phần mở đầu, kết luận và các nội dung phụ lục, tài liệu tham khảo và phụ lục. Nội dung chính nghiên cứu của luận văn bao gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về thu ngân sách nhà nước và kiểm soát thu ngân sách nhà nước. Chƣơng 2: Thực trạng công tác kiểm soát thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC VÀ KIỂM SOÁT THU NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Thu ngân sách nhà nƣớc 1. Ngân sá h nh nướ NSNN bao gồm các khoản thu, các khoản chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Các khoản thu – chi này do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định.
Căn cứ vào cấp ngân sách, NSNN bao gồm ngân sách địa phương và ngân sách Trung ương. Ngân sách Trung ương được cấp chủ yếu cho các Bộ và cơ quan ngang bộ, ngân sách cho tổ chức xã hội ở trung ương, ngân sách cho đoàn thể ở trung ương; và ngân sách địa phương thu từ ngân sách tỉnh và thành phố trực thuộc tỉnh, ngân sách quận, huyện; ngân sách phường, xã [1]. Ngân sách trung ương hưởng các khoản thu tập trung quan trọng không gắn trực tiếp với công tác kiểm soát của địa phương như thuế xuất nhập khẩu, nguồn thu từ các hoạt động do trung ương kiểm soát, thuế thu nhập doanh nghiệp. Các khoản chi của ngân sách trung ương nhằm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia như đầu tư cơ sở hạ tầng cho kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, chi cho giáo dục, y tế, đảm bảo xã hội do trung ương kiểm soát… và hỗ trợ các địa phương chưa cân đối được thu và chi ngân sách.
Khác với ngân sách trung ương, các nguồn thu của ngân sách địa phương chủ yếu từ thuế nhà, đất, thuế môn bài, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế thu nhập cá nhân… ngược lại, các hoạt động chi gắn liền với nhiệm vụ kiểm soát kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh do địa phương trực tiếp kiểm soát [1]. 5 Ngân sách cấp trên bổ sung cho ngân sách cấp dưới thông qua bổ sung cân đối ngân sách và bổ sung có mục tiêu. Ngoài ra, NSNN còn được chia thành thu NSNN và chi NSNN. Nguồn thu NSNN từ các loại thuế, các loại phí và lệ phí, các khoản thu còn có được từ các hoạt động kinh tế do Nhà nước tự thực hiện, các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân, các khoản viện trợ, các khoản thu khác được pháp luật quy định.
Các khoản thu được quy định cụ thể trong các văn bản nhà nước [1], [7]. Thu ng n sá h nh nướ Thu NSNN là toàn bộ các khoản thu đã được nhà nước dự đoán trước và thực hiện trong thời gian nhất định (thường là 1 năm gọi là năm ngân sách), do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và thực hiện thu ngân sách. Các khoản thu ngân sách trung ương có được từ việc huy động đóng góp của tổ chức, cá nhân trên nguyên tắc tự nguyện để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của pháp luật do Hội đồng nhân dân xã quyết định đưa vào ngân sách địa phương kiểm soát. Thu ngân sách địa phương do các cơ quan chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) và các cơ quan chức năng (ngân hàng nhà nước, Cục – chi cục thuế) thực hiện.
Tùy từng đối tượng thu mà khoản ngân sách thu từ địa phương sẽ để lại 100% cho địa phương sử dụng (ngân sách địa phương hưởng 100%) hay trích một phần lại cho địa phương còn lại nộp cho ngân sách cấp trên (các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách địa phương với ngân sách cấp trên). Ngoài ra, nguồn thu ngân sách địa phương còn có thông qua thu bổ sung từ ngân sách cấp trên. Nguồn thu thường xuyên của ngân sách địa phương gồm các khoản thu từ quỹ đất công ích, tài sản công và hoa lợi công sản. Ở các khoản thu 6 này, xã không được đấu thầu thu khoán một lần cho nhiều năm làm ảnh hưởng đến việc cân đối ngân sách địa phương các năm sau; trường hợp thật cần thiết phải thu một lần cho một số năm, thì chỉ được thu trong nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân, hiện nay xã được cho đấu thầu tối đa 5 năm.
Nguồn thu của ngân sách địa phương do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định và phân cấp trong phạm vi nguồn thu ngân sách địa phương được hưởng. Các khoản thu này chủ yếu chi đầu tư và chi thường xuyên cho các xã. Căn cứ quy mô nguồn thu, chế độ phân cấp kiểm soát kinh tế - xã hội và nguyên tắc đảm bảo tối đa nguồn tại chỗ cân đối cho các nhiệm vụ chi thường xuyên, khi phân cấp nguồn thu, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét dành cho ngân sách địa phương hưởng 100% các khoản thu gồm: - Các khoản phí, lệ phí do địa phương theo quy định; - Thu từ các hoạt động sự nghiệp của xã; - Thu từ đấu thầu, thu khoán theo mùa vụ từ quỹ đất công ích và hoa lợi công sản do xã quản lý; - Thu từ các khoản huy động đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân theo pháp luật quy định, nhằm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng do Hội đồng nhân dân xã quyết định đưa vào ngân sách địa phương kiểm soát; - Thu từ các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài viện trợ không hoàn lại trực tiếp cho ngân sách địa phương theo chế độ quy định; - Thu kết dư ngân sách địa phương năm trước; - Các khoản thu NSNN khác được pháp luật cho phép địa phương thu. (2) Các khoản thu NSNN địa phương được hưởng theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách địa phương với ngân sách cấp trên.
7 Các khoản thu này bao gồm các loại thuế về chuyển quyền sử dụng đất; nhà, đất; môn bài, thuế sử dụng đất thu từ các cá nhân, hộ kinh doanh, hộ gia đình; Lệ phí trước bạ nhà, đất. Ngân sách địa phương, thị trấn được hưởng tối thiểu 70% số thu NSNN mà địa phương được hưởng theo tỷ lệ %. Tuy nhiên, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định tỷ lệ ngân sách địa phương, thị trấn được hưởng cao hơn, đến tối đa là 100% phụ thuộc vào nguồn thu và nhiệm vụ chi của các xã, thị trấn. Ngoài các khoản thu phân chia theo quy định, ngân sách địa phương còn được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bổ sung thêm các nguồn thu phân chia sau khi các khoản thuế, lệ phí phân chia theo Luật Ngân sách nhà nước đã dành 100% cho xã, thị trấn và các khoản thu ngân sách địa phương được hưởng 100% nhưng vẫn chưa cân đối được nhiệm vụ chi.
(3) Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách địa phương. Sau khi có nguồn thu (1) và (2) mà địa phương vẫn chưa cân đối được nhiệm vụ chi, ngân sách địa phương sẽ được thu bổ sung để cân đối ngân sách. Khoản thu này là mức chênh lệch giữa dự toán chi được giao và dự toán thu từ các nguồn thu được phân cấp. Số bổ sung cân đối này được xác định từ năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách và được giao ổn định từ 3 đến 5 năm.
Và thu bổ sung có mục tiêu là các khoản bổ sung theo từng năm để hỗ trợ xã thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể [7]. Kiểm soát thu ngân sách nhà nƣớc 1. Khái niệm Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kiểm soát như: kiểm soát là một cam kết bao gồm nhận biết tất cả hoạt động đã thực hiện phù hợp với kế hoạch, các thủ tục và nguyên tắc đã được chấp nhận, nhằm chỉ ra những sai sót để được sửa chữa và phòng ngừa; Kiểm soát còn được hiểu là các 8 biện pháp đo lường và khắc phục nhằm đảm bảo các mục tiêu và kế hoạch đã được hoàn thành; hoặc Kiểm soát là một nỗ lực có hệ thống trong quản trị kinh doanh để so sánh kết quả thực hiện với tiêu chuẩn, kế hoạch, các mục tiêu đã đề ra. Kiểm soát là một chu trình khép kín (hình 1.
Vòng liên hệ ngƣợc của kiểm soát Nguồn: [8] Kiểm soát là quá trình xác định thành quả đạt được trên thực tế và so sánh với những tiêu chuẩn đã đề ra từ trước nhằm phát hiện sự sai lệch và nguyên nhân sự sai lệch đó, trên cơ sở đó đưa ra biện pháp điều chỉnh sự sai lệch để đảm bảo tổ chức đạt được mục tiêu [9]. Bất kì một hoạt động quản lý nào cũng cần được kiểm soát. Trong thu NSNN, “Kiểm soát thu NSNN là quá trình diễn ra liên tục từ lập dự toán thu ngân sách, thực hiện thu ngân sách, quyết toán thu ngân sách và thanh tra, kiểm tra thu ngân sách, trong đó, tập trung vào việc kiểm tra, so sánh, đánh giá giữa thực hiện thu ngân sách với dự toán thu ngân sách và so với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; giữa quyết toán thu ngân sách với thực hiện thu ngân sách. Quá trình này nhằm phát hiện kịp thời các sai sót có thể xảy ra để phòng ngừa và sữa chữa kịp thời khi cần.
guy n tắ kiểm soát trong thu ng n sá h nh nướ Thứ nhất, nguyên tắc phản ánh kế hoạch: căn cứ vào dự toán thu ngân sách hàng năm, hoạt động kiểm soát được thực hiện nhằm phản ánh dự toán thu ngân sách đó. Kiểm soát tốt tạo điều kiện cho việc thực hiện đúng và đủ trong thu NSNN. Thứ hai, nguyên tắc phòng ngừa: Kiểm soát chú ý hướng đến phòng ngừa hơn là khắc phục sau khi sai lệch xảy ra. Kiểm soát lường trước những rủi ro, khó khăn trở ngại có thể diễn ra để có biện pháp phù hợp.
Thứ ba, nguyên tắc trách nhiệm: chủ thể kiểm soát có trách nhiệm phát hiện, giải quyết các sai lệch và đưa ra giải pháp khắc phục một cách kịp thời. Trách nhiệm lập dự toán thu NSNN, duyệt dự toán, thực hiện, quyết toán, thanh tra, kiểm tra đều quy định cụ thể theo luật. Thứ tư, kiểm soát phải thực hiện tại những điểm trọng yếu: Tất cả hoạt động vận hành đều có những điểm dễ bị tổn thương hoặc những điểm trọng yếu. Đó là nơi gây ra các rắc rối làm phát sinh độ sai lệch lớn.