Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình lịch sử văn học trung đại Việt Nam, các sáng tác chữ Hán và chữ Nôm ở khu vực Đàng Ngoài và kinh đô Phú Xuân thường chiếm vị trí trọng tâm trong các chương trình nghiên cứu và giảng dạy. Văn học Hán Nôm Nam Bộ thời kỳ đầu, đặc biệt là giai đoạn thế kỷ XVIII gắn liền với công cuộc khai mở vùng đất phương Nam, còn ít được tiếp cận một cách toàn diện trong nhà trường; người học đa phần chỉ biết đến các tác giả giai đoạn sau như Nguyễn Đình Chiểu. Trong bối cảnh đó, trường hợp Mạc Thiên Tích (1706 – 1780) cùng Tao đàn Chiêu Anh Các tại trấn Hà Tiên là một hiện tượng văn học độc đáo: một tác giả có nguồn gốc di dân nhưng sáng tác thuần thục cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, quy tụ lực lượng văn nhân trong và ngoài nước xướng họa, đặt nền móng cho văn học viết Nam Bộ.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là hệ thống hóa thân thế, sự nghiệp của Mạc Thiên Tích và Tao đàn Chiêu Anh Các, đồng thời phân tích toàn diện các đặc điểm nổi bật về nội dung và hình thức nghệ thuật trong di sản thơ văn Hán Nôm của ông, qua đó xác định vị trí của tác giả trong dòng chảy văn học dân tộc.

Để hiện thực hóa mục đích trên, đề tài xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng thuật và phát hiện những khía cạnh mới chưa được các công trình đi trước khai thác sâu.
  2. Tập hợp, phân loại toàn bộ hệ thống tác phẩm thơ văn Hán Nôm hiện còn của Mạc Thiên Tích.
  3. Kế thừa các bản phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ của giới nghiên cứu đi trước, đồng thời hiệu chỉnh các bản dịch nhằm đảm bảo độ chuẩn xác về ngữ nghĩa học thuật.
  4. Phân tích chuyên sâu hệ thống văn bản để làm sáng tỏ các đặc điểm nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật.
  5. Đánh giá, khái quát những đóng góp của Mạc Thiên Tích đối với sự phát triển của văn học Hà Tiên và văn học Nam Bộ thế kỷ XVIII.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các đặc điểm nội dung và đặc điểm hình thức thơ văn Hán Nôm của Mạc Thiên Tích. Phạm vi khảo sát tập trung vào các tác phẩm chính:

  • Tập thơ chữ Hán Hà Tiên thập vịnh (10 bài xướng).
  • Tập thơ Nôm Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh (gồm các đoạn ngâm khúc song thất lục bát xen kẽ 10 bài thơ Nôm Đường luật và 1 bài tổng vịnh).
  • Tập thơ văn chữ Hán Minh Bột di ngư (khảo sát 7 bài thơ Đường luật hiện còn và bài Lư Khê nhàn điếu phú).
  • Khảo sát mở rộng các tác phẩm xướng họa liên quan của các thành viên Tao đàn Chiêu Anh Các và các tác giả cùng thời như Nguyễn Cư Trinh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận tiếp cận đối tượng dưới góc độ thi pháp học trung đại, lý luận văn học và lịch sử văn học khu vực. Nguồn tư liệu nền tảng được tác giả khai thác bao gồm các thư tịch cổ và công trình nghiên cứu trong nước (Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Hà Tiên trấn Hiệp trấn Mạc thị gia phả của Vũ Thế Dinh, Văn học Miền Nam - Văn học Hà Tiên của Đông Hồ, Văn học Nam Hà của Nguyễn Văn Sâm, Tổng tập văn học Việt Nam tập 7 do Bùi Duy Tân chủ biên) cùng các công trình nghiên cứu quốc tế (khảo cứu về hoạt động văn học họ Mạc trên Tạp chí Sử học Nhật Bản năm 1967, Hà Tiên Mạc thị thế hệ khảo của Trần Kinh Hòa trên Hoa Cương học báo Đài Bắc năm 1969).

Khóa luận vận dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu văn học chuyên ngành:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt toàn bộ công trình để phân tích cấu trúc, ngữ nghĩa tác phẩm và tổng hợp thành các luận điểm về giá trị nội dung, nghệ thuật.
  • Phương pháp đối chiếu, so sánh: So sánh thơ văn Mạc Thiên Tích với các tác giả trung đại cùng thời và trước đó (như thơ vịnh cảnh trong Hồng Đức quốc âm thi tập, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Khuyến) nhằm chỉ ra nét khu biệt trong cảm hứng thẩm mỹ và phong cách sáng tác.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp tri thức văn học với lịch sử, địa lý, văn hóa học và ngôn ngữ học Hán Nôm để tái hiện không gian văn hóa Hà Tiên thế kỷ XVIII.
  • Phương pháp khảo sát văn bản: Thu thập, phân loại, đối chiếu các dị bản chữ Hán, bản phiên âm Nôm và các bản dịch thơ để chọn lọc ngữ liệu chính xác.
  • Phương pháp phân loại: Phân chia hệ thống tác phẩm theo chủ đề nội dung (thiên nhiên, đời sống sinh hoạt, ý thức làm chủ, quan hệ giao lưu văn hữu) và theo đặc trưng thể loại.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu tác giả Mạc Thiên Tích và Tao đàn Chiêu Anh Các

Chương 1 khái quát tiến trình lịch sử dòng họ Mạc trong việc khai phá, quy thuộc và phát triển vùng đất Hà Tiên vào bản đồ Đại Việt dưới thời các chúa Nguyễn. Bắt đầu từ Mạc Cửu quy phụ chúa Nguyễn Phúc Chu năm 1708, đến năm 1735 Mạc Thiên Tích kế nghiệp cha, được phong chức Tổng binh Đại đô đốc, tước Tông Đức Hầu. Mạc Thiên Tích không chỉ mở rộng địa giới hành chính (lập các huyện Long Xuyên, Kiên Giang, Trấn Giang, Trấn Di), phát triển kinh tế thương cảng quốc tế mà còn chú trọng chấn hưng văn hóa, lập nhà nghĩa học đào tạo nhân tài và sáng lập Tao đàn Chiêu Anh Các vào mùa xuân năm Bính Thìn (1736).

Về quy mô tổ chức, Chiêu Anh Các là hội thơ quy mô lớn thứ hai trong lịch sử văn học trung đại Việt Nam (sau Tao đàn Nhị thập bát tú thời Lê Thánh Tông), nhưng là tổ chức văn học - học thuật đầu tiên ở vùng đất Nam Bộ. Hoạt động của Chiêu Anh Các mang tính chất đa năng: vừa là nơi ngâm vịnh văn chương, vừa là diễn đàn bàn luận chính trị, quân sự, đạo lý, đồng thời giữ vai trò hội đồng tư vấn văn hóa giáo dục cho chính quyền địa phương. Khóa luận tổng hợp các nguồn sử liệu để thống kê số lượng văn nhân tham gia:

Nguồn tư liệu khảo sát Số lượng tác giả ghi nhận Đặc điểm phân bố tác giả
Phủ biên tạp lục (Lê Quý Đôn) 64 tác giả (danh sách có 32 vị có thơ khắc in) Văn nhân Đàng Trong và Trung Quốc
Gia Định thành thông chí (Trịnh Hoài Đức) 36 tác giả 15 người Việt gốc Hoa, 13 người Quảng Đông, 4 người phủ Triệu Phong, 2 người phủ Gia Định
Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú) 28 tác giả Danh sách các thi sĩ tiêu biểu
Khảo sát tổng hợp của khóa luận 73 tác giả Quy tụ thi nhân từ Thuận Hóa, Gia Định, Quy Nhơn, Bắc Hà cùng các tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến, Giang Tô, Giang Tây (Trung Quốc)

Sự nghiệp văn chương của Mạc Thiên Tích để lại dấu ấn qua các tác phẩm tiêu biểu: Hà Tiên thập vịnh (10 bài xướng chữ Hán, thu hút hàng trăm bài họa), Minh Bột di ngư (chùm thơ chữ Hán Lư Khê nhàn điếu và bài phú chữ Hán), Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh (tác phẩm Nôm song thất lục bát xen Đường luật), và Thụ Đức Hiên tứ cảnh (thơ hồi văn vịnh bốn mùa).

Chương 2: Đặc điểm nội dung thơ văn Hán - Nôm của Mạc Thiên Tích

Chương 2 phân tích 4 phương diện nội dung nổi bật trong di sản văn học của tác giả:

  1. Ca ngợi thắng cảnh vùng đất Hà Tiên qua con mắt nhà thơ gốc di dân: Thiên nhiên trong mười cảnh đẹp Hà Tiên (Kim Dữ lan đào, Bình San điệp thúy, Tiêu Tự thần chung, Giang Thành dạ cổ, Thạch Động thôn vân, Châu Nham lạc lộ, Đông Hồ ấn nguyệt, Nam Phố trừng ba, Lộc Trĩ thôn cư, Lư Khê ngư bạc) hiện lên vừa mang tính chiến lược quân sự hiểm yếu vừa tràn đầy sức sống nguyên sơ, kỳ vĩ. Khác với lối ẩn dật lánh đời hay gán ghép tâm trạng u sầu vào thiên nhiên của văn học cổ điển phương Bắc, thiên nhiên của Mạc Thiên Tích mang tính hiện thực sinh động của một vùng biên viễn trù phú.
  2. Tái hiện sinh hoạt của người dân Hà Tiên trong tâm thái của quan trấn thủ: Tác giả khắc họa bức tranh tứ bình "ngư, tiều, canh, mục" chốn thôn dã với phong thái an nhàn, no ấm. Hình ảnh xóm chài Rạch Vược (Lư Khê ngư bạc), cảnh cày cấy làng Mũi Nai (Lộc Trĩ thôn cư), tiếng chuông sớm chùa Tiêu (Tiêu Tự thần chung) hay tiếng mõ canh đêm đồn biên phòng (Giang Thành dạ cổ) phản ánh hơi thở đời sống lao động thực tế và sự thanh bình của xứ sở dưới sự cai quản nhân từ.
  3. Phản ánh tâm thái tự tin, lạc quan của người làm chủ vùng đất mới: Thơ văn Mạc Thiên Tích thể hiện rõ khí phách của một vị chủ tướng có trách nhiệm bảo vệ bờ cõi và niềm tự hào sâu sắc về cơ đồ vững chắc nơi địa đầu biên cương phía Nam. Không gian nghệ thuật thường được mở rộng khoáng đạt theo cả trục hoành lẫn trục tung, biểu hiện ý thức làm chủ non sông và tinh thần sẵn sàng đối phó với hiểm họa ngoại xâm.
  4. Thể hiện tinh thần quảng giao văn hữu của vị chủ soái Tao đàn: Qua các chùm thơ xướng họa và thư từ giao lưu (như các sáng tác thù tiếp với Trần Trí Khải, Nguyễn Cư Trinh), thơ văn phản ánh tinh thần hiếu khách, trọng hiền tài, khát khao kết nối tri âm văn hóa bất kể xuất thân bản địa hay ngoại kiều.

Chương 3: Đặc điểm hình thức thơ văn Hán - Nôm của Mạc Thiên Tích

Chương 3 đi sâu làm rõ các phương diện thi pháp hình thức:

  • Về mặt thể tài: Mạc Thiên Tích sử dụng thành thạo các thể loại truyền thống:
    • Thơ Đường luật chữ Hán (thất ngôn bát cú) chuẩn mực về niêm, luật, đối, vận.
    • Thể ngâm khúc chữ Nôm kết hợp linh hoạt giữa thể song thất lục bát (334 câu trong Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh) và các bài thơ Đường luật Nôm xen kẽ.
    • Thể phú cổ thể (Lư Khê nhàn điếu phú dài hơn 100 câu) và thể thơ hồi văn phức tạp (Thụ Đức Hiên tứ cảnh).
  • Về mặt ngữ liệu, thi liệu, văn liệu: Tác giả kết hợp nhuần nhuyễn hệ thống điển cố, điển tích Hán học uyên bác với lớp từ ngữ thuần Việt mộc mạc, đậm chất phương ngữ Nam Bộ buổi đầu (các từ ngữ địa phương chỉ sản vật, địa hình, hoạt động sông nước).
  • Về mặt nghệ thuật miêu tả:
    • Nghệ thuật so sánh, liên tưởng phong phú: Sử dụng điểm nhìn đa chiều, góc quan sát rộng mở để miêu tả cảnh sắc biển đảo, mây núi.
    • Xây dựng hình tượng thơ điển nhã bác học: Vận dụng bút pháp ước lệ cổ điển nhưng vẫn truyền tải được nét cá tính sáng tạo độc lập.
    • Miêu tả sự vật sống động, giàu sức gợi: Khắc họa âm thanh, ánh sáng, chuyển động của đàn cò núi Châu Nham, cảnh sóng gió Kim Dữ hay ánh trăng soi mặt nước Đông Hồ một cách chi tiết, sắc nét.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể dựa trên việc xử lý hệ thống văn bản:

  • Xác lập và khảo sát hệ thống văn bản thơ văn Hán Nôm của Mạc Thiên Tích gồm 10 bài thơ chữ Hán trong Hà Tiên thập vịnh, 11 bài thơ Nôm cùng hệ thống 334 câu ngâm khúc trong Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh, 7 bài thơ chữ Hán và 1 bài phú trong Minh Bột di ngư.
  • Thống kê, phân loại danh sách 73 văn nhân trong và ngoài nước từng tham gia sinh hoạt văn học và xướng họa cùng Tao đàn Chiêu Anh Các.
  • Làm sáng tỏ giá trị tư tưởng của thơ văn Mạc Thiên Tích: không chỉ là văn chương thù phụng, vịnh cảnh thông thường mà là bản tuyên ngôn về chủ quyền lãnh thổ, phản ánh công cuộc khai hoang lập ấp và tinh thần tự hào dân tộc nơi vùng đất mới.

Về mặt ứng dụng và đóng góp khoa học:

  • Ứng dụng sư phạm: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật hệ thống phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy nội dung Văn học địa phương (tỉnh Kiên Giang và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long) trong chương trình Ngữ văn ở trường phổ thông.
  • Đóng góp học thuật: Bổ khuyết khoảng trống nghiên cứu liên kết giữa văn bản Hán và văn bản Nôm của Mạc Thiên Tích; chứng minh Nam Bộ thế kỷ XVIII đã có một trung tâm văn hóa - văn học phát triển rực rỡ, độc lập và tương đương về trình độ nghệ thuật so với văn học Đàng Ngoài đương thời.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra những hạn chế khách quan bắt nguồn từ thực trạng thất lạc văn bản:

  • Tập Minh Bột di ngư thi thảo vốn có 32 bài thơ Đường luật chữ Hán nhưng đến nay chỉ sưu tầm và khảo sát được 7 bài cùng 1 bài phú; tập thơ hồi văn Thụ Đức Hiên tứ cảnh chỉ còn lưu lại một số bài chép trong Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn chứ chưa tìm lại được toàn bản.
  • Do điều kiện lưu trữ lịch sử, phần lớn các văn bản Nôm (Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh) chủ yếu được lưu truyền qua ghi chép và diễn giải của các học giả giai đoạn sau (như Đông Hồ), dẫn đến một số cách hiểu khác nhau về dị bản câu chữ.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được mở ra:

  • Tiếp tục tìm kiếm, sưu tầm và phục dựng các văn bản chữ Hán bị thất lạc của Chiêu Anh Các trong các kho lưu trữ tại Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản.
  • Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu thi pháp văn học Nôm của Mạc Thiên Tích với các trào lưu thơ Nôm Đàng Ngoài thế kỷ XVIII nhằm đánh giá sâu hơn sự dung hợp ngôn ngữ học lịch sử tiếng Việt giai đoạn cận đại.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu chuyên khảo hữu ích cho:

  • Giảng viên và sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn, Văn học: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong các học phần Văn học trung đại Việt Nam, Văn học địa phương Nam Bộ, và Hán Nôm học.
  • Giáo viên Ngữ văn bậc THCS và THPT: Khai thác ngữ liệu, bài dịch và phân tích tác phẩm để thiết kế các bài giảng tích hợp lịch sử - địa phương tại các tỉnh Tây Nam Bộ.
  • Các nhà nghiên cứu văn hóa - lịch sử: Tham khảo hệ thống bảng biểu thống kê tác giả Chiêu Anh Các, lịch sử dòng họ Mạc và quá trình phát triển thương cảng Hà Tiên thế kỷ XVIII.

Câu hỏi thường gặp

1. Tao đàn Chiêu Anh Các được thành lập vào thời gian nào và có quy mô thành viên ra sao?
Tao đàn Chiêu Anh Các chính thức được Mạc Thiên Tích thành lập vào mùa xuân năm Bính Thìn (1736) nhân dịp tiếp đón danh sĩ Trần Trí Khải từ Quảng Đông sang chơi Hà Tiên. Khóa luận thống kê có tổng cộng 73 tác giả từng tham gia xướng họa và sinh hoạt văn học, bao gồm thi nhân bản địa Nam Bộ, sĩ phu vùng Thuận - Quảng và đông đảo văn nhân đến từ các tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến, Giang Tô, Giang Tây (Trung Quốc).

2. Tác phẩm chữ Nôm duy nhất còn lại của Mạc Thiên Tích là tác phẩm nào? Cấu trúc ra sao?
Tác phẩm chữ Nôm duy nhất còn lại là Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh (còn gọi là Hà Tiên quốc âm thập vịnh). Tác phẩm có cấu trúc gồm 334 câu thơ song thất lục bát chia đều cho 10 đoạn vịnh 10 cảnh đẹp Hà Tiên, xen giữa mỗi đoạn là 1 bài thơ Nôm Đường luật thất ngôn bát cú tả cảnh đó, và kết thúc bằng 1 bài thơ Đường luật tổng vịnh đầy đủ 10 cảnh.

3. Tập thơ văn Minh Bột di ngư hiện còn lưu giữ được những phần nào?
Nguyên bản Minh Bột di ngư (hoặc Minh Bột di ngư thi thảo) gồm chùm 32 bài thơ Đường luật chữ Hán có tên chung là Lư Khê nhàn điếu và 1 bài phú dài hơn 100 câu Lư Khê nhàn điếu phú. Trải qua chiến tranh và biến cố lịch sử, hiện nay giới nghiên cứu chỉ mới tìm lại và khảo sát được 7 bài thơ chữ Hán và 1 bài phú nói trên.

4. Ý nghĩa và nguồn gốc việc đổi tên từ Mạc Thiên Tứ sang Mạc Thiên Tích là gì?
Tên gọi ban đầu là Mạc Thiên Tứ (chữ "Tứ" 賜 mang bộ Bối 貝, nghĩa là trời ban). Khi chúa Nguyễn ban cho họ Mạc đặc ân quý tộc "thất diệp phiên hàn" gồm 7 chữ đệm (Thiên, Tử, Công, Hầu, Bá, Tử, Nam) kết hợp 5 bộ ngũ hành làm tên (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ), chữ "Tứ" (bộ Bối) được đổi thành chữ "Tích" (錫, mang bộ Kim, hàm nghĩa trời ban tặng nhưng gắn với ngũ hành tương sinh), thể hiện ân huệ biệt đãi của vương triều Đàng Trong đối với công thần họ Mạc.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thanh Ngân đã cung cấp một công trình nghiên cứu hệ thống, công phu về cuộc đời, sự nghiệp và đặc điểm thơ văn Hán Nôm của Mạc Thiên Tích cùng Tao đàn Chiêu Anh Các. Qua việc khảo sát toàn diện cả hai mảng sáng tác chữ Hán và chữ Nôm, tác giả đã làm nổi bật giá trị nội dung ca ngợi cảnh sắc, con người vùng đất mới gắn liền với ý thức làm chủ biên cương và bút pháp nghệ thuật dung hòa giữa tính bác học cổ điển với sắc thái ngôn ngữ địa phương. Công trình là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị thiết thực đối với công tác nghiên cứu văn học Nam Bộ trung đại và hoạt động giảng dạy văn học địa phương trong nhà trường phổ thông.