Chương 1 VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT NGUYỆT VIÊN 1. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lí Làng Nguyệt Viên thuộc xã Hoằng Quang, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Trước khi sáp nhập vào thành phố Thanh Hóa theo Nghị quyết số 05/NQ-CP của Chính phủ, làng Nguyệt Viên thuộc huyện Hoằng Hóa.
Thành phố Thanh Hóa là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh Thanh Hóa. Đây là một trong những cái nôi của người Việt cổ, vùng đất có bề dày truyền thống lịch sử - văn hóa. Không những vậy, nơi đây còn là địa phương sinh dưỡng nên nhiều anh hùng hào kiệt, các bậc khai quốc công thần được lưu danh sử sách và có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử nổi tiếng. Hoằng Quang là một trong 24 xã, phường của thành phố Thanh Hóa, được sáp nhập vào thành phố Thanh Hóa theo Nghị quyết số 05/NQ-CP ngày 29 tháng 2 năm 2012 của Chính phủ.
Đây là xã thuần nông, cách trung tâm thành phố chưa đầy 7km về phía Đông Bắc, có tọa độ địa lí 19009 vĩ độ Bắc, 105049 kinh độ Đông [15; tr 13] và là vùng đất giàu truyền thống yêu nước, cách mạng, văn hóa. Hiện nay, xã Hoằng Quang gồm 7 thôn: Phù Quang, Vĩnh Trị 1, Vĩnh Trị 2, Vĩnh Trị 3, Nguyệt Viên 1, Nguyệt Viên 2, Nguyệt Viên 3. Làng Nguyệt Viên thuộc xã Hoằng Quang, hiện nay gồm địa phận 3 thôn: Nguyệt Viên 1, Nguyệt Viên 2, Nguyệt Viên 3. Đây là vùng đất cổ nằm bên bờ sông Mã, thuộc địa vực văn hóa Đông Sơn.
Đồng thời là nơi hội tụ các di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng và được mệnh danh là “cái rốn” khoa bảng của đất học Hoằng Hóa. Về mặt địa giới hành chính, phía Đông làng Nguyệt Viên giáp xã Hoằng Đại, huyện Hoằng Hóa; phía Tây giáp làng Vĩnh Trị, xã Hoằng Quang; phía Nam giáp sông Mã; phía Bắc giáp xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa. Có thể nhận thấy, bao bọc quanh địa phận làng Nguyệt Viên đều là những vùng đất có bề dày lịch sử và chiều sâu văn hóa của tỉnh Thanh Hóa. Trong đó, 13 làng Vĩnh Trị là vùng quê có nhiều người đỗ đạt thành danh, tiêu biểu là Nguyễn Đình Giản; có đặc sản nổi tiếng là rượu ngon được ngợi ca “Vật ẩm Vĩnh Trị tửu” và được nhân dân xếp vào “Tứ vật” của đất Hoằng Hóa.
Xã Hoằng Lộc được xem như “bức tranh thu nhỏ với đầy đủ dấu ấn đặc trưng làng quê của người Việt” [38; tr 43]. Đây là quê hương của Trạng Quỳnh, có chợ Quăng nổi tiếng, bảng Môn Đình và đặc biệt nổi danh với truyền thống hiếu học, khoa bảng “văn có tiến sĩ, võ đạt đến quận công”. Không chỉ nằm trong vùng đất giao thao văn hóa của nhiều làng Việt cổ truyền, làng Nguyệt Viên còn có hệ thống giao thông thủy - bộ tương đối thuận lợi. Hệ thống giao thông đường bộ bao gồm một số tuyến quốc lộ, các tuyến đường liên hương, liên xã.
Xưa kia, trên đất Nguyệt Viên có tuyến đường thiên lý Bắc - Nam (nay là quốc lộ 1A) chạy qua. Đây là con đường giao thông huyết mạch vào Nam ra Bắc của đất nước. Quốc lộ 1A góp phần tạo thuận lợi cho làng Nguyệt Viên giao lưu phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục với các vùng miền khác nhau trong cả nước. Các tuyến đường liên hương, liên xã đã có từ thời lập làng.
Từ Nguyệt Viên, theo triền đê dọc sông Mã có thể qua Hoằng Đại để đến vùng biển Thanh Hóa. Theo các tuyến đường liên xã khác để qua Hoằng Lộc, Hoằng Thịnh về cầu Bút Sơn sang huyện Hậu Lộc; qua cầu Nguyệt Viên để đi vào trung tâm thành phố Thanh Hóa. Bên cạnh đường bộ, tuyến giao thông đường thủy cũng đóng vai trò quan trọng đối với cư dân Nguyệt Viên. Xuôi ngược trên sông Mã, nhân dân địa phương có thể lên rừng xuống biển và đi ra các tỉnh ngoài.
Xa xưa, khi văn minh sông nước còn thịnh, bến Nguyệt Viên (nay là cầu Nguyệt Viên) nhộn nhịp trên bến dưới thuyền, trăm kẻ bán vạn người mua và được miêu tả chân thực qua thơ ca của cộng đồng cư dân địa phương: Nguyệt Viên trên chợ dưới sông Thuyền bè tấp nập vui không muốn về. 14 Đến nay, hệ thống đường quốc lộ, liên xã, liên thôn đã được nâng cấp, mở rộng, rải nhựa, bê tông để phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế, xã hội và sinh hoạt của người dân địa phương. Như vậy, Nguyệt Viên là một làng cổ ở đồng bằng châu thổ sông Mã. Vùng đất này có vị trí địa lí đắc địa: “Cận lộ” (đường thiên lí Bắc - Nam), “cận giang” (sông Mã), “cận thị” (chợ Quăng) và hệ thống giao thông thủy - bộ tương đối thuận lợi.
Chính vì vậy, từ rất sớm vùng đất này đã trở thành mảnh đất giao lưu, hội tụ sắc thái văn hóa của nhiều vùng miền khác nhau trên cả nước. Điều kiện tự nhiên * Địa hình Nguyệt Viên nằm trong dải đồng bằng của vùng châu thổ sông Mã. Nơi đây có cửa Lạch Trào - nơi nhiều con nước hợp lưu, có núi Hàm Rồng chầu về, núi Ngọc sừng sững làm điểm tựa vững chãi muôn đời. Xa xưa, khi chưa có con người cư trú, Nguyệt Viên chỉ là vùng đất lầy lội xen kẽ cồn bãi hoang vu.
Trải qua quá trình bồi tụ của tự nhiên và sức lao động sáng tạo của các thế hệ người dân, làng Nguyệt Viên dần được khai phá, trở thành vùng đất có địa hình tương đối bằng phẳng, nghiêng dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với đặc trưng là vùng nông nghiệp trồng lúa và những nóc nhà trù mật. * Đất đai Đối với quá trình định cư lâu dài của con người, đất đai được xem là yếu tố quan trọng, quyết định trực tiếp đến đời sống, sản xuất và sự phát triển của cộng đồng dân cư. Đất đai ở Nguyệt Viên gồm hai loại, được hình thành do sự bào mòn của nền đất cũ, cùng hiện tượng biển lùi và lắng đọng phù sa sông Mã. Đất trong đê (còn được gọi là phù sa cổ) và đất ngoài đê.
Nhìn chung, đất đai ở Nguyệt Viên phì nhiêu, màu mỡ, phù hợp với kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước, hoa màu và cây ăn quả. Tuy nhiên, ở cánh đồng trũng, đất thường chua. Trong quá trình cải tạo đất, nhân dân thường bón vôi để cải tạo và trung hòa độ PH. * Sông ngòi Nguyệt Viên là làng cổ nằm bên bờ sông Mã, con sông gắn liền sự hình thành làng Nguyệt Viên nói riêng và vùng đồng bằng châu thổ sông Mã nói chung.
15 Sông Mã chảy qua với chiều dài 2,3km cung cấp phù sa và nguồn nước chủ yếu cho phát triển nông nghiệp, cung cấp nguồn thủy sản cho địa phương. Trước đây, đê sông Mã đã được các triều đại phong kiến bồi đắp, nhưng chưa chế ngự được nạn lũ lụt, có năm vỡ đê mùa màng mất trắng, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Sau ngày hòa bình lập lại, công tác thủy lợi sông Mã đã được nhà nước, Đảng bộ và chính quyền địa phương chú trọng. Do đó, đê điều, hệ thống mương máng được xây dựng, bồi đắp tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp tại địa phương [15; tr 15].
Có thể nói, với vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và hệ thống giao thông thuận lợi, Nguyệt Viên từ rất sớm đã trở thành vùng đất giao lưu văn hóa của nhiều vùng miền khác nhau trong cả nước. Đặc biệt, các thế hệ cư dân Nguyệt Viên trong quá trình sinh tồn, phát triển đã chung tay chủ động phát huy những thuận lợi, khắc phục khó khăn, cùng đoàn kết xây dựng nơi đây thành vùng quê nông nghiệp trù phú, giàu bản sắc lịch sử - văn hóa của xứ Thanh. Quá trình hình thành vùng đất Nguyệt Viên 1. Quá trình hình thành cộng đồng dân cư Cũng như mọi làng quê khác trên đất nước Việt Nam, việc hình thành cộng đồng dân cư ở Nguyệt Viên gắn liền với sự phát triển của các dòng họ.
Trong quá trình phát triển, làng Nguyệt Viên có sự di chuyển, du nhập, cộng cư của nhiều dòng họ khác nhau như: họ Nguyễn, họ Nguyễn Hữu, họ Lê, họ Ngô, họ Cao. Có dòng họ đến khai phá lập làng gần ngàn năm, có dòng họ mới đến đây lập nghiệp từ vài trăm năm và cũng có dòng họ đã không còn ở làng nữa. Tuy nhiên, các dòng họ ở Nguyệt Viên, dù lớn hay nhỏ, dù đến trước hay sau, đều đã góp phần xứng đáng vào việc phát triển làng xã. Theo gia phả, họ Nguyễn là dòng họ có công mở đất lập làng.
Cụ Thủy tổ là Tam kì lộ hành khiển tướng công, Trần triều sắc phong trung, thượng đẳng thần, hiệu Nguyệt Giang tiên sinh. Cụ sinh ra, lớn lên ở xã Lí Nhân, Hải Dương và vào Nguyệt Viên làm ăn sinh sống ở đời nhà Trần. Đến nay, họ Nguyễn đã có lịch sử khoảng 800 năm, trải qua gần 20 đời và nổi danh với truyền thống hiếu học, khoa bảng. Trong dòng họ có nhiều vị đỗ đạt, thăng quan và đóng góp to lớn 16 cho quá trình phát triển của nhà nước phong kiến.
Tiêu biểu là Nguyễn Tông đỗ Đệ Tam giáp đồng tiến sĩ, làm quan đến chức Hiến sứ. Nguyễn Xuân Đàm đỗ Phó bảng khoa Canh Tuất năm Duy Tân thứ 4 (1910) triều Nguyễn Vĩnh San. Ông là vị đại khoa danh giá, nổi tiếng văn chương thơ phú và được bổ dụng làm Tri phủ Diễn Châu. Bên cạnh họ Nguyễn, họ Lê cũng là dòng họ có lịch sử lâu đời tại làng Nguyệt Viên.
Sơ đại tổ khảo là Lê cố viên quan tử, tự Thuần Tín, Lê phủ quân. Cụ sinh năm Đinh Dậu, hiệu Quang Hưng đời nhà Lê (1597). Đến nay, họ Lê đã có lịch sử hơn 400 năm phát triển, qua hơn 12 đời và có sự phân chia thành các tiểu chi khác nhau như: Lê Viết, Lê Hữu, Lê Khắc. Trong các chi họ Lê, Lê Viết là chi họ tiêu biểu, được đánh giá là dòng họ “kế thế lưu danh đời đời khoa bảng”.
Cụ tổ tiểu chi Lê Viết là cụ Tôn Trấn. Ông là người có công lớn với triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ. Trong tiểu chi Lê Viết “con cháu mỗi một thêm đông giàu, hoạn khoa vinh hiển, văn đến tiến sĩ võ đến quận công, sự học ngày một thăng tiến, nhiều người đỗ đạt thành danh” [38; tr 78]. Tiêu biểu là Lê Viết Tạo, ông đỗ Phỏ bảng năm Kỉ Mùi (1919) và là vị đại khoa cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam.
Các con của cụ Tạo là: Lê Viết Đậu, Lê Viết Khoa, Lê Viết Của, Lê Viết Hường đều có học hàm, học vị cao.