CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TÁC GIẢ MẠC THIÊN TÍCH VÀ TAO ĐÀN CHIÊU ANH CÁC 1.1 Tác giả Mạc Thiên Tích 1.1 Quá trình kiến tạo vùng đất Hà Tiên của dòng họ Mạc Trước thế kỉ XVII, Hà Tiên là bộ phận lãnh thổ của Phù Nam (theo cách viết Trung Quốc là “扶南”). Khi vương quốc này suy tàn, Hà Tiên cùng một phần đất đai của đồng bằng sông Cửu Long thuộc quyền quản lí của quốc vương Chân Lạp. Và dần những thế kỉ sau, vùng đất này rơi vào tình trạng hoang vu bởi sự bất lực trong việc quản lí của tập đoàn phong kiến Chân Lạp. Nơi đây vẫn được một bộ phận cư dân bám trụ nhờ tự nhiên ưu đãi thuận lợi.
Dựa vào những tư liệu cổ như Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Hà Tiên trấn Hiệp trấn Mạc thị gia phả của Vũ Thế Dinh và một số tư liệu có liên quan khác, trước khi họ Mạc đến khai khẩn đất Hà Tiên, thì đất này vốn là một vùng đất thấp, nằm bên bờ vịnh Thái Lan, giáp ranh với Campuchia. Sau đó, vùng đất này được dòng họ Mạc khai phá và quy thuộc vào lãnh thổ của chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Sách Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam mục “Hà Tiên” cũng đã ghi rõ “Hà Tiên nguyên xưa là đất thuộc nhà Lê. Sau đó có người Trung Quốc là họ Mạc đến đây khai khẩn, có bộ thuộc, phần phụ với chúa Nguyễn Phúc Tần, được đặc cách làm chức tổng binh, đất này ngày thêm phồn thịnh, dân ở yên trồng trọt [20,168 ]”.
Hơn ba thế kỉ trước, quốc gia Việt Nam bị chia đôi. Trịnh và Nguyễn phân tranh chia đất nước thành hai miền Nam Bắc, lấy sông Linh Giang (sông Gianh) làm phân giới. Nhưng rồi để tiện cho việc cai trị dưới thời vua Gia Long, quốc gia lại chia làm ba miền: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Từ đó, tiếng Miền Nam bị khu biệt trong phạm vi sáu tỉnh cuối cùng của đất nước.
Những người dân nghèo vùng Thuận – Quảng bắt đầu tìm đến nơi này. Họ sống chung với người bản địa, cùng khai phá đất hoang tạo dựng làng xóm. Đến cuối thế kỉ 17, thế lực của Mãn Thanh đã vững mạnh. Những di thần nhà Minh kháng cự với mong muốn “phản Thanh phục Minh” nhưng càng về sau lại càng yếu ớt tan rã.
Một số tướng lĩnh nhất quyết không chịu đầu hàng nên mang binh sĩ, gia quyến vượt biển xuôi về phương Nam, và dần dần họ đã lôi kéo đông đảo nhân dân cùng đi theo. Cuộc di cư này, ban đầu chỉ là cuộc di cư tị nạn chính trị, nhưng lâu dần do nhu cầu buôn bán làm ăn nên có thêm thành phần di dân vì sinh kế. Từ đó thúc đẩy hình thành sự lưu truyền văn hóa Trung Hoa ra hải ngoại. 14 Năm 1671, Mạc Cửu (鄚玖, 1652 – 1735) người xã Lê Quách, huyện Hải Khang, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), xuất thân trong dòng dõi thế phiệt, dòng họ Mạc cũng là dòng họ có nhiều người đỗ đạt làm quan hiển hách.
Sau khi triều Minh bị diệt, ông từng tham gia phong trào phản Thanh phục Minh nhưng thất bại, vì không phục trước chính sách của nhà Thanh, nên đã lên thuyền di cư về phương Nam. Họ quy tụ nhân dân, khẩn hoang lập ấp, mở hải khẩu, chiêu thương, mậu dịch, đến đầu thế kỉ 18 thì họ đã chiếm lãnh hết dải duyên hải phía Tây miền Nam, tạo thành một tiểu quốc do Mạc Cửu đứng đầu. Nhưng do nằm ở vị thế nhạy cảm, nên thường xuyên có sự tranh chấp giữa hai quốc gia Thái Lan và Chân Lạp. Vì vậy Hà Tiên cũng cần phải tìm một thế dựa vững chắc.
Theo Văn học Miền Nam - Văn học Hà Tiên, cố thi sĩ Đông Hồ từng viết: “Năm 1708, Mạc Cửu đem 7 phủ của mình khai thác gồm một dải duyên hải miền Tây, cả đảo Phú Quốc, mà thủ phủ là Hà Tiên trấn, qui phụ vào bản đồ Đàng Trong, chịu quyền bảo hộ của Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725)” [1,19]. Tuy nhiên ở đây, chịu tiếng bảo hộ là bảo hộ về ngoại giao, kỳ dư đều tự quản lí, tự chủ như cơ cấu quân sự, chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa, như một tiểu quốc tự chủ. Mỗi ba năm một lần, Mạc Cửu phải mua sắm lễ vật và cử thuộc hạ của mình đến Phú Xuân dâng biểu triều cống cho chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn Phúc Chu phong cho Mạc Cửu làm Tổng binh Trấn Hà Tiên và chính thức đổi tên vùng đất này là Hà Tiên trấn.
Việc làm này đánh dấu, Hà Tiên trở thành một bộ phận của lãnh thổ Đại Việt. Có thể thấy rằng, văn học Miền Nam thời kì phôi thai đã chịu sự ảnh hưởng trực tiếp sâu đậm văn học Trung Quốc. Ngay từ những ngày đầu đặt chân đến nơi đây, Mạc Cửu đã thực hiện rất nhiều biện pháp nhằm cải tạo lại Hà Tiên trấn: Mạc Cửu đã lợi dụng ưu thế của những lớp cư dân tại chỗ như các vùng Phú Quốc, Lũng Kỳ, Cần Bột (Kampot), Vũng Thơm (Kompongsom), Cà Mau và Rạch Giá lập thành bảy xã, đồng thời chiêu mộ những người dân từ nơi khác đến đây để cùng nhau khai khẩn đất đai, tạo dựng sản nghiệp. Trong quyển Hà Tiên trấn Hiệp trấn Mạc thị gia phả có chép thế này: “Từ đó Thái Công ngày đêm lo chiêu tập người khắp hải ngoại đến buôn bán, tàu thuyền ra vào rất nhộn nhịp, người Việt, người Đường, người Liêu, người Man đua nhau kéo đến trú ngụ, hộ khẩu ngày một đông, tiếng tăm của Thái Công ngày một lừng lẫy [2,16-17].
Ngoài ra, vì Mạc Cửu biết chỉ khi mở rộng ngoại giao thì một tiểu quốc mới có thể phát triển, nên Mạc Cửu đã không ngừng phát triển công việc buôn bán kinh doanh ra nước ngoài, thiết lập thành một trung tâm buôn bán lớn ở Hà Tiên. Vì nằm ở vị trí đắt địa nên Hà Tiên trở thành nơi tiếp nhận, nơi giao lưu của rất nhiều nước trên thế giới qua lại buôn bán; điều quan trọng nhất là Mạc Cửu rất quan tâm đến việc củng cố hành chính của địa phương mình cai quản, ông đã tự xây dựng một bộ máy chính quyền của riêng mình. Kết luận này dựa trên cơ 15 sở thực tế là Mạc Cửu tự sắp đặt quan lại, tự tổ chức quân sự, tự đặt ra thuế khóa và tự quyết định các chính sách ngoại giao cho riêng mình. Từ khi Mạc Cửu đến đây, diện mạo của đất Hà Tiên ngày càng được phát triển phồn thịnh.
Theo Gia Định thành thông chí trong vòng mười tám năm, Mạc Cửu đã lập nên bảy xã, thôn đầu tiên đó là: Cần Bột, Phú Quốc, Giá Khê (Rạch Giá), Hương Úc (Vũng Thơm), Cà Mau và Hà Tiên, ngày nay cùng với một phần đáng kể đất Cà Mau, Bạc Liêu, Rạch Giá, Long Xuyên, Sóc Trăng. Không chỉ khai thác nông nghiệp, Mạc Cửu còn rất chú trọng việc khai thác thủy sản do nguồn biển mang lại. Sách Mạc Thị gia phả Cho biết: “Ông chiêu tập các nước hải ngoại đến buôn bán. Tàu thuyền đi lại rộn rịp, làm ăn, hộ khẩu ngày càng trù mật, tiếng tăm của ông lừng lẫy khắp mọi nơi”.
Năm 1728 và năm 1729, Mạc Cửu phái Lưu Vệ Quân và Huỳnh Tập Quan mang hai thương thuyền sang Nhật Bản liên hệ việc mậu dịch vì lợi dụng chính sách mở cửa, cấp Châu Ấn cho thuyền thương gia buôn bán với nước ngoài đặc biệt là vùng Đông Nam Á của chính quyền Nhật Bản. Vì vậy Mạc Cửu được chính phủ Nhật Bản - Mạc Phủ Đức Xuyên - cấp giấy phép buôn bán. Các sản phẩm của Hà Tiên chẳng hạn như: hải sâm, cá khô, tôm khô,… là những mặt hàng giao dịch chính của họ Mạc và các thương nhân nước ngoài. Hoạt động này còn được thúc đẩy trong những năm đầu thập niên 30 của thế kỉ 18.
Năm 1735, Khi Mạc Cửu qua đời thì Mạc Thiên Tích lên nối chí cha. Ông càng mở mang sự nghiệp giữ chức tổng binh Hà Tiên trấn và giúp chúa Nguyễn mở rộng lãnh thổ miền Cửu Long, sau đó được chúa Nguyễn Phúc Tru phong chức Tổng binh đại đô đốc. Mạc Thiên Tích tiếp tục việc khai khẩn miền Tây Nam Bộ chú trọng việc mở rộng buôn bán giao lưu giữa các nước trên thế giới với nhau nhằm phát triển kinh tế và ngoại giao của trấn Hà Tiên, mặc khác ông tiếp tục cải tiến xây dựng phố chợ, đường xá, khai khẩn mở rộng đất đai, chiêu tập thêm nhân dân, xây cất dinh thự, đền miếu, trại quân,… góp phần làm cho bộ mặt cảng Hà Tiên đổi mới phồn vinh, phố thị sầm uất “Cảnh đường lối tiếp giáp, phố xá liên lạc, người Việt, người Tàu, người Cao Miên, người Đồ Bàn đều theo chủng loại cư trú, ghe thuyền ở sông biển qua lại nơi đây không dứt, thật là một đại đô hội nơi góc biển vậy!”(Gia Định thành thông chí, Quyển VI, Thành trì chí, tờ 36b). Những chính sách cải cách của Mạc Thiên Tích đã nhanh chóng đem lại sự phồn thịnh cho bến cảng Hà Tiên, trong một thời gian ngắn xây dựng, Hà Tiên đã trở thành một cảng khẩu quốc thu nhỏ - một đất nước trọng văn học, thích thi thư.
Ngoài ra, công tích của Mạc Thiên Tích còn kể đến việc khai khẩn mở thêm bốn huyện: Long Xuyên, Kiên Giang, Trấn Giang (Cần Thơ), Trấn Di (Bạc Liêu, Bãi Sâu). Đặc biệt, ông đã cho lập nhà nghĩa học, mở hội Tao đàn Chiêu Anh Các, một tao đàn xướng họa thi văn mang tầm quốc tế khiến tiếng tăm Hà Tiên lan xa. 16 Thế nhưng sự phồn thịnh của phố cảng Hà Tiên đã khiến trở thành con mồi của những nước láng giềng muốn tranh đoạt, tấn công để giành lấy làm của riêng mình. Nhưng dựa vào sự lãnh đạo tài ba của Mạc Thiên Tích cùng sự đồng lòng trên dưới của quân dân nên trận chiến với quốc vương Chân Lạp đã giành được thắng lợi.
Những năm sau, khi chúa Nguyễn Phúc Trú khôi phục được Gia Định, ông liền điều động quân đội can thiệp mạnh để lập bảo hộ ở Chân Lạp. Việc này đã dẫn đến xích mích với Xiêm. Lại thêm việc quân lính của Nguyễn Ánh cướp thuyền hàng của Xiêm. Nhân cơ hộ đó quân Chân Lạp đã vu cáo Mạc Thiên Tích làm nội gián cho Nguyễn Ánh ở Xiêm, nên ông đã bị bắt.
Vì chịu quá nhiều nỗi oan khuất, nhục nhằn với thù địch, ông đã tự tử. Mạc Thiên Tích mất năm 1780 tại Vọng Các (Bangkok, Thái Lan) hưởng thọ 75 tuổi. Tiếc rằng về sau, sau khi Mạc Thiên Tích mất thì Hà Tiên cũng đã mất dần sự phồn thịnh vốn có của nó.