Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong chương trình Ngữ văn cấp Trung học cơ sở (THCS), nhóm văn bản nhật dụng được bố trí giảng dạy xuyên suốt từ lớp 6 đến lớp 9 với thời lượng 13 tiết ở mỗi khối lớp, chiếm khoảng 10% tổng số tiết học. Các văn bản này đề cập đến những vấn đề thời sự, xã hội thiết thực như thiên nhiên, môi trường, gia tăng dân số, tệ nạn xã hội, quyền trẻ em và bảo tồn bản sắc văn hóa. Dù có ý nghĩa giáo dục thực tiễn cao, văn bản nhật dụng trên thực tế ít khi được chú trọng trong các kỳ kiểm tra định kỳ và thường bị học sinh đánh giá là khô khan, nhiều số liệu, dẫn đến tình trạng dạy học thụ động kiểu truyền thụ một chiều ("cô giảng trò nghe"). Để nâng cao hứng thú và phát triển năng lực người học, khóa luận lựa chọn áp dụng mô hình dạy học dự án cho nhóm 3 văn bản nhật dụng học kỳ I thuộc Sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn 8.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp dạy học dự án và đặc điểm thể loại của nhóm văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn 8, tập 1.
  2. Khảo sát thực trạng nhận thức, mức độ vận dụng dạy học dự án của giáo viên và học sinh tại một số trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội.
  3. Xây dựng quy trình vận dụng dạy học dự án vào nhóm bài văn bản nhật dụng thông qua hình thức tiết Hoạt động ngoài giờ lên lớp với chủ đề "Môi trường".
  4. Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường THCS để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của quy trình đã đề xuất đối với việc hình thành năng lực học sinh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quy trình dạy học dự án áp dụng trong dạy học nhóm bài văn bản nhật dụng thuộc chương trình Ngữ văn 8, tập 1.
  • Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn trong phạm vi 3 văn bản nhật dụng học kỳ I lớp 8 gồm "Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000", "Ôn dịch, thuốc lá" và "Bài toán dân số".

Lịch sử nghiên cứu được tác giả tổng hợp từ nguồn gốc lý luận của J. Kilpatrick vào những năm 1930 đến các công trình triển khai tại Việt Nam như đề tài của Lê Khoa (2015, môn Toán THPT), Đinh Thị Hồng Minh (2012, môn Hóa học), Đào Ngọc Minh (2010, môn Giáo dục công dân THPT), Nguyễn Thị Kim Hằng (2018, môn Lịch sử), Trần Thị Thùy Dung (2014, môn Ngữ văn 9) và mô hình dự án trải nghiệm "Sống & Viết" với chủ đề "Trung thực để sống" của Nguyễn Thị Vĩnh Hà tại trường Tiểu học - THCS Pascal (2018).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên thuật ngữ dự án ("project", gốc Latinh là proiectum) và lý thuyết dạy học dự án do J. Kilpatrick khởi xướng, nhấn mạnh vai trò trung tâm của người học khi tự lực giải quyết nhiệm vụ phức hợp gắn lý thuyết với thực hành nhằm tạo ra sản phẩm cụ thể. Mô hình này sở hữu 8 đặc điểm cốt lõi: định hướng thực tiễn, có ý nghĩa thực tiễn xã hội, định hướng hứng thú, tính phức hợp, định hướng hành động, tính tự lực cao của học sinh, cộng tác làm việc và định hướng sản phẩm. Về mặt phân loại, tác giả dẫn hệ thống phân chia theo quỹ thời gian của K. Frey (dự án nhỏ 2–6 giờ, dự án trung bình giới hạn 40 giờ trong một tuần, dự án lớn kéo dài nhiều tuần) và phân loại theo nhiệm vụ (tìm hiểu, nghiên cứu, thực hành kiến tạo sản phẩm, hành động, hỗn hợp). Ngoài ra, cơ sở tâm sinh lý lứa tuổi học sinh lớp 8 (giai đoạn chuyển tiếp với cái tôi cá nhân cao, có nhu cầu bình đẳng và khẳng định bản thân) được dùng làm căn cứ thiết kế hoạt động nhóm.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và định lượng được triển khai gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích tài liệu sư phạm, văn bản pháp quy giáo dục và nội dung nhật dụng.
  • Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu hỏi khảo sát đối với 21 giáo viên Ngữ văn tại 3 trường THCS và 128 học sinh khối 8.
  • Phương pháp quan sát: Ghi nhận trực quan thái độ tiếp nhận và mức độ tương tác của học sinh.
  • Phương pháp phân tích và thống kê: Thu thập, tổng hợp và xử lý dữ liệu khảo sát cùng biên bản làm việc nhóm.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm theo quy trình dự án trên 45 học sinh lớp 8A trường THCS Tân Mai.

Nguồn dữ liệu bao gồm kết quả khảo sát từ 3 trường THCS trên địa bàn Hà Nội (THCS Hà Huy Tập, THCS Tân Mai, THCS Mễ Trì) và hồ sơ thực nghiệm (kế hoạch dự án, biên bản phân công, nhật ký thực hiện, bảng đánh giá sản phẩm).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về quy trình dạy học dự án trong dạy học nhóm bài văn bản nhật dụng, SGK Ngữ văn 8, tập 1

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm, đặc điểm, tiến trình 5 bước kinh điển của dạy học dự án (Xây dựng tiền đề dự án, Triển khai dự án, Hoàn thiện sản phẩm cuối, Trình bày sản phẩm dự án, Đánh giá phản hồi) và chỉ rõ các yêu cầu cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ đối với 3 bài văn bản nhật dụng lớp 8, tập 1.

Về mặt thực tiễn, tác giả công bố số liệu khảo sát thực trạng giảng dạy tại Hà Nội. Khảo sát 21 giáo viên Ngữ văn tại 3 trường THCS (5 giáo viên THCS Hà Huy Tập - quận Hai Bà Trưng, 10 giáo viên THCS Tân Mai - quận Hoàng Mai, 6 giáo viên THCS Mễ Trì - quận Nam Từ Liêm) cho thấy: 57,1% giáo viên đã quen với dạy học dự án qua các bộ môn khác; 52,4% (11/21 GV) ít khi sử dụng trong môn Ngữ văn; chỉ 9,5% thường xuyên vận dụng; 23,8% (5/21 GV) chưa từng áp dụng; 61,9% (13/21 GV) chủ yếu dùng dạy học dự án trong các tiết dạy tích hợp liên môn; 61,9% nhận thấy học sinh rất hứng thú nhưng cũng có 61,9% giáo viên thừa nhận gặp nhiều khó khăn khi triển khai do đòi hỏi nhiều thời gian và công sức chuẩn bị.

Khảo sát đối với 128 học sinh khối 8 trường THCS Tân Mai (lớp 8A: 45 HS, lớp 8C: 45 HS, lớp 8D: 43 HS) ghi nhận thực trạng nhận thức về phương pháp học tập:

Tiêu chí khảo sát Số lượng phản hồi Tỷ lệ (%)
Đã làm quen dạy học dự án qua môn Tiếng Anh và môn khác 93 / 128 học sinh 72,7%
Đã làm quen dạy học dự án trong môn Ngữ văn 17 / 128 học sinh 13,3%
Ít khi tham gia dự án học tập môn Ngữ văn 53 / 128 học sinh 41,4%
Chưa từng tham gia dự án học tập môn Ngữ văn 43 / 128 học sinh 33,6%
Tiếp xúc dự án qua tiết học tích hợp liên môn 62 / 128 học sinh 48,5%
Tiếp xúc dự án qua một nhóm bài Ngữ văn cụ thể 25 / 128 học sinh 19,5%
Cảm thấy văn bản nhật dụng khó nhớ, nhiều số liệu, kém hấp dẫn 84 / 128 học sinh 65,6%
Mong muốn giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy sinh động hơn 94 / 128 học sinh 73,4%
Mong muốn được tham gia dự án học tập khi học văn bản nhật dụng 74 / 128 học sinh 57,8%

Chương 2: Vận dụng quy trình dạy học dự án trong dạy học nhóm bài văn bản nhật dụng sách Ngữ văn 8, tập 1

Chương 2 thiết kế quy trình thực hiện gồm 4 bước cụ thể, được tổ chức lồng ghép vào tiết Hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm hỗ trợ bài học chính khóa:

  • Bước 1: Quyết định chủ đề dự án: Tác giả lựa chọn cách tiếp cận ở Mức 1 (giáo viên chủ động định hướng chủ đề chung dựa trên chương trình phân phối). Tên dự án được xác định là "Môi trường". Ba văn bản nhật dụng tương ứng với ba tiểu chủ đề: ô nhiễm rác thải túi ni lông ("Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000"), tác hại của khói thuốc lá ("Ôn dịch, thuốc lá") và hiểm họa bùng nổ dân số ("Bài toán dân số"). Quy định 3 nhóm sản phẩm bắt buộc gồm:
    1. Phòng tranh mini: Tối thiểu 5 bức tranh vẽ tay khổ A3 hoặc A4 trên các chất liệu màu sáp, màu nước, acrylic.
    2. Video chuyên đề: Thời lượng 3–5 phút (định dạng MP4, MOV, MPG có phụ đề tiếng Việt).
    3. Báo cáo kết quả: Văn bản thuyết minh dung lượng dưới 1000 từ phục vụ bài thuyết trình.
  • Bước 2: Triển khai và hoàn thiện dự án: Tác giả gộp bước triển khai kế hoạch và hoàn thiện sản phẩm thành tiến trình phối hợp 4 tuần. Giáo viên giữ vai trò tư vấn, điều phối cơ sở vật chất (máy chiếu, micro, loa, bảng treo tranh); học sinh tự thành lập ban hậu cần, nhóm kỹ thuật trình chiếu, phân công 2 học sinh dẫn chương trình (MC) và thư ký tổng hợp. Các nhóm tiến hành tìm kiếm tư liệu thực tế, chụp ảnh, vẽ tranh, dựng video clip/vlog và viết bài thuyết minh.
  • Bước 3: Giới thiệu sản phẩm dự án: Tổ chức buổi báo cáo dưới hình thức ngày hội thuyết trình kết hợp triển lãm phòng tranh mini và công chiếu video trong tiết Hoạt động ngoài giờ lên lớp. Sau phần trình bày, nhóm báo cáo nhận 2 câu hỏi chất vấn từ các nhóm khác; nếu nhóm báo cáo không trả lời được, nhóm đặt câu hỏi phải cung cấp đáp án để tính điểm.
  • Bước 4: Đánh giá sản phẩm của dự án: Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá đa chiều trên 3 kênh:
    1. Đánh giá nội bộ trong nhóm: Theo dõi mức độ hoàn thành nhiệm vụ, tinh thần cộng tác, trách nhiệm và tính kỷ luật.
    2. Đánh giá chéo giữa các nhóm: Đánh giá dựa trên bố cục tranh vẽ, tính logic và hình thức của video, kỹ năng thuyết trình thuyết minh và chất lượng câu hỏi tương tác.
    3. Đánh giá của giáo viên: Chấm điểm tổng hợp theo thang đo định lượng gồm độ chuẩn xác kiến thức, tính thời sự, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin và khả năng điều hành làm việc nhóm.

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 trình bày toàn bộ tiến trình triển khai thực nghiệm sư phạm từ tháng 02/2019 đến tháng 04/2019 tại phòng học lớp 8A trường THCS Tân Mai, quận Hoàng Mai, Hà Nội (Giáo viên chủ nhiệm: Nguyễn Vũ Thùy Dung). Lớp thực nghiệm có 45 học sinh, được chia đều thành 3 nhóm làm việc (mỗi nhóm 15 học sinh) dựa trên sự cân đối về giới tính và sở trường năng khiếu:

  • Nhóm 1 (Chủ đề "Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000"): 15 học sinh (8 nữ, 7 nam). Nhóm trưởng là Trương Tuệ Minh (lớp phó học tập); phụ trách mỹ thuật gồm Nguyễn Trang Khanh và Phạm Vũ Nguyên (từng đạt giải vẽ cấp quận); thuyết trình và dẫn chương trình là Trần Nguyên Minh; viết văn bản thuyết minh gồm Nguyễn Ngọc Anh và Nguyễn Bùi Hoàng Lân; hỗ trợ kỹ thuật video là Nguyễn Thị Minh Hòa và Trần Đức Huy.
  • Nhóm 2 (Chủ đề "Ôn dịch, thuốc lá"): 15 học sinh (8 nữ, 7 nam). Nhóm trưởng là Phạm Lê Phương Anh (học sinh giỏi các môn xã hội); kỹ thuật làm video do Đặng Tài Khoa phụ trách (3 năm liền đạt giải tin học cấp trường); mỹ thuật chính do Nguyễn Trần Hà Linh đảm nhiệm; chụp ảnh tư liệu thực tế là Trần Khôi Nguyên; thuyết trình là Vũ Đức Hùng.
  • Nhóm 3 (Chủ đề "Bài toán dân số"): 15 học sinh (7 nữ, 8 nam). Nhóm trưởng là Lê Thanh Trúc; thuyết trình do Nguyễn Vân Ly phụ trách; mỹ thuật chính là Hoàng Phi Hùng; tư liệu nhiếp ảnh do Nguyễn Mai Linh đảm nhận (từng đạt giải Ba cuộc thi nhiếp ảnh "Việt Nam qua ống kính thiếu niên"); dựng video là Phan Trung Nguyên.

Kế hoạch tiến độ thực nghiệm được tác giả ấn định và kiểm soát theo các mốc thời gian cụ thể:

  • Ngày 20/02/2019: Các nhóm nộp danh sách phân công nhiệm vụ chi tiết của từng thành viên.
  • Ngày 28/02 đến 02/03/2019: Hạn cuối nộp toàn bộ tranh vẽ của 3 nhóm để kiểm duyệt nội dung.
  • Ngày 09/03/2019: Hạn nộp video hoàn chỉnh và bản thảo bài viết thuyết minh.
  • Từ ngày 10/03 đến 14/03/2019: Tiến hành tập dượt thuyết trình vào các giờ nghỉ và ngày nghỉ cuối tuần.
  • Ngày 15/03/2019: Tổng duyệt toàn bộ chương trình (kiểm tra âm thanh, máy chiếu, thứ tự slide).
  • Tiết 1, 2 chiều ngày 16/03/2019: Tổ chức chính thức tiết Hoạt động ngoài giờ lên lớp với chủ đề "Môi trường" để trình bày, nghiệm thu và đánh giá sản phẩm dự án.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hệ thống hóa các kết quả cụ thể thông qua số liệu điều tra thực trạng và hồ sơ thực nghiệm sư phạm:

  • Minh chứng bằng số liệu định lượng về nhu cầu đổi mới phương pháp của học sinh: 73,4% học sinh mong muốn giờ học sinh động hơn và 57,8% học sinh mong muốn học văn bản nhật dụng bằng hình thức dự án.
  • Về sản phẩm thực nghiệm, đề tài đã chỉ đạo và nghiệm thu hoàn chỉnh tại lớp 8A THCS Tân Mai gồm: 15 bức tranh vẽ tay theo chủ đề môi trường (mỗi nhóm 5 bức), 3 video tư liệu có độ dài từ 3 đến 5 phút gắn phụ đề tiếng Việt và 3 bài văn thuyết minh thuyết trình dưới 1000 từ.
  • Đề xuất giải pháp sư phạm: Tổ chức dự án học tập lồng ghép vào tiết Hoạt động ngoài giờ lên lớp (chiều ngày 16/03/2019) để chuẩn bị tri thức nền tảng, tư liệu thực tế hỗ trợ trực tiếp cho các tiết học chính khóa về văn bản nhật dụng ở tuần 10, tuần 12 và tuần 13 theo phân phối chương trình.
  • Đóng góp khoa học: Cụ thể hóa quy trình dạy học dự án vốn chủ yếu được áp dụng trong các môn Khoa học tự nhiên hoặc dạy học liên môn thành một quy trình dạy học chuyên biệt cho nhóm bài văn bản nhật dụng trong phân môn Ngữ văn cấp THCS; thiết lập bộ công cụ đánh giá đa chiều kết hợp giữa đánh giá nội bộ, đánh giá đồng đẳng và đánh giá của giáo viên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận các giới hạn nghiên cứu xuất phát từ phạm vi khảo sát và điều kiện tổ chức thực nghiệm:

  • Phạm vi khảo sát giáo viên còn hẹp (21 giáo viên tại 3 trường THCS trên địa bàn Hà Nội) và khảo sát học sinh mới thực hiện trên 128 học sinh thuộc 1 trường THCS Tân Mai.
  • Thực nghiệm sư phạm mới được triển khai trên phạm vi 01 lớp học (lớp 8A, 45 học sinh), chưa có điều kiện bố trí lớp đối chứng song song để đo lường định lượng tương quan điểm số bài thi chính khóa giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.
  • Mức độ tự chủ của dự án mới dừng ở Mức 1 (giáo viên chọn sẵn đề tài và giao việc), chưa nâng lên Mức 3 (học sinh hoàn toàn chủ động đề xuất chủ đề và thuyết phục giáo viên) do giới hạn về thời gian học tập của học sinh trường công lập.
  • Hướng mở rộng: Đề tài gợi mở việc mở rộng quy mô thực nghiệm sang nhiều khối lớp khác (văn bản nhật dụng các lớp 6, 7, 9) và phát triển các dự án có tính tự chủ cao hơn (Mức 2, Mức 3) hoặc các dự án liên môn gắn Ngữ văn với Giáo dục công dân, Địa lý, Sinh học.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị ứng dụng thực tiễn trong công tác đào tạo và giảng dạy bộ môn Ngữ văn THCS:

  • Cung cấp tài liệu tham khảo trực tiếp cho sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn và giáo viên THCS về phương pháp thiết kế hồ sơ dạy học dự án, kế hoạch phân phối thời gian và kịch bản tổ chức tiết Hoạt động ngoài giờ lên lớp.
  • Cung cấp tiêu chí phân loại nhóm học sinh dựa trên năng lực chuyên biệt (năng lực viết, hội họa, ứng dụng công nghệ thông tin, diễn thuyết, nhiếp ảnh) giúp giáo viên tối ưu hóa việc phân công nhiệm vụ khi dạy học hợp tác.
  • Hệ thống tiêu chí đánh giá sản phẩm (tranh vẽ, video, bài thuyết minh) và bộ câu hỏi khảo sát thực trạng là tài nguyên tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu về đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá phẩm chất và năng lực học sinh theo chương trình giáo dục phổ thông.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận áp dụng mức độ tự chủ nào trong việc xác định tên đề tài dự án và lý do lựa chọn mức độ đó?
Tác giả lựa chọn Mức 1 trong 3 mức độ lựa chọn chủ đề dạy học dự án (giáo viên trực tiếp lựa chọn chủ đề, giới thiệu và định hướng nhiệm vụ cho học sinh). Lý do lựa chọn là học sinh lớp 8 tại trường THCS công lập lần đầu làm quen với phương pháp dạy học dự án trong môn Ngữ văn, chưa có nhiều kinh nghiệm lập kế hoạch độc lập, do đó Mức 1 đảm bảo tính vừa sức và kiểm soát được tiến độ thực hiện.

2. Thực trạng vận dụng dạy học dự án trong môn Ngữ văn tại các trường THCS được khảo sát như thế nào?
Khảo sát 21 giáo viên tại 3 trường THCS (Hà Huy Tập, Tân Mai, Mễ Trì) cho thấy có đến 52,4% giáo viên ít khi sử dụng và 23,8% không bao giờ áp dụng hình thức này trong môn Ngữ văn. Khi được áp dụng, phương pháp này chủ yếu chỉ xuất hiện trong các tiết học tích hợp liên môn (chiếm 61,9%) hoặc các kỳ thi giáo viên dạy giỏi, thao giảng chuyên đề.

3. Học sinh lớp thực nghiệm 8A được yêu cầu hoàn thành những sản phẩm cụ thể nào?
Mỗi nhóm học sinh phải hoàn thành 3 nhóm sản phẩm bắt buộc: tối thiểu 5 bức tranh vẽ tay khổ A3 hoặc A4 xoay quanh chủ đề được giao; 01 video clip hoặc vlog có độ dài 3 đến 5 phút (định dạng MP4/MOV/MPG có phụ đề tiếng Việt); 01 bài thuyết trình bằng văn bản thuyết minh không quá 1000 từ.

4. Khóa luận xây dựng cơ chế đánh giá sản phẩm dự án dựa trên những kênh nào?
Quy trình đánh giá được thực hiện qua 3 kênh độc lập: tự đánh giá nội bộ giữa các thành viên trong nhóm về thái độ và tiến độ công việc; đánh giá chéo giữa các nhóm thông qua chất lượng sản phẩm (tranh vẽ, video, bài nói) và phần đặt câu hỏi - trả lời chất vấn; đánh giá tổng kết của giáo viên dựa trên tiêu chí nội dung, tính sáng tạo và kỹ năng thuyết trình.

5. Lớp thực nghiệm sư phạm có quy mô và nhân sự như thế nào?
Thực nghiệm được thực hiện trên 45 học sinh lớp 8A trường THCS Tân Mai, quận Hoàng Mai, Hà Nội (do cô Nguyễn Vũ Thùy Dung làm chủ nhiệm). Lớp được chia thành 3 nhóm (mỗi nhóm 15 học sinh) do 3 nhóm trưởng điều hành gồm Trương Tuệ Minh (Nhóm 1), Phạm Lê Phương Anh (Nhóm 2) và Lê Thanh Trúc (Nhóm 3), được bố trí đồng đều về giới tính và các năng khiếu đặc thù.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Hải Vân Ngọc đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và khảo sát toàn diện thực trạng dạy học nhóm bài văn bản nhật dụng Ngữ văn 8, tập 1 tại một số trường THCS trên địa bàn Hà Nội. Đề tài đã thiết kế và thử nghiệm thành công quy trình dạy học dự án tích hợp trong tiết Hoạt động ngoài giờ lên lớp với chủ đề "Môi trường", tạo ra các sản phẩm học tập đa dạng như tranh vẽ, video và bài văn thuyết minh. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính khả thi của mô hình trong việc nâng cao sự chủ động, phát triển năng lực thẩm mỹ, kỹ năng cộng tác và tư duy thực tiễn cho học sinh THCS.