Chương 1 TÔNG QUAN 1. Đại cưoĩig về bệnh tiêu chảy 1. Định nghĩa bệnh tiêu chảy Trong các công trình nghiên cứu bệnh nguyên, bệnh sinh và dịch tễ học, bệnh TC thường được định nghĩa như sau: là tình ưạng ưẻ đi ngoài nhiều lần trong ngày (> 3 lần trong 24 giờ) phân nhão, lỏng, không thành khuân, nhiều nước hoặc phân sống. Riêng đối với frẻ bú mẹ phân có thề nhão hơn bình thường, số lần đi ngoài có thê từ 3 - 4 lần, nhưng không phải là bệnh tiêu chảy.
Trong những trường hợp này cần phải loại trừ và không ghi nhận là tiêu chảy. Đối với các trường hợp này khi xác định tiêu chảy cần dựa vào số lần tiêu chảy tăng dần hoặc tăng mức độ phân lỏng kèm theo lời phàn nàn của bà mẹ cho rằng điều đó là bất thường ở frẻ [14], [18], [30], [47], 1. Phân loại bệnh tiêu chảy Người ta đã xác định ba hội chứng lâm sàng khác nhau cùa bệnh tiêu chảy, thể hiện theo 3 cơ chế khác nhau, đòi hỏi các biện pháp xử trí khác nhau [18], [30], [47], 1. Tiêu chay cấp lính: Khởi đầu đột ngột, cấp tính kéo dài không quá 14 ngày (thường là dưới 7 ngày) phân lỏng hoặc tóe nước, không thấy có máu, bệnh nhân có thê có nôn hoặc sốt.
Với trẻ trong tinh ưạng này, sự cần thiết phải bù ngay một lượng nước đã mất và một lượng nước dự phòng có thể mất tiếp theo do tiêu chảy cấp gây ra, điều này rất quan trọng nếu được thực hiện ngay tại hộ gia đình ưẻ. Tiêu chay kéo dài: Là bệnh tiêu chảy khởi đầu cấp tính sau đó kéo dài bất thường (ưên 14 ngày hoặc lâu hơn). Trẻ thường bị sút cân rõ rệt, thiếu các chất dinh dưỡng, frong các trường hợp này tốt nhất là các bà mẹ cần đưa frẻ tới các CSYT để được khám và được điều trị. Hội chúng lỵ: Đày là bệnh tiêu chảy thấy có máu hong phân.
Trẻ đau quặn, mót rặn, phân có máu mũi và sốt, bệnh thường gây chán ăn cho frẻ, sụt cân nhanh. Nguyên nhân hay gặp 6 nhất là do Shigella. Trong trường hợp này các bà mẹ cần cho trẻ tới các cơ sở y tế đê được khám và điều trị. (*) Khái niệm về đợt tiêu chay (hrợt): Là giai đoạn bắt đầu từ khi tiêu chảy trên 3 lần frong 24 giờ, cho đến ngày cuối cùng frong đó còn tiêu chảy ưên 3 lần, ngày cuối cùng phải kế tiếp ít nhất là 2 ngày trẻ đi ngoài frở lại bình thường.
Neu sau 2 ngày trẻ lại tiếp tục TC lại tiên 3 lần/ngày thì phải đánh giá lại tình trạng mất nước và ghi nhận đợt TC mới. • Bệnh tiêu chảy trẻ em là nguy hiểm, vì tiêu chảy trẻ em dẫn tới 2 hậu quả: - Trẻ dễ dẫn tới tình hạng suy dinh dưỡng. - Trường hợp nặng, không xử trí kịp thời sẽ dẫn đến tử vong. Tử vong thường gặp trong các trường họp TC cấp tính, bệnh nặng, nguyên nhân thường do mất nhiều nước và điện giải mà không được bồi phục kịp thời.
Dịch tễ học bệnh tiêu chảy 1. Sự lây lan các mầm bệnh gáy bệnh tiêu chay Bệnh tiêu chảy có từ lâu, lịch sử của nó gắn liền với các vụ dịch đường tiêu hóa, đặc biệt đã ưải qua 7 vụ đại dịch tả trên thế giới. Lúc đầu các thầy thuốc gọi bệnh TC với hiện tượng đi lỏng 3 đến 4 lần frong ngày là hội chứng tiêu chảy mất nước, tiêu chảy nhiễm độc. Qua nhiều vụ dịch cùng với sự tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật và sự phát ưiển của y học hiện đại, người ta mới hiểu rõ hơn về bệnh TC, đó là hậu quả của bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa như: Tả, Thương hàn không phải do tác nhân s.
typhy, Lỵ trực trùng, Lỵ Amíp, E Coli, Nấm gây bệnh và Virus. Ngoài ra các bệnh nhiễm trùng ngoài đường một như sởi, nhiễm trùng đường hô hấp, viêm tai. có thê gây bệnh TC ở trẻ. Một vài nguyên nhân khác không thể thiếu được, nó đóng vai frò quan trọng trong quá trình truyền bệnh, đó là môi trường trung gian, trực tiếp hoặc gián tiêp liên quan đến bệnh, như môi trường sống không họp vệ sinh, trẻ đẻ non, suy dinh dưỡng và thái độ thiếu tích cực về vệ sinh môi trường., tất cả các nguyên nhân đó góp phần gây ra bệnh TC [4], [14], [18], [30], [35], [41], [47], • Các đường lây truyền bệnh tiêu chảy: 7 Đa số các bệnh tiêu chảy thường lây truyền theo đường “ Phân - Miệng''’ có thê qua 2 đường trực tiếp hoặc gián tiếp.
- Lây truyền trực tiếp: Tác nhân gây bệnh theo thức ăn, nước uống vào cơ thể vật chủ (người) sau đó gây bệnh. - Lây truyền gián tiếp: tác nhân gây bệnh thông qua vật dụng, tay bị vấy bấn, côn trùng,. từ đó gây ô nhiễm thức ăn, nước uống. • Những tập tục làm tăng nguy cơ mắc tiêu chảy: - Không nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 4-6 tháng đầu, không cho trẻ bú ngay sau khi sinh, cai sữa cho trẻ trước 12 tháng tuổi: Những trẻ không được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu thì khả năng đề kháng của trẻ kém, nguy cơ mắc bệnh ở nhóm này cao hơn so với các nhóm ưẻ khác và nguy cơ tử vong khi mắc bệnh cũng cao hơn.
Trong y văn đã nêu rõ vai trò của sữa mẹ frong việc bảo vệ trẻ nhỏ đối với bệnh tiêu chảy. Sữa mẹ chứa các Globulin miễn dịch chủ yếu là IgA (95%) và một so Globulin khác như IgM, IgG có tác dụng bào vệ cơ thể chống lại bệnh tật và bệnh đường ruột do virus. Lysozym là một men tìm thấy ở trứng và sữa, nó là một yếu tố chống nhiễm khuân không đặc hiệu, nó có khả năng phá huỷ một số vi khuẩn Gram (+) và còn góp phần vào việc phát triển và duy frì hệ vi khuẩn chỉ có ở ruột cùa những frẻ nuôi bằng sữa mẹ [26], [30], [40]. - Theo tài liệu của WHO, những ưẻ từ 0 - 24 tháng tuổi mà không được bú mẹ thì tỷ lệ tiêu chảy cao gấp 2 lần và nguy cơ chết do liên quan tăng lên gấp 25 lần so với những đứa frẻ được bú mẹ [50], [62], - Đỗ Gia Cảnh và cộng sự nghiên cứu mối liên quan giữa bú mẹ với tiêu chảy ớ tie em dưới 24 tháng tuổi bằng phương pháp bệnh chứng cho thấy những frẻ không được bú mẹ đầy đủ có nguy cơ mắc gấp 5 lần trẻ bú mẹ đầy đủ (OR = 5,34; p<0,001) [16], - Tập quán cho trẻ ăn thêm (ăn sam) trước 4 tháng tuồi: Ăn sam hay ăn bồ sung theo cách gọi miền Bắc hay ăn dặm theo cách gọi người miền Nam, là quá hình nuôi trẻ, tập cho trẻ thích ứng với sự chuyển đổi chế độ ăn từ một khẩu phần hoàn toàn dựa vào sữa mẹ sang một chế độ ăn sử dụng đều đặn các thực phẩm sẵn có trong bữa ăn gia đinh.
Đây là quá trinh giúp cho trẻ quen dần với thức ăn của người lớn, đồng thời cung cấp ■ 8 thêm chất dinh dưỡng cần thiết cho trẻ phát triền bình thường. Ăn sam thường được bắt đầu khi trẻ được 4-6 tháng tuổi, vi thời kỳ này nhu cầu dinh dưỡng của ưẻ cao hom và sữa mẹ bong thời kỳ này các chất dinh dưỡng không đủ đế đáp ứng nhu cầu cho trẻ. Đây là giai đoạn khó khăn nhất của frẻ, nếu cho ăn sam không đúng, sớm quá hay muộn quá, đều không có lợi cho sức khoẻ của ưẻ và dễ dẫn đến TC, SDD [4], [15], Ăn sam đúng phụ thuộc vào nhiều vấn đề: Thời điểm cho ăn, loại thức ăn, cách chế biến, bảo quản. - Cho trẻ bú chai: Chai và bình đựng sữa dễ bị ô nhiễm bởi các vi khuẩn đường ruột và khó rửa sạch.
Khi cho sữa vào bình thì sẽ dễ bị ô nhiễm. Nếu trẻ không bú hết ngay sữa trong bình thì vi khuẩn dễ có điều kiện để phát triển. Bú chai dễ mât vệ sinh song có nhiều bà mẹ không biết điều này, mặt khác bú chai cũng đồng nghĩa với việc trẻ không được bú mẹ [16], [18], [20], [47], - Không cho trẻ ăn ngay thức ăn sau khi được chế biến, để lẫn thực phẩm đã chế biến với thực phẩm còn sống, chọn thực phẩm không an toàn.: Khi thức ăn được nấu chín và để một thời gian trước khi ăn rất rễ bị ô nhiễm, chẳng hạn do tiếp xúc với vật bấn hay do dụng cụ nhà bếp, nấu ăn mất vệ sinh., tập quán không nấu lại thức ăn đã đê lâu ở ngoài cũng là một yếu tố nguy cơ của tiêu chảy [7], [15], [26], - Không lira tay trước khi chế biến thức ăn cho trẻ, trước khi cho ưẻ ăn, sau khi đi đại tiện, tiểu tiện, đặc biệt là sau khi làm vệ sinh cho frẻ [7], [15], [26], [50], - Dùng nguồn nước không hợp vệ sinh để sử dụng ưong ăn uống và sinh hoạt: Nước có thế bị ô nhiễm ngay tại nguồn nước, hay khi được chứa ở nhà. Sự ô nhiễm tại nhà có thể xảy ra khi dụng cụ chứa nước bẩn, không được đậy kín hay khi dùng tay bân đế múc nước.
uống nước chưa đun sôi là tập quán tại một số vùng dân trí thấp làm tăng nguy cơ gây bệnh tiêu chảy [4], [8],[19],[26],[50]. - Không sử lý phân (đặc biệt phân của trẻ nhỏ) một cách hợp lý, hợp vệ sinh: nhiều người cho rằng phân của trẻ nhỏ không nguy hiểm. Nhưng thực ra chúng chứa rất nhiều virus, vi khuẩn. Phân súc vật cũng chứa nhiều vi khuấn gây bệnh có thê truyền bệnh cho người.
Phân trẻ con lại dễ bị rơi vãi và là nguồn lây truyền của bệnh [8],[19],[26],[50]. 9 - Đường lây truyền chủ yếu trong các bệnh nhiễm tiling đường ruột là đường "'phán - miệng’ được thực hiện qua nguồn thực phẩm, nước uống, ruồi, bàn tay bần. Việc cải thiện điều kiện môi sinh là chiến lược cơ bản và lâu dài nhằm cắt đứt các nguồn truyền bệnh nhiễm trùng đường ruột. Việt Nam là nước đang phát hiển nên có 2 vấn đề quan trọng: Cung cấp nước sạch và quản lý phân, cung cấp, sử dụng nước sạch là không dùng các nguồn nước bề mặt (sông, hồ, đầm, ao.) để ăn uống và sinh hoạt.
Tại các vùng thành thị cần cung cấp đủ nước máy được xử lí bằng Clo. Tại vùng nông thôn cần dùng triệt để nguồn nước ngầm, thiết kế và xây dựng các giếng HVS ở nông thôn. Chương trình Unicef đã xây dựng một số giếng khoan đủ tiêu chuẩn đảm bảo vệ sinh cho một số hộ tại các xã nhưng nhìn chung người dân miền núi vẫn còn thiếu nước sạch [4], [6], [7], [8], [19], [26], [50].