Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, làng xã giữ vai trò là tế bào sống của xã hội, vừa là đơn vị kinh tế - chính trị cơ sở, vừa là không gian bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống. Vùng đồng bằng hạ lưu sông Mã (tỉnh Thanh Hóa) là một trong những cái nôi quần cư lâu đời của người Việt gắn liền với nền văn minh Đông Sơn, nơi tập trung nhiều làng cổ có lịch sử hàng trăm đến hàng ngàn năm. Trong đó, làng Nguyệt Viên (xã Hoằng Quang, thành phố Thanh Hóa) nổi danh là vùng đất khoa bảng tiêu biểu của xứ Thanh, đồng thời là nơi hội tụ hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú như nghè, từ đường dòng họ, chùa cổ, phong tục tập quán, lễ hội truyền thống và các trò diễn dân gian.

Về mặt thực tiễn, sau khi xã Hoằng Quang được sáp nhập từ huyện Hoằng Hóa vào thành phố Thanh Hóa theo Nghị quyết số 05/NQ-CP ngày 29 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ, làng Nguyệt Viên bước vào quá trình chuyển biến mạnh mẽ từ nông thôn sang đô thị ("từ làng lên phố"). Quá trình này mang lại nhiều điều kiện phát triển kinh tế - xã hội nhưng đồng thời đặt ra thách thức lớn đối với công tác bảo tồn, gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống trước nguy cơ mai một và sự xuống cấp nghiêm trọng của các công trình di tích. Việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về lịch sử - văn hóa làng Nguyệt Viên nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn là yêu cầu cấp thiết về cả phương diện khoa học lẫn thực tiễn.

Mục tiêu nghiên cứu: Đề tài hướng tới việc nghiên cứu toàn diện quá trình phát sinh, phát triển và giá trị của hệ thống di sản văn hóa vật thể, phi vật thể tại làng Nguyệt Viên; trên cơ sở đó đánh giá thực trạng bảo tồn và đề xuất các giải pháp khoa học nhằm giữ gìn, phát huy giá trị di sản văn hóa tại địa phương.

Nhiệm vụ nghiên cứu (theo văn bản):

  1. Khái quát vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên; quá trình hình thành, phát triển và các truyền thống lịch sử - văn hóa tiêu biểu tại làng Nguyệt Viên.
  2. Làm rõ diện mạo hệ thống di sản văn hóa vật thể, phi vật thể tại địa phương.
  3. Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy giá trị di sản.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nguồn gốc, quá trình phát sinh, phát triển và giá trị của hệ thống di sản văn hóa vật thể, phi vật thể tiêu biểu tại làng Nguyệt Viên.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn làng Nguyệt Viên, xã Hoằng Quang, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay tương ứng với địa giới 3 thôn: Nguyệt Viên 1, Nguyệt Viên 2, Nguyệt Viên 3).
  • Phạm vi thời gian: Quá trình hình thành và phát triển của làng Nguyệt Viên cùng lịch sử xây dựng, tôn tạo các di sản văn hóa từ thời phong kiến (thời Trần, Lê, Nguyễn) đến giai đoạn đương đại.
  • Phạm vi nội dung: Lịch sử hình thành cộng đồng dân cư, các truyền thống tiêu biểu, diện mạo kiến trúc di sản vật thể, sinh hoạt văn hóa phi vật thể, thực trạng bảo tồn và giải pháp phát huy giá trị di sản.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới góc độ sử học địa phương kết hợp văn hóa học và địa chí học, đặt làng xã truyền thống trong mối quan hệ hữu cơ giữa môi trường tự nhiên, bối cảnh lịch sử và cấu trúc xã hội. Hệ thống văn bản quản lý nhà nước và pháp lý liên quan trực tiếp được sử dụng gồm có: Nghị quyết số 05/NQ-CP ngày 29/02/2012 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính; Quyết định số 3110/QĐ-UBND ngày 17/08/2018 của UBND tỉnh Thanh Hóa về việc sắp xếp, sáp nhập thôn/tổ dân phố; các quyết định xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh; cùng hệ thống văn bản quy ước làng xã (Hương ước làng Nguyệt Viên).

Tác giả phối hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:

  • Phương pháp lịch sử: Phục dựng quá trình hình thành làng xã, tiến trình xây dựng và các giai đoạn trùng tu, tôn tạo hệ thống di tích theo trục thời gian.
  • Phương pháp logic: Phân tích mối quan hệ nhân quả giữa vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội với sự hình thành truyền thống hiếu học và không gian văn hóa tín ngưỡng địa phương.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Xử lý, phân loại và hệ thống hóa nguồn tư liệu thành văn, số liệu khoa cử và tài liệu khảo tả kiến trúc.
  • Phương pháp so sánh: Đánh giá đặc trưng văn hóa, nghệ thuật kiến trúc của làng Nguyệt Viên trong mối tương quan với các làng xã cổ truyền khác tại châu thổ sông Mã và đồng bằng Bắc Bộ.
  • Phương pháp tiếp cận khu vực học: Đặt làng Nguyệt Viên trong chỉnh thể không gian văn hóa sông Mã - Đông Sơn để làm nổi bật nét đặc thù địa phương.

Nguồn dữ liệu thực hiện đề tài:

  • Tài liệu thành văn: Các bộ chính sử (Đại Việt sử kí toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí); các công trình địa chí (Địa chí Thanh Hóa, Địa chí văn hóa Hoằng Hóa, Tên làng xã Thanh Hóa, Hương ước Thanh Hóa); các công trình chuyên khảo về giáo dục khoa bảng (Hoằng Hóa đất học, Giáo dục và khoa cử Nho học ở xã Hoằng Quang...); gia phả các dòng họ (họ Nguyễn, họ Lê, họ Nguyễn Hữu); bản lý lịch di tích và thần phả tại địa phương.
  • Tài liệu vật chất (hiện vật, di tích): Khảo tả kiến trúc khung gỗ, hệ thống bia đá, hoành phi, đại tự, câu đối, sắc phong, tượng linh vật đá (sấu đá thế kỷ XVI), tảng kê chân cột tại nghè Nguyệt Viên, nhà thờ họ Nguyễn, nhà thờ Lê Viết Tạo và phế tích chùa Phúc Long.
  • Tài liệu điền dã: Kết quả khảo sát thực địa, ghi chép hiện trạng kiến trúc, chụp ảnh tư liệu và phỏng vấn trực tiếp các cụ cao niên, trưởng các dòng họ và cán bộ quản lý văn hóa xã Hoằng Quang.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Vài nét về vùng đất Nguyệt Viên

Chương 1 trình bày tổng quan về không gian địa lý, quá trình tụ cư lập làng và các truyền thống lịch sử - văn hóa cốt lõi của làng Nguyệt Viên.

Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: Làng Nguyệt Viên nằm ở tả ngạn hạ lưu sông Mã, cách trung tâm thành phố Thanh Hóa dưới 7 km về phía Đông Bắc (tọa độ địa lý: 19°09' vĩ độ Bắc, 105°49' kinh độ Đông). Làng có vị thế "cận lộ" (nằm trên trục đường thiên lý Bắc - Nam xưa, nay là Quốc lộ 1A và các tuyến liên huyện), "cận giang" (sông Mã chảy qua địa phận làng với chiều dài 2,3 km) và "cận thị" (gần chợ Quăng). Địa hình làng nghiêng dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, đất đai gồm đất phù sa cổ trong đê và đất bãi bồi ngoài đê, thuận lợi cho canh tác nông nghiệp lúa nước và hoa màu.

Quá trình hình thành cộng đồng dân cư và làng xã: Việc tụ cư lập làng gắn liền với sự phát triển của các dòng họ lớn:

  • Họ Nguyễn: Dòng họ khai hoang lập làng sớm nhất vào thời Trần (thế kỷ XIII - XIV), do Thủy tổ Nguyệt Giang tiên sinh (người gốc Lý Nhân, Hải Dương) khởi dựng, đến nay đã trải qua gần 20 đời (~800 năm).
  • Họ Lê: Khởi tổ là cụ Lê Thuần Tín (sinh năm Đinh Dậu 1597 thời Lê Trung Hưng), trải qua hơn 12 đời (>400 năm). Trong đó, tiểu chi Lê Viết phát triển rực rỡ về khoa bảng với nhiều danh nhân như Quan bảng Lê Viết Tạo, Tiến sĩ hóa học Lê Viết Khoa, Thứ trưởng Lê Viết Hường, Giáo sư Lê Viết Ly.
  • Họ Nguyễn Hữu: Trải qua hơn 13 đời, khởi tổ là cụ Nguyễn Quí Công (tự Đạm Khê), có danh nhân tiêu biểu là Phó bảng Nguyễn Hữu Độ.
  • Các dòng họ khác cùng cộng cư: Họ Cao (nguồn gốc Nghệ An), họ Ngô, Trịnh, Phạm, Hoàng, Đặng.

Diễn biến địa danh và phân chia hành chính làng Nguyệt Viên qua các thời kỳ:

Thời kỳ lịch sử Tên gọi địa danh Đơn vị hành chính trực thuộc / Đặc điểm tổ chức
Thời Lý - Trần sơ kỳ Nguyệt Nỗ (月 弩) Vùng đất bãi chùa Phúc Sơn nằm cuối vòng cánh cung sông Mã
Thời Trần (thế kỷ XIII - XIV) Phước Châu, sau đổi thành Nguyệt Giang Dời vào lòng cánh cung sông Mã; chia thành 12 xóm (12 bến nước) và 10 giáp
Thế kỷ XVI (thời Lê) Nguyệt Viên (月 圓) Vua Lê Thánh Tông đổi tên khi đi chinh phạt Chiêm Thành; mang ý nghĩa "Trăng tròn"
Thời Nguyễn (đầu TK XIX - 1945) Nguyệt Viên Thuộc tổng Từ Minh, huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung
1945 - 1953 Nguyệt Viên Lần lượt thuộc xã Từ Nam (1945), xã Hoằng Minh (1947), xã Hoằng Quang lớn (1949)
1953 - 1994 Làng Nguyệt Viên Thuộc xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa (gồm 11 xóm dân cư)
1994 - 2018 Thôn 7, 8, 9, 10 Thuộc xã Hoằng Quang (sáp nhập về TP Thanh Hóa từ năm 2012 theo NQ 05/NQ-CP)
Từ 2018 đến nay Thôn Nguyệt Viên 1, 2, 3 Thành lập theo Quyết định 3110/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa

Cơ cấu làng cổ: Làng từng được chia thành 12 xóm: Mộc Quý, Hoa Trường, Chi Châu, Thái Vạc, Bảng Môn, Thọ Sơn, Nổ Thượng, Hạ Vũ, Trường Tiền, Yên Vực, Thạch Truyền, Phúc Sơn; tương ứng với 10 giáp: Phú, Quý, Thọ, Khang, Ninh, Thuận, Hòa, Hoa, Chinh, Thạch.

Truyền thống lịch sử - văn hóa tiêu biểu:

  • Truyền thống lao động sản xuất: Khai phá vùng đất bãi bồi ven sông (các xứ cồn: Cồn Mến, Cồn Mơn, Cồn Chùa, Cồn Còng, Cồn Mả Nát, Cồn Mả Ương); phát triển kinh tế kết hợp nông nghiệp trồng lúa với nghề thủ công dệt lụa và làm hàng sáo.
  • Truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm: Đóng góp sức người, sức của trong kháng chiến chống Mông - Nguyên (năm 1285 giấu quân và bảo vệ vua Trần); tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, nghĩa quân Tây Sơn; là căn cứ Cần Vương của thủ lĩnh Nguyễn Duy Hinh (luyện quân tại sân nghè Nguyệt Viên); tham gia cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931, Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 và hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ.
  • Truyền thống giáo dục - khoa cử: Xã Hoằng Quang có 21 vị đỗ Đại khoa (Tiến sĩ) thì riêng làng Nguyệt Viên chiếm 11 vị Đại khoa và gần 40 vị Trung khoa (Cử nhân, Hương cống). Đây là cơ sở hình thành câu ca "Nguyệt Viên mười tám ông nghè / Ông cưỡi ngựa tía, ông che tán vàng".

Chương 2: Di sản văn hóa vật thể

Chương 2 khảo tả chi tiết hiện trạng kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc và phân tích giá trị của 4 cụm di sản vật thể chính, đồng thời đánh giá thực trạng xuống cấp và đề xuất giải pháp.

Hệ thống công trình kiến trúc và di vật tiêu biểu:

  • Nghè Nguyệt Viên (thôn Nguyệt Viên 1): Thờ thần hoàng "Chương vĩ dực bảo trung hưng thượng đẳng Thần". Khởi dựng năm Quý Tỵ (1593) niên hiệu Quang Hưng thứ 16 triều Lê Thế Tông; đại tu lớn năm Đinh Hợi (1827) thời Minh Mạng; sửa chữa năm Bính Thân (1896) thời Thành Thái và chống xuống cấp năm 2008. Hậu cung nghè có cấu trúc 1 gian 2 chái (dài 9,80 m; rộng 6,92 m; cao 6,45 m). Kiến trúc tiêu biểu là thức mái hai lớp "trùng diêm" xuất hiện từ thế kỷ XVIII. Nghệ thuật chạm khắc gỗ thể hiện đề tài Tứ linh: hình tượng rồng mắt lồi mũi sư tử dữ tợn, phượng ngậm cuốn thư, lân bơi cõng vòng bát quái. Hiện vật đặc sắc gồm đôi sấu đá thế kỷ XVI ngậm ngọc ở bậc tam cấp và 2 bức chạm thông gió hình rồng uốn thành chữ "Phúc".
  • Bia đá và phế tích chùa Phúc Long (xóm Phúc Sơn): Văn bia chùa cổ ghi nhận danh thắng "chốn Thiền lâm đệ nhất" nhìn sang núi Ngọc. Hiện vật còn lưu lại gồm 1 rùa đá đội bia (kích thước 110 cm x 85 cm x 18 cm, lỗ cắm bia 52 cm x 13 cm; thân bia chính đã thất lạc), 3 tấm đá bó hè (tấm dài nhất 1,65 m, rộng 63 cm), 1 chân tảng đá kê cột hình vuông (cạnh 40 cm, đường kính 25 cm, cao 7 cm). Trên nền móng cũ hiện chỉ còn một miếu thờ nhỏ rộng khoảng 1,5 m².
  • Nhà thờ họ Nguyễn (thôn Nguyệt Viên 2): Xây dựng lại năm 1986 (sau khi bị chiến tranh phá hủy năm 1967) và đại tu năm 2015 trên diện tích đất 130 m². Kiến trúc nhà 3 gian truyền thống bằng gỗ lim (dài 8,5 m; rộng lòng nhà 4,3 m; hè rộng 1,5 m), kết cấu vì kèo giá chiêng - kẻ truyền - kẻ bẩy. Nơi đây lưu giữ cuốn gia phả chữ Quốc ngữ, 2 bộ long ngai cổ, bức đại tự "Tinh thần tại" và bức đại tự "Bất vong cố cựu" (do chi họ tại Huế cung tiến).
  • Nhà thờ Lê Viết Tạo (thôn Nguyệt Viên 2): Nguyên là nhà ở của Quan bảng Lê Viết Tạo (vị Đại khoa cuối cùng của nền khoa cử phong kiến Việt Nam, đỗ Phó bảng khoa Kỷ Mùi 1919), được tôn tạo năm 1919 và xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 2007. Khuôn viên rộng 995 m²; nhà 5 gian (3 gian giữa dài 7,2 m, hè rộng 1,37 m; lòng nhà sâu 6,67 m; 2 gian buồng hai bên). Kết cấu vì kèo vì 1 và 6 theo thức kẻ suốt; vì 2 và 5 theo thức thượng chồng rường hạ kẻ truyền; vì 3 và 4 trốn cột cái tiền để mở rộng không gian. Di vật quý gồm 3 bức thư họa chữ Hán "Phúc - Vĩnh - Biến" (tương truyền là thủ bút của cụ Tạo), bức đại tự "Duy tân tam niên" và 2 biển bài do vua ban.
  • Nhà ở truyền thống: Một số ngôi nhà gỗ cổ từ thế kỷ XIX (nhà ông Nguyễn Văn Súc, Nguyễn Văn Phương) thể hiện lối kiến trúc dân gian hài hòa.

Thực trạng bảo tồn di sản vật thể:

  • Đa số công trình đều xuống cấp nghiêm trọng do tác động thời gian và thiếu kinh phí duy tu. Nghè Nguyệt Viên chưa được đại tu lớn kể từ năm 1896, tường nứt vỡ, hệ thống vì kèo bị mối mọt; chùa Phúc Long đã trở thành phế tích, hiện vật nằm rải rác ngoài trời; không gian cảnh quan nghè Nguyệt Viên và nhà thờ Lê Viết Tạo bị thu hẹp do tiếp giáp trường học và nhà dân.
  • Công tác quản lý tại cơ sở còn thiếu nhân lực có chuyên môn sâu về bảo tồn di tích; các đợt tôn tạo trước đây chủ yếu mang tính chắp vá, chống xuống cấp cục bộ.

Chương 3: Di sản văn hóa phi vật thể

Chương 3 tập trung phân tích phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, lễ hội truyền thống và đề xuất phương hướng bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể.

Phong tục cổ vũ việc học và khuyến học: Nét đặc thù nổi bật trong phong tục làng Nguyệt Viên là sự tôn vinh tuyệt đối đối với việc học tập và khoa bảng. Theo Hương ước làng Nguyệt Viên:

  • Người theo học Nho học được làng miễn trừ nghĩa vụ thôn dịch và tuần phòng.
  • Nho sĩ đến tuổi gia nhập "Hội tư văn" (tổ chức của tầng lớp trí thức trong làng) được miễn hoặc giảm tối đa lệ phí gia nhập.
  • Người đi học được tham dự tế tự ở văn chỉ vào các dịp tế xuân thu nhị kỳ; thi sát hạch đạt loại ưu được làng thưởng tiền và trích hoa lợi từ ruộng công để hỗ trợ kinh phí mua giấy bút đèn sách.
  • Người đỗ đạt từ Cử nhân trở lên được làng tổ chức rước đón long trọng từ đầu làng về đình/nghè và được xếp ngồi chiếu trên trong mọi sinh hoạt cộng đồng.

Tín ngưỡng, lễ hội và diễn xướng dân gian:

  • Tín ngưỡng: Thờ cúng Thành hoàng làng tại nghè, thờ Thủy tổ dòng họ tại các nhà thờ họ, thờ Phật và phối thờ các vị tiền bối có công khai hoang lập ấp.
  • Lễ hội làng Nguyệt Viên: Tổ chức thường niên vào ngày 10 tháng 2 âm lịch tại nghè Nguyệt Viên, bao gồm nghi lễ tế thành hoàng, rước kiệu và đọc văn tế truyền thống.
  • Diễn xướng và trò chơi dân gian: Địa phương lưu giữ các trò diễn dân gian đặc trưng như trò Tú Huần và trò kéo "Hẹ", phản ánh tinh thần thượng võ và sinh hoạt văn hóa sông nước của cư dân tả ngạn sông Mã.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính:

  • Hệ thống hóa toàn bộ tiến trình lịch sử 800 năm hình thành và phát triển của làng Nguyệt Viên, làm rõ các mốc chuyển đổi địa danh từ Nguyệt Nỗ -> Phước Châu -> Nguyệt Giang -> Nguyệt Viên.
  • Khảo tả và lập danh mục định lượng chính xác về hệ thống di sản: xác lập niên đại khởi dựng năm 1593 của nghè Nguyệt Viên; ghi nhận quy mô 4 cụm di tích kiến trúc gỗ và phế tích chùa Phúc Long; thống kê thành tích khoa bảng phong kiến gồm 11 vị Đại khoa (Tiến sĩ, Phó bảng) và gần 40 vị Trung khoa (Cử nhân, Hương cống).
  • Đánh giá chân thực thực trạng xuống cấp của các công trình di sản vật thể và sự biến đổi của sinh hoạt văn hóa phi vật thể dưới áp lực của quá trình đô thị hóa.

Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất:

  1. Tăng cường vai trò lãnh đạo, quản lý của Đảng bộ và chính quyền xã Hoằng Quang, phối hợp chặt chẽ với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa trong việc kiểm kê, lập hồ sơ quy hoạch và bảo tồn di tích.
  2. Nâng cao nhận thức và phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương thông qua các hoạt động sinh hoạt văn hóa truyền thống, giáo dục di sản trong trường học.
  3. Xây dựng cơ chế liên kết, huy động nguồn vốn xã hội hóa từ các doanh nghiệp, dòng họ và nhà hảo tâm để phục vụ công tác trùng tu, phục dựng di tích (đặc biệt là nghè Nguyệt Viên và chùa Phúc Long).
  4. Quy hoạch tu bổ di tích đảm bảo giữ vững yếu tố gốc và tính nguyên mẫu; mở rộng không gian, xử lý dứt điểm tình trạng ô nhiễm môi trường và lấn chiếm cảnh quan.
  5. Gắn kết bảo tồn di sản với phát triển du lịch văn hóa - tâm linh, đưa di tích làng Nguyệt Viên kết nối vào các tuyến du lịch trọng điểm như tour "Ngược dòng sông Mã", tour thành phố Thanh Hóa - Sầm Sơn.
  6. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ quản lý di sản cho đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở và ban quản lý di tích cấp xã.
  7. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong việc số hóa tư liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu quảng bá hình ảnh di sản trên các nền tảng truyền thông hiện đại.

Đóng góp mới của đề tài: Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên biệt, tổng thể và có hệ thống đầu tiên về toàn bộ lịch sử văn hóa làng Nguyệt Viên; bổ sung nguồn tư liệu địa phương phong phú cho ngành lịch sử và văn hóa xứ Thanh; cung cấp cơ sở khoa học giúp chính quyền cơ sở xây dựng chính sách quản lý, bảo tồn văn hóa trong giai đoạn đô thị hóa.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Nguồn tư liệu thành văn của một số dòng họ (như họ Cao, họ Ngô, Trịnh, Phạm) bị thất lạc hoặc gia phả không còn nguyên vẹn, gây khó khăn cho việc xác định mốc thời gian cụ thể khi các dòng họ này đến định cư lập nghiệp.
  • Một số vết tích văn tự chữ Hán khắc trên thượng lương tại di tích (như nhà thờ Lê Viết Tạo) đã bị mờ theo thời gian, chưa thể giám định tuyệt đối niên đại khởi dựng ban đầu.
  • Di tích chùa Phúc Long đã bị phá hủy hoàn toàn trong quá khứ, hiện vật gốc bị phân tán, việc khảo tả quy mô kiến trúc cổ chỉ dừng lại ở mức độ tổng hợp qua văn bia và lời kể nhân chứng.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiếp tục sưu tầm, dịch thuật và công bố các văn bản Hán Nôm, sắc phong, văn tế còn lưu giữ trong các tư gia và nhà thờ họ trên địa bàn xã Hoằng Quang.
  • Khảo sát so sánh chuyên sâu về cấu trúc làng khoa bảng giữa làng Nguyệt Viên với các làng khoa bảng lân cận ven sông Mã (như làng Hoằng Lộc, làng Vĩnh Trị) để làm rõ mô hình không gian văn hóa học vấn xứ Thanh.
  • Phối hợp với các cơ quan chuyên môn xây dựng dự án khoa học về phục dựng không gian kiến trúc chùa Phúc Long và lập hồ sơ nâng hạng di tích cấp quốc gia cho nghè Nguyệt Viên.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng hưởng lợi:
    • Giảng viên, sinh viên chuyên ngành Lịch sử, Văn hóa học, Địa chí học, Việt Nam học tại các trường đại học, cao đẳng (đặc biệt là Đại học Hồng Đức).
    • Cán bộ làm công tác quản lý văn hóa, bảo tồn di tích tại các phòng ban thuộc thành phố Thanh Hóa và tỉnh Thanh Hóa.
    • Giáo viên lịch sử tại địa phương sử dụng làm tài liệu giảng dạy phần lịch sử - văn hóa địa phương.
  • Các phần nội dung có giá trị tham khảo nổi bật:
    • Phần khảo tả chi tiết kết cấu kỹ thuật kiến trúc gỗ truyền thống (vì kèo trùng diêm, chạm khắc tứ linh, cấu trúc nhà 5 gian truyền thống).
    • Hệ thống phụ lục tư liệu thành văn gồm danh sách 11 vị Đại khoa thời phong kiến, bản dịch hương ước làng, bài văn tế lễ hội nghè làng và văn tế dòng họ Nguyễn.

Câu hỏi thường gặp

1. Địa danh "Nguyệt Viên" ra đời trong hoàn cảnh nào và mang ý nghĩa gì? Theo thần phả và tài liệu địa chí, làng ban đầu có tên là Nguyệt Nỗ (vành trăng và cánh nỏ). Đến thời Trần, dân làng dời vào trọn vẹn trong vòng cánh cung uốn lượn của sông Mã và đổi tên thành Phước Châu rồi Nguyệt Giang (theo hiệu Thủy tổ họ Nguyễn). Đến thế kỷ XVI, khi vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành dừng chân qua đây, thấy dòng sông trong mát, cảnh sắc tươi đẹp, dân cư trù mật, nhà vua đã đổi tên làng thành Nguyệt Viên (月 圓 - "Trăng tròn"), biểu trưng cho ước vọng về sự viên mãn, no ấm và thuần hậu.

2. Thành tích khoa bảng thời phong kiến của làng Nguyệt Viên đạt được những số liệu cụ thể nào? Trong suốt hơn 6 thế kỷ khoa cử Nho học, toàn xã Hoằng Quang có 21 người đỗ Đại khoa (Tiến sĩ, Phó bảng) thì riêng làng Nguyệt Viên có 11 người đỗ Đại khoa và gần 40 người đỗ Trung khoa (Cử nhân, Hương cống). Danh nhân Đại khoa cuối cùng của nền khoa cử phong kiến Việt Nam là Quan bảng Lê Viết Tạo (đỗ Phó bảng khoa Kỷ Mùi 1919) cũng là người con của dòng họ Lê làng Nguyệt Viên.

3. Kiến trúc nghè Nguyệt Viên có điểm gì độc đáo về mặt kỹ thuật và nghệ thuật? Nghè Nguyệt Viên (khởi dựng năm 1593, đại tu năm 1827) sở hữu kết cấu mái hai lớp theo thức "trùng diêm" xuất hiện từ thế kỷ XVIII, với giá chiêng nâng cao tạo cảm giác bên ngoài như nhà hai tầng nhưng không gian bên trong thông suốt một tầng. Hệ thống điêu khắc gỗ chạm trổ hình tượng rồng dữ tợn, phượng ngậm cuốn thư, lân cõng vòng bát quái và rồng tạo hình chữ "Phúc". Ngoài ra nghè còn lưu giữ đôi sấu đá thế kỷ XVI ngậm ngọc mang đậm dấu ấn nghệ thuật thời Lê Trung Hưng.

4. Nhà thờ Lê Viết Tạo phản ánh những giá trị văn hóa và kiến trúc nổi bật nào? Nhà thờ Lê Viết Tạo vốn là ngôi nhà ở truyền thống xây dựng từ thế kỷ XIX, được tôn tạo năm 1919 (khi cụ Tạo vinh quy bái tổ) và được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2007. Nhà gồm 5 gian bằng gỗ lợp ngói mũi, vì kèo kết cấu thượng chồng rường hạ kẻ truyền kết hợp trốn cột cái tiền. Công trình lưu giữ 3 bức thư họa chữ Hán "Phúc - Vĩnh - Biến" (thủ bút của Quan bảng), bức đại tự "Duy tân tam niên" và 2 biển bài vua ban, thể hiện cốt cách thanh cao của một gia đình trí thức Nho học.

5. Làng Nguyệt Viên có những quy định khuyến học đặc thù nào trong hương ước cổ? Hương ước làng Nguyệt Viên quy định người theo học Nho học được miễn toàn bộ nghĩa vụ thôn dịch và tuần phòng; khi đủ tuổi gia nhập Hội tư văn được miễn hoặc giảm lệ phí; được tham dự lễ tế văn chỉ mùa xuân và mùa thu; thi sát hạch đạt loại ưu được làng thưởng tiền và cấp hoa lợi từ ruộng công để chi trả chi phí học tập; người đỗ đạt từ Cử nhân trở lên được cả làng tổ chức lễ đón rước trọng thể về làng.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trịnh Đình Duy đã tái hiện bức tranh toàn diện và sâu sắc về lịch sử hình thành, truyền thống hiếu học và kho tàng di sản văn hóa vật thể, phi vật thể đặc sắc của làng cổ Nguyệt Viên. Công trình đã khảo tả chính xác hiện trạng các di tích tiêu biểu như nghè Nguyệt Viên, chùa Phúc Long, nhà thờ họ Nguyễn và nhà thờ Lê Viết Tạo, đồng thời chỉ ra thực trạng xuống cấp đáng báo động của hệ thống di sản trước sức ép đô thị hóa. Bằng việc đề xuất 7 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao, khóa luận không chỉ đóng góp một tài liệu học thuật giá trị cho ngành lịch sử địa phương mà còn cung cấp luận cứ khoa học thiết thực phục vụ công tác quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa xứ Thanh trong bối cảnh hiện nay.