Có nhiều tập quán giúp cho các tác nhân gây bệnh lây lan làm tăng nguy cơ mắc tiêu chảy như: 13. Không nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 4 - 6 tháng đầu.
Sữa mẹ chứa các globulin miễn dịch chủ yếu là IgA (95%) và các loại khác như IgM, IgG có tác dụng bảo vệ cơ thể chống lại bệnh đường ruột và một số bệnh do vi rút. Lysozym là một men tìm thấy ở trứng và sữa mẹ, nó là yếu tố chống nhiễm khuẩn không đặc hiệu. Nó có khả năng phá hủy một số vi khuẩn Gram(+) và còn góp phần vào việc phát triển và duy trì hê vi khuẩn chí ở ruột của những trẻ nuôi bằng sữa mẹ [201. Những trẻ không được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ thì nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy gấp nhiều lần so với trẻ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ và nguy cơ tử vong cũng lớn hơn một cách đáng kể [32].
Theo tài liệu của WHO, những trẻ từ 0 - 2 tháng tuổi mà không được bú mẹ thì tỷ lệ bị tiêu chảy cao hơn 2 lần và nguy cơ chết do ảnh hưởng của nó tăng gấp 25 lần so với những đứa trẻ được bú mẹ [20].