CHƯƠNG It: VẬN DUNG BÀI TẬP NHẬN THỨC VÀO GIẢNG DAY BAI “CÁCH MANG HÀ LAN VÀ CÁCH MANG TƯ SẢN ANH” SVTH: Trần Thị Thùy Dung Trang II Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Dao Thị Mộng Ngọc I. Lý do chọn bai II. Thực nghiệm II. Các bước tiến hành 11.
Tiến hành thực nghiệm III. Tiến hành làm bài tập thực nghiệm IV. Kết quả thực nghiệm V. Ưu điểm, hạn chế của việc sử dung bài tập nhận thức trong dạy học lịch sửở trường phổ thông SVTH: Trần Thị Thùy Dung Trang 12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Đào Thị Mộng Ngọc CHUONG I BÀI TAP NHAN THỨC TRONG DẠY HỌC LICH SU 6 TRUONG TRUNG HOC PHO THONG 1.
CƠ SỞ CUA VIỆC SU DỤNG BÀI TAP NHẬN THUC TRONG DAY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG Theo quan điểm duy vật biện chứng: “Nhận thức là một quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách quan” I. Quá trình nhận thức theo quan điểm triết học Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan và các quy luật của nó vào bộ não con người.Lenin trong tác phẩm Bút kí triết học đã khái quát quá trình nhân thức của con người như sau: “Tif trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tién- đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” ”. Theo Lenin, nhận thức là một quá trình, được bất dau từ trực quan sinh động (nhận thức cảm tính) đến tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính) và kết thúc ở thực tiễn. Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên trong quá trình nhận thức.
Đây là giai đoạn con người sử dụng các giác quan của mình để phản ánh các sự vật khách quan. Ở giai đoạn này, con người mới chỉ nhận thức được những nét bể ngoài của sự vật mà chưa đi vào bên trong, khám phá mặt bản chất, quy luật, nguyên nhân của các hiện tượng, sự kiện. Trong giai đoạn này, nhận thức được thực hiện qua ba hình thức: cảm giác, trí giác, biểu tượng. Cam giác là hình thức phản ánh cơ bản nhất, “so khai nhất”, nhưng không có cắm giác thì sẽ không có bất kì nhận thức nào về sự vật khách quan, Cảm giác là một quá trình phản ánh từng thuộc tính của sự vật một cách riêng lẻ.
Mỗi một cảm giác cho ta một dấu hiệu về sự vật, hiện tượng và là cơ sở hình thành nên tri giác. Tri giác là sự phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bên ngoài của sự vật, hình ảnh trọn vẹn này được hình thành trên sự tổng hợp những thông tin do cảm giác ” BO giáo dục và đào tạo, 2009. Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Lenin, NXBCTQG, tr.113 " BO giáo dục và đào tạo, 2009. Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Lenin, NXBCTQG, tr.
120 SVTH: Trần Thị Thùy Dung Trang 13 Khóa luận tốt nghiệp GVUD: Th.S Đào Thị Mộng Ngọc đem lại. Đó không phải là một tổng số đơn gián của các cảm giác nhận được mà là mot hình thức nhân thức cảm tính cao hơn. một trình đô mới về chất của sự nhận thức bằng cảm giác. So với cảm giác.
tri giác là hình thức nhận thức cao hơn. day đủ hơn, cho ta một cái nhìn, một hình ảnh phong phú hơn, hoàn thiên hơn về sự vật, hiện tượng mà ta can nhận thức. Khi trí giác, mỗi người hiểu sự vật, hiện tượng theo trình độ hiểu biết của minh, hơn nữa trong đầu mỗi người cũng có su sắp xếp nhất định về các vật thể mà mình trí giác được, để khi tiếp xúc với một sự vật khúc, chủ thể có xu hướng tìm thấy những điểm tương đồng với các vat thể mà mình đã tiếp xúc trước đây. Tuy vậy, trí giác vẫn chi phan ánh những nét bên ngòai của sự vật, chứ chưa khám phá ra những nét bản chất bên trong.
Biểu tượng là hình ảnh về sự vật khách quan vốn được phản ánh bởi cảm giác và tri giác trước đó. được lưu lai bằng trí nhớ và đây cũng là hình thức phan ánh cao nhất của nhận thức cảm tính. Biểu tượng có vai trò rất quan trọng trong quá trình nhận thức bởi nếu chỉ có cắm giác và ti giác, tức là phải có sự tác động trực tiếp của các sự vật, hiện tượng, con người mới nhận thức được. Qua đó có thể hiểu được nếu không có biểu tượng thì con người chỉ có hình ảnh về sự vật hiện tượng ngay tại thời điểm nó tiếp xúc trực tiếp với chủ thể, Còn sau đó thì sao? Sau đó thì trong trí nhớ của con người không còn hình ảnh gì vé các sự vật hiện tượng nữa.
Hơn nữa, “đặc điểm của biểu tượng là có khả năng tái hiên những hình ảnh mang tính chất biểu trưng về sự vật khách quan, nó có tính chất liên tưởng về bể ngoài của sự vật”, tức là ở "biểu tượng” đã bắt đầu có sự trừu tượng hóa về sự vật, hiện tượng nên nó là bậc thang chuyển tiếp giữa nhận thức cảm tính và nhân thức lý tính. Nhận thức lý tính là giai đoạn nhận thức cao hơn so với nhận thức cảm tính. Giai đoạn nhận thức cảm tính tuy rất quan trọng, nhưng nó mới chỉ phan ánh những thuộc tính bên ngoài của sự vật, mà chưa đi sâu vào tìm hiểu bản chất bên trong, quy luật của sự vật - mà đây chính là nhiệm vụ quan trọng của hoat động nhận thức. Nhận thức lý tính đáp ứng được yêu cẩu này, đây là giai đoạn con người xác định và tách ra những gì thuộc về bản chất, đặc trưng của sự vật, hiện tượng bằng các thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp.
khái quát hóa, trừu tượng hóa. “Tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tinh bản chất, những mối liên hé, quan hệ có tính * Bỏ giáo duc và đào tạo, 2009. Gide trình những nguyên lý cơ bán của chủ nghĩa Lenin. NXBCTQG, tr (3|, 122 SVTH: Trần Thị Thùy Dung Trang 14 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Đào Thị Mộng Ngọc tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan "”, bằng các thao tác tư duy của mình, con người biết gạt bỏ những dấu hiệu, những thuộc tính thứ yếu, chỉ giữ lại những nét bản chất, những gì là đặc trưng của sự vật, là những đặc tính cố hữu, gấn chặt với từng sự vật hiện tượng, dùng để phân biệt sự vật này với sự vật, hiện tượng khác.
Mặt khác, ở tư đuy con người phải bỏ qua vẻ bể ngoài, riêng biệt của sự vật để tìm thấy trong những cái khác biệt đó điểm chung, mối liên hệ giữa các phin của đối tượng tư duy, và giữa các đối tượng khác với nhau, qua đó ta nhận thức được bản chất của sự vật, hiện tượng. Hình thức của nhận thức lý tính bao gồm: khái niệm, phán đoán và suy luận. Khái niệm phan ánh bản chất của sự vật, ở đó những gì là thứ yếu, không đặc trưng đều bị loại bỏ, khái niệm phản ánh hiện thực sâu sắc hơn, chính xác hơn, đầy đủ hơn. “Khái niệm mang tính hệ thống.
Các khái niệm luôn có quan hệ với nhau và nhờ vậy, chúng phản ánh đúng hiện thực và phản ánh đúng nhận thức hiện thực của con người "'°, Thông qua việc liên kết các khái niệm với nhau, kết hợp với các hình thức phủ định hay khẳng định để hình thành một phán đoán. Liên kết những phán đoán, con người đưa ra những suy luận, rút ra những kiến thức mới về sự vật, hiện tượng. Bước chuyển từ nhận thức cẩm tính sang nhận thức lý tính là bước nhảy biện chứng trong quá trình nhận thức, mỗi quá trình đảm nhiệm một chức năng, nhận thức cảm tính gấn liền với thực tiễn, là cơ sở của nhận thức lý tính, còn nhận thức lý tính nhờ có tính khái quất cao, xác định được bản chất của sự kiện, hiện tượng, giúp cho nhận thức cảm tính có được sự định hướng đúng và trở nên sâu sắc hơn. Chúng không tách rời nhau mà thống nhất với nhau cùng phản ánh thế giới hiện thực.
Ở giai đoạn nhận thức lý tính, con người khám phá ra bản chất của sự vật, hiện tượng nhưng những khám phá đó có chính xác với thực tế hay không, thì con ngừơi cẨn phải soi nó đưới ánh sáng của thực tiễn, dùng thực tiễn làm tiêu chuẩn kiểm nghiệm chân lý, Con người sống trong thế giới tự nhiên, họ lao động để thỏa mãn những nhu cấu của mình, họ luôn muốn khám phá thế giới để giải thích cũng như chế ngự chúng. Và trong quá trình lao động, họ tác động vào các sư vật, hiện tượng làm bộc lộ những thuộc tính, đặc điểm của chúng, giúp ta có những nhận thức ban đầu về sự vật, hiện tượng. Sản xuất ngày càng phát triển, sự vật luôn luôn vận động và biến đổi đòi hỏi * Thai Trí Dũng. Bài giảng Tâm lý học.
Lưu hành nộ: bộ, tr.50 !' Phan Thế Kim, 1997, Phát triển năng lực nhận thức và gido dục hành động cho học sink qua việc dey học lịch sử ở: thông. SVTH: Trần Thị Thùy Dung Trang 15 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Đào Thị Mộng Ngọc những nhận thức mới hơn, sâu sắc hơn của con người, qua đó nhận thức của họ cũng tăng lên. Từ những kiến thức đơn lẻ, con người đã đạt đến wi thức có trình độ khái quất ngày càng cao. Từ đó hình thành lý thuyết khoa học, trước tiên là khoa học tự nhiên, sau đó là khoa học xã hội.
Sau đó, con người vận dụng những hiểu biết của mình vào thực tiễn để thỏa mãn những nhu cấu ngày càng cao của con người. Từ thực tiễn đến nhận thức rồi lại trở về với thực tiễn, cứ như thế hoạt động nhận thức của con người diễn ra không ngừng, nhận thức ở giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước. Quá trình nhận thức theo quan điểm sinh lý học Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào con người thông qua hệ thắn kinh, bộ não người-tổ chức cao nhất của vật chất. Không có thế giới khách quan và bộ não người sẽ không có bất cứ quá trình nhận thức nào, Vì vậy, để có thể diễn ra quá trình nhận thức cần hai diéu kiện: thế giới khách quan và bộ não.
BO não là một khối lượng vật chất đặc biệt nặng từ 1350g đến 1440g, chiếm khoảng 1⁄46 khối lượng cơ thể. Phần lớn nhất của não người là hai bán cẩu đại não nằm trong hộp sọ có thể tích khoảng 1600dm*.