Chương 1: Những vấn đề chung về kiểm tra của Sở Kế hoạch và Đầu tư đối với doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh. - Chương 2: Thực trạng kiểm tra của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Nghệ An đối với doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh. - Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường kiểm tra của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Nghệ An đối với doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh. 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM TRA CỦA SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƢ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP SAU ĐĂNG KÝ KINH DOANH 1.
Sự cần thiết và vai trò của kiểm tra doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh 1. Sự cần thiết của chuyển đổi từ kiểm tra trước sang kiểm tra doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh Hoạt động đăng kinh doanh được phát triển theo thời gian và phù hợp với thực tế qua quy định của các Luật Doanh nghiệp năm 1999, 2005, 2014 cùng với đó là những văn bản hướng dẫn thi hành… Hệ thống quy định của pháp luật về ĐKKD đã tạo ra môi trường thu hút mọi nguồn lực đầu tư và duy trì việc quản lý, giám sát doanh nghiệp. Nhà nước bảo hộ và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện hành vi kinh doanh từ khâu đăng ký thành lập, đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh và cả khi doanh nghiệp rút khỏi thị trường, đồng thời luôn quan tâm phát triển pháp luật về ĐKKD để quy định đầy đủ cho các loại hình doanh nghiệp có cơ sở pháp lý khi ra đời hoạt động nhằm đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích của doanh nghiệp. Nhà nước thống nhất quản lý hoạt động ĐKKD thông qua cơ quan Sở Kế hoạch và Đầu tư nhằm thực hiện trách nhiệm quản lý, kiểm tra, giám sát các chủ thể kinh doanh ngay từ khâu thành lập, xác lập sự công nhận và bảo hộ những cá nhân, tổ chức được tiến hành kinh doanh trong một lĩnh vực nhất định, loại bỏ khỏi thị trường những chủ thể không đủ điều kiện kinh doanh.
Từ đó hướng đến việc bảo vệ lợi ích người tiêu dùng, lợi ích chung của toàn xã hội và của các chủ thể kinh doanh khác. Do vậy, hoạt động đăng ký kinh doanh là một trong công đoạn của quá trình thành lập doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có được địa vị pháp lý trên thị trường không chỉ đơn thuần thỏa mãn các quy định của Luật doanh nghiệp mà còn đòi hỏi doanh nghiệp phải thỏa mãn các quy định của pháp luật chuyên ngành. Với những tiêu chí đó, hoạt động “đăng ký kinh doanh” theo nghĩa đầy đủ: là để doanh nghiệp 6 được hoạt động trên thương trường, ngoài việc đăng ký được cấp GCNĐKDN, doanh nghiệp muốn hoạt động phải đáp ứng điều kiện “hậu kiểm” theo quy định của pháp luật đầu tư và pháp luật chuyên ngành về ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Chuyển từ cơ chế kiểm tra trước sang cơ chế kiểm tra sau đăng ký kinh doanh của các cơ quan quản lý nhà nước nói chung, Sở Kế hoạch và Đầu tư nói riêng đối với doanh nghiệp, xuất phát từ những lý do sau đây: Thứ nhất, yêu cầu chủ động phòng ngừa rủi ro của QLNN.
Kể từ thời điểm ĐKKD, mọi hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh doanh sẽ được nhà nước đảm bảo như: công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp, công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, tài sản và vốn đầu tư hợp pháp …đều là những quyền luôn được nhà nước đảm bảo và ghi nhận, cam kết cho các chủ thể kinh doanh có khả năng phát triển trong một môi trường lành mạnh, ổn định. Mặt khác, với vai trò định hướng cho sự phát triển của thị trường, nhà nước còn thực hiện nhiều chính sách phát triển kinh tế như: chính sách thuế, chính sách hỗ trợ, ưu đãi đầu tư… nhằm bảo đảm cho chủ thể kinh doanh thực hiện quyền của mình hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện kinh doanh, các chủ thể kinh doanh phải có nghĩa vụ thực hiện đúng cam kết đã khai báo khi đăng ký và được ghi nhận trong GCNĐKDN như: tên, địa chỉ trụ sở, ngành, nghề kinh doanh, người đại diện theo pháp luật, cơ cấu sở hữu, tình trạng pháp lý của doanh nghiệp; ý thức tuân thủ pháp luật; tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Cơ quan quản lý nhà nước sẽ tiến hành theo dõi, kiểm tra, đánh giá, hoạt động của doanh nghiệp khi thực hiện hành vi kinh doanh.
Mọi hoạt động của các chủ thể không đúng thì được coi đó là hành vi vi phạm pháp luật. Hoạt động kiểm tra doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh của cơ quan quản lý nhà nước nhằm ngăn ngừa những rủi ro xảy ra, hỗ trợ doanh nghiệp tuân thủ tốt pháp luật và xử phạt, ngăn chặn kịp thời các vi phạm. Thứ hai, tạo cơ hội gia nhập thị trường của doanh nghiệp, giúp đơn giản hóa hồ sơ, giảm chi phí về thời gian và tiền bạc trong việc đăng ký thành lập 7 doanh nghiệp. Hợp nhất ba thủ tục đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và khắc dấu, tạo sự thống nhất trong quy trình, thủ tục đăng ký kinh doanh “một cửa liên thông”, Chủ thể kinh doanh chỉ phải làm một thủ tục ĐKDN để nhận giấy chứng nhận ĐKKD.
Doanh nghiệp sử dụng mã số doanh nghiệp để kê khai tất cả các loại thuế, kể cả thuế xuất nhập khẩu mà doanh nghiệp từng kê khai và làm thủ tục độc lập trước đó. Trong trường hợp dời trụ sở sang địa bàn tỉnh khác, doanh nghiệp vẫn tiếp tục sử dụng mã số doanh nghiệp đã được cấp. Mã số doanh nghiệp tồn tại cho đến khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động. Điều này cho thấy các cơ quan nhà nước có liên quan đến việc quản lý thành lập doanh nghiệp đã nỗ lực đẩy mạnh công tác phối hợp liên ngành, liên thông giữa các bộ phận trong toàn quy trình nhằm để đơn giản hóa tối đa thủ tục cho người thành lập doanh nghiệp khi tiến hành thủ tục đăng ký gia nhập thị trường.
Luật Doanh nghiệp 2014 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định cụ thể lĩnh vực, danh mục ngành nghề bị cấm kinh doanh. “Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có quyền kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật không cấm”, thể hiện quyền tự do trong kinh doanh đối với mọi thành phần kinh tế, lĩnh vực ngành nghề đăng ký kinh doanh ngày càng đa dạng, làm phong phú thêm sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phục vụ nhu cầu xã hội, góp phần mở rộng thị trường trên mọi lĩnh vực, thúc đẩy phát triển nền kinh tế - xã hội. Thứ ba, đơn giản thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp Luật Doanh nghiệp 2014 cùng với Nghị định số 78/2015/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh đã đơn giản hóa nhiều về thủ tục đăng ký kinh doanh. Sự ra đời cơ chế liên thông đã tạo ra căn cứ pháp lý để các địa phương triển khai đồng loạt việc phối hợp nghiệp vụ của 3 cơ quan đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký con dấu; loại bỏ những khâu thủ tục không cần thiết, rút ngắn thời gian đăng ký kinh doanh còn 3 ngày đã tạo tiền lệ tốt về sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong giải quyết thủ tục gia nhập thị trường của doanh nghiệp nói riêng và các thủ tục hành chính cho người dân nói chung; 8 Ngoài ra, pháp luật về ĐKKD còn quy định quy trình thành lập doanh nghiệp tập trung ở tại một cơ quan đầu mối là Phòng ĐKKD cấp tỉnh – Sở Kế hoạch và Đầu tư để cấp ĐKDN và đăng ký thuế cho doanh nghiệp, không bắt doanh nghiệp phải đi lại ở nhiều cơ quan khác nhau.
Khi nhà đầu tư nộp hồ sơ cho Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh thông tin về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được chuyển sang cơ sở dữ liệu của Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính). Sau đó, Tổng cục Thuế có trách nhiệm tạo mã số doanh nghiệp và chuyển mã số doanh nghiệp sang Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp để Phòng Đăng ký kinh doanh cấp cho doanh nghiệp. Mã số này đồng thời là mã số thuế của doanh nghiệp. Tổng thời gian để cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định chỉ còn là 3 ngày.
Thứ tư: Doanh nghiệp được quyền tự chủ trong kinh doanh. Có thể thấy rằng, nhà nước đã cam kết tôn trọng chủ quyền, sự độc lập và khả năng tự chủ của chủ thể kinh doanh, từ quyền sở hữu, quyền tự chủ kinh doanh đến các quyền liên quan đến quản lý, lao động …thông qua hoạt động ĐKKD. Ngoài ra, các quyền của chủ thể kinh doanh không chỉ bao gồm những quyền được nêu trên mà với tư duy mở, hoạt động của chủ thể kinh doanh được điều chỉnh trên nguyên tắc cái gì pháp luật không cấm thì được thực hiện. Việc ghi nhận quyền cho chủ thể kinh doanh khi tham gia thành lập doanh nghiệp được áp dụng thống nhất, tạo ra một trật tự chung trên thị trường.
Gắn liền với quyền là những nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải thực hiện khi tham gia ĐKKD. Bởi vì, thông qua hoạt động ĐKKD, tổ chức, cá nhân sẽ là những chủ thể kinh doanh được nhà nước và xã hội công nhận. Vì vậy, nhà nước sẽ yêu cầu các chủ thể kinh doanh phải cam kết thực hiện đúng quy định của pháp luật như không được kinh doanh những lĩnh vực ngành nghề mà pháp luật cấm, phải đóng thuế, nếu có sự thay đổi so với việc đăng ký lúc ban đầu thì phải thông báo, phải thực hiện các nghĩa vụ về tài chính, không vi phạm lao động, môi trường, quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội… Ngoài ra, với tư cách là một chủ thể kinh doanh trên thị trường, giữa các chủ thể kinh doanh luôn có trao đổi hợp tác với nhau, hoạt động ĐKKD sẽ nhắc nhở chủ thể kinh doanh ý thức 9 được khi tham gia vào “sân chơi” chung này không được xâm phạm lợi ích của nhau, mọi cách thức kinh doanh phải thực hiện hài hòa, hợp lý, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhau. Mặt khác, tự do kinh doanh không có nghĩa là tự do vô tổ chức, mà luôn được đặt trong trật tự của thị trường để bảo đảm sự phát triển có định hướng của thị trường với vai trò quản lý của nhà nước.
Những nghĩa vụ kể trên để đảm bảo chủ thể kinh doanh thực hiện đúng cam kết với nhà nước khi đăng ký kinh doanh.