Chương 1. Cơ sở lý luận về kiểm soát chi phi dự án đầu tư công và công tác kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành Chương 2. Thực trạng hoạt động kiểm soát chi phí dự án đầu tư qua công tác kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành tại công ty TNHH Kiểm toán và Định giá Thăng Long Chương 3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chỉ phí dự án đầu tư công tại công ty TNHH Kiểm toán và Định giá Thăng Long.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VE KIEM SOÁT CHI PHÍ DỰ ÁN DAU TU CÔNG VA CÔNG TÁC KIEM TOÁN BAO CÁO QUYÉT TOÁN DỰ ÁN HOÀN THÀNH 1.1 Khái niệm về dự án đầu tư công, quá trình đầu tư xây dựng cơ bản 1. Khái quát về dự án đầu tư công Khái niệm về đầu tư công tại khoản 15 Điều 4 Luật Dau tư công năm 2019: “Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án và đối tượng đầu tư công khác theo quy định của Luật này”. Ngoài ra khái niệm về đầu tư công còn nhiều quan điểm tranh luận từ những đề tài nghiên cứu khác nhau, từ kinh tế trong nước đến trên thế giới. “Có nhà nghiên cứu cho rằng khái niệm về đầu tư công là đề cập tới lĩnh vực đầu tư mà đầu tư tư nhân không thê và không muốn tham gia như kết cau hạ tầng kinh tế xã hội.
Có nhà nghiên cứu thì cho rang đầu tư công là hoạt động đầu tư sử dụng Nguồn vốn của Nhà nước. Đơn giản là có công trình nghiên cứu về đầu tư công sử dụng nguồn vốn Nhà nước có thể bị đánh giá hiểu sai bản chất nếu người đánh giá quan niệm đầu tư công chú trọng vào lĩnh vực đầu tư. Do đó cần thống nhất khái niệm đầu tư công làm cơ sở cho việc nghiên cứu về đầu tư công và quản lý hoạt động đầu tư công hiệu quả” (trích từ trang 1 đến trang 16 bài viết “Đầu tư công là gì”, Ths. Nguyễn Thị Ái Liên, trường Dai học Kinh tế Quốc dân) “Hoạt động đầu tư công bao gồm lập, thâm định, quyết định chủ trương đầu tư; lập, thâm định, quyết định chương trình, dự án đầu tư công; quản lý, sử dụng vốn đầu tư công; nghiệm thu, bàn giao chương trình, quyết toán dự án đầu tư công; theo dõi và đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công”.
Dự án đầu tư công được phân loại như sau: - Dự án có cầu phan xây dựng là dự án đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng dự án đã đầu tư xây dựng, bao gồm cả phần mua tài sản, mua trang thiết bị của dự án; - Dự án không có cau phan xây dựng là dự án mua tài san, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua, sửa chữa, nâng cấp trang thiết bị, máy móc và dự án khác. Dự án đầu tư công theo khái niệm là: “Bao gồm một hoặc nhiều dự án với loại, cấp công trình xây dựng, cải tạo khác nhau; căn cứ theo quy mô, tính chất, loại dự án 8 đầu tư gồm dự án quan trọng trong nước bao gồm các dự án thuộc nhóm A, nhóm B, nhóm C.” Dựa vào công năng thì công trình được phân loại như sau: “Công trình dân dụng, công trình công nghiệp; công trình giao thông; công trình nộp nghiệp và phát triển nông thôn; công trình hạ tang kỹ thuật; công trình quốc phòng, an ninh.” Trình tự đầu tư có 03 giai đoạn gồm: “Giai đoạn chuẩn bị đầu tư; giai đoạn thực hiện đầu tư và giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng.” Du án Dau tư công phải đáp ứng các yêu cầu: “Phù hop với quy hoạch tổng thé phát triển kinh tế- xã hội, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch xây dựng, quy hoạch và kế hoạch sử dung đất tại địa phương nơi có dự án DTXD; có phương án công nghệ và phương án thiết kế xây dựng phù hợp; bao đảm chất lượng, an toàn trong xây dựng, vân hành, khai thác , sử dụng công trình, phòng, chống cháy, nô va bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; bảo dam cấp vốn đúng tiến độ của dự án, hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế- xã hội của dự án; tuân thủ quy định khác của pháp luật. Vai trò và đặc điểm hoạt động đầu tư công của Nhà nước Trong “Bài học kinh nghiệm trong việc phân cấp trong quản lý hoạt động đầu tư công” của Ths.Phạm Thu Vân (Khoa Đầu tư - Đại học KTQD) tại trang 20 có viết về thực trạng phân cấp trong hoạt động quản lý đầu tư công tại Việt Nam, bài viết nêu như sau: + Luật đầu tư công năm 2014 quy định: “Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế- xã hội”. Đầu tư công góp phần thúc day mức tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam.
Xét về cơ cấu trong tổng chi cân đối Ngân sách Nhà nước (NSNN), chi đầu tư từ NSNN dang theo xu hướng giảm dan. Năm 2009, Việt Nam dat tỷ trọng chi đầu tư công cao nhất là 42,2% trên tổng GDP. Vào năm 2020, 2021 tỷ trọng chi đầu tư công lần lượt chiếm 34,4%, 35% trên tông GDP Đây có thé là tín hiệu đáng mừng khi chi đầu tư phát triển càng ngày càng ít phụ thuộc vào NSNN và có thể huy động từ các nguồn khác nhau như: vốn vay, vốn từ nhà đầu tư. + Tuy vậy, trong quá trình triển khai và thực hiện quản lý đầu tư công theo mức độ phân cấp như vậy lại bộc lộ nhược điểm.
Quản lý đầu tư công là công việc khó nên 9 không chỉ tại Việt Nam mà các quốc gia khác đều cho thấy: Quy trình quản lý đầu tư công còn hạn chế, khoảng 5/8 khâu trong quy trình quan lý ở mức yếu và kém, trong đó hai chỉ tiêu: định hướng, xây dựng dự án va sang lọc bước đầu; thẩm định dự án chính thức đều ở mức trung bình. + Có hai nguyên tắc quan trọng trong công tác phân cấp quản lý đầu tư công của Nhà nước. Nguyên tắc thứ nhất là “phân cấp từ trên xuống”, tức là từ trung ương đến địa phương. Điều này khiến cấp dưới không chủ động trong công việc do bị phụ thuộc vào cấp trên, đồng thời cấp trên cũng “dài tay” dẫn tới quá tải, làm thay việc của cấp dưới.
+ Sau thay đối từ Luật đầu tư công 2019 đã làm rõ hơn phân cấp thâm quyền quyết định chủ trương đầu tư. Song thực tế trong dự toán NSNN 2019 38/63 tỉnh thành có nguồn thu đủ lớn dé điều tiết về trung ương, nhưng cũng là một chuyên biến đáng khen khi từ năm 2016 vẫn còn hơn 50 tỉnh thành. + Nguyên tắc thứ hai là phân cấp theo quy mô, từ đó quyết định mức độ phân cấp đối với quản lý đầu tư công. Điều này cũng dẫn tới nhiều bất cập, cụ thể có nhiều dự án thuộc phạm vi quy hoạch dù có quy mô nhỏ, kỹ thuật không có tính chất phức tạp nhưng do là di tích quốc gia.
Một số dự án du không gây ảnh hưởng đến di tích quốc gia nhưng thuộc nhóm A phải qua các thủ tục và quy trình phức tạp. Bên cạnh đó, các dự án thuộc nhóm A phải trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dé có thé đưa ra quyết định. Hơn nữa, một số địa phương đã thực hiện và tiến hành đầu tư tràn lan, chồng chéo do lợi dụng khe hở trong quá trình phân cấp. Chang hạn như trong ngành giao thông vận tải của nước ta, nhiều cơ sở hạ tầng được tiến hành đầu tư dày đặc nhưng hiệu qua mang lại không đáng kề và đem lại lợi ích thương mại.
Vậy nên, nhiều cảng biển, tuyến đường chưa được khai thác và sử dụng hiệu quả. Quá trình đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB): Theo khái niệm thì dự án đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB): “Là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dung vốn dé tiến hành hoạt động xây dựng dé xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời han và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án DTXDCB, dự án được thé hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu (tiền) khả thi ĐTXDCB hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật ĐTXD về dự án và dự án DTXD công trình” 10 Hoạt động xây dựng bao gồm như sau: “Lập quy hoạch xây dựng, lập dự án DTXD công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình.” Nội dung quản lý dự án đầu tư XDCB gồm: “Quản lý về phạm vi, kế hoạch công việc; khối lượng công việc của dự án; chất lượng xây dựng; tiễn độ thực hiện dự án; chỉ phí DTXD của dự án; an toàn trong thi công xây dựng; bảo vệ môi trường trong xây dựng; lựa chọn nhà thầu và hợp đồng xây dựng; quản lý rủi ro; quản lý hệ thống thông tin công trình.” Đặc điểm của dự án đầu tư XDCB bao gồm: “Dự án có mục đích, mục tiêu rõ ràng; dự án có chu kỳ riêng và thời gian tồn tại hữu hạn; dự án có sự tham gia của nhiều bên liên quan; sản phẩm của dự án mang tính đơn chiếc, độc đáo; dự án bị hạn chế bởi các nguồn lực; dự án luôn có tính bất định và rủi ro; mỗi dự án đều là nhiệm vụ có tính trình tự và giai đoạn.” Đặc điểm của sản pham xây dựng bao gồm: “Là những công trình xây dựng như nhà máy, công trình công cộng, nhà ở, cầu cống, sân bay, .