Đặc Điểm Thơ Văn Hán Nôm Của Mạc Thiên Tích

Chuyên khảo phân tích Đặc điểm thơ văn hán nôm của mạc thiên tích, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Trường Đại Học An Giang

Chuyên ngành

Sư Phạm Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

157
9
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Tình hình nghiên cứu vấn đề

1.2.1. Trong nước

1.2.2. Ngoài nước

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.4.1. Mục đích nghiên cứu

1.4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

2. PHẦN NỘI DUNG

2. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TÁC GIẢ MẠC THIÊN TÍCH VÀ TAO ĐÀN CHIÊU ANH CÁC

2.1. Tác giả Mạc Thiên Tích

2.1.1. Quá trình kiến tạo vùng đất Hà Tiên của dòng họ Mạc

2.1.2. Giới thiệu cuộc đời tác giả Mạc Thiên Tích

2.1.3. Sự nghiệp văn chương của Mạc Thiên Tích

2.2. Tao đàn Chiêu Anh Các

2.2.1. Sự thành lập, tổ chức và hoạt động của Tao đàn Chiêu Anh Các

2.2.2. Các tác giả tham gia Tao đàn Chiêu Anh Các

2.2.3. Đóng góp của Mạc Thiên Tích cho Tao đàn Chiêu Anh Các và văn học Hà Tiên

3. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG THƠ VĂN HÁN – NÔM MẠC THIÊN TÍCH

3.1. Ca ngợi thắng cảnh vùng đất Hà Tiên qua con mắt của nhà thơ gốc di dân

3.2. Tái hiện sinh hoạt của người dân Hà Tiên trong tâm thái của quan trấn thủ

3.3. Phản ánh tâm thái tự tin, lạc quan của người làm chủ vùng đất mới

3.4. Thể hiện tinh thần quảng giao văn hữu của vị chủ soái Tao đàn

4. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC THƠ VĂN HÁN - NÔM CỦA MẠC THIÊN TÍCH

4.1. Về mặt thể tài

4.2. Về mặt ngữ liệu

4.2.1. Thi liệu, văn liệu

4.3. Về mặt nghệ thuật miêu tả

4.3.1. So sánh, liên tưởng phong phú

4.3.2. Hình tượng thơ điển nhã bác học

4.3.3. Miêu tả sự vật sống động

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC TÁC PHẨM THƠ VĂN HÁN NÔM CỦA MẠC THIÊN TÍCH

Hà Tiên thập vịnh 河仙十詠

Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh 河仙十景曲 vịnh (Phiên chữ Nôm)

Minh Bột di ngư 溟渤遺漁

DANH MỤC ẢNH

Ảnh về dòng họ Mạc

Tượng đài Mạc Cửu

Đền thờ họ Mạc

Ảnh bìa sách có tác phẩm Mạc Thiên Tích

Tóm tắt

I. Tổng Quan Tìm Hiểu Khóa Luận Về Thơ Văn Hán Nôm Mạc Thiên Tích

Khóa luận này khám phá thế giới thơ văn Hán Nôm của Mạc Thiên Tích, một nhân vật lịch sử và văn hóa quan trọng ở Hà Tiên thế kỷ 18. Nghiên cứu này không chỉ xem xét các tác phẩm của ông mà còn đặt chúng trong bối cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa của thời đại. Khóa luận tập trung vào việc phân tích các đặc điểm nội dung và hình thức của thơ văn Mạc Thiên Tích, từ đó đánh giá đóng góp của ông cho nền văn học Việt Nam. Việc nghiên cứu Mạc Thiên Tích rất quan trọng vì ông đại diện cho một giai đoạn giao thoa văn hóa độc đáo, nơi văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa hòa quyện. Ông cũng là người sáng lập Tao đàn Chiêu Anh Các, một trung tâm văn hóa quan trọng ở Nam Bộ. Theo trích dẫn từ tài liệu gốc, mục đích của đề tài là khái quát lại một cách sơ bộ về thân thế sự nghiệp của Mạc Thiên Tích. Công trình đồng thời cũng chỉ ra những đặc điểm về mặt nội dung và hình thức của thơ văn Mạc Thiên Tích.

1.1. Bối cảnh lịch sử và văn hóa của Hà Tiên thế kỷ 18

Hà Tiên thế kỷ 18 là một vùng đất biên thùy, nơi giao thoa của nhiều nền văn hóa khác nhau. Đây là một trung tâm thương mại quan trọng, thu hút nhiều người di cư từ khắp nơi đến sinh sống và làm việc. Bối cảnh này đã ảnh hưởng sâu sắc đến thơ văn Hán Nôm của Mạc Thiên Tích, tạo nên những đặc điểm riêng biệt. Hà Tiên khi ấy không chỉ đẹp bởi núi đồi biếc xanh thơ mộng, sông hồ bãi biển quyến rũ lòng người mà còn là vùng đất của văn chương và nhạc lễ.

1.2. Vị trí của Mạc Thiên Tích trong lịch sử văn học Việt Nam

Mạc Thiên Tích đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển văn học ở Nam Bộ. Ông là một nhà thơ, nhà văn, nhà chính trị và nhà ngoại giao tài ba. Ông đã có những đóng góp to lớn cho việc xây dựng và phát triển Hà Tiên. Thơ văn Hán Nôm của ông phản ánh những trải nghiệm và suy tư của một người sống trong một thời kỳ lịch sử đầy biến động. Chính cảnh quan của đất nước đã sinh ra lời thơ, và nhờ lời thơ đã biến hóa mọi cảnh vật đều có linh hồn.

II. Thách Thức Nghiên Cứu Thơ Văn Hán Nôm Của Mạc Thiên Tích

Nghiên cứu thơ văn Hán Nôm của Mạc Thiên Tích đối diện với nhiều thách thức. Thứ nhất, số lượng tác phẩm còn lại không nhiều và phân tán. Thứ hai, việc dịch thuật và giải mã các văn bản Hán Nôm đòi hỏi trình độ chuyên môn cao. Thứ ba, việc đánh giá khách quan giá trị văn học của Mạc Thiên Tích cần phải đặt trong bối cảnh lịch sử và văn hóa cụ thể. Đặc biệt, nhiều tác phẩm hiện chưa hoặc không thể tìm là phần khiếm khuyết đáng tiếc khiến hậu thế chưa thể thấy hết tiếng lòng sâu thẳm của tác giả. Do đó, công trình này sẽ cố gắng tìm tòi sáng tạo để đi đúng tin thần của việc nghiên cứu khoa học.

2.1. Khó khăn trong việc tiếp cận và dịch thuật văn bản Hán Nôm

Văn bản Hán Nôm là một loại văn bản cổ, sử dụng chữ Hán và chữ Nôm để ghi lại tiếng Việt. Việc đọc hiểu và dịch thuật loại văn bản này đòi hỏi kiến thức sâu rộng về lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ. Nhiều văn bản đã bị hư hỏng hoặc thất lạc theo thời gian, gây khó khăn cho việc nghiên cứu. Việc tiếp cận và dịch thuật văn bản Hán Nôm là một thách thức lớn đối với các nhà nghiên cứu.

2.2. Đánh giá khách quan giá trị văn học của Mạc Thiên Tích

Việc đánh giá giá trị văn học của Mạc Thiên Tích cần phải đặt trong bối cảnh lịch sử và văn hóa cụ thể. Ông là một nhà thơ, nhà văn, nhà chính trị và nhà ngoại giao. Các tác phẩm của ông phản ánh những trải nghiệm và suy tư của một người sống trong một thời kỳ lịch sử đầy biến động. Việc đánh giá khách quan giá trị văn học của Mạc Thiên Tích đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về lịch sử, văn hóa và văn học Việt Nam.

III. Phương Pháp Phân Tích Nội Dung Thơ Văn Hán Nôm Mạc Thiên Tích

Để phân tích nội dung thơ văn Hán Nôm của Mạc Thiên Tích, khóa luận sử dụng phương pháp phân tích văn bản kết hợp với nghiên cứu lịch sử và văn hóa. Phương pháp này cho phép hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa và giá trị của các tác phẩm. Khóa luận tập trung vào các chủ đề chính trong thơ văn Hán Nôm của Mạc Thiên Tích, bao gồm ca ngợi cảnh đẹp Hà Tiên, tái hiện cuộc sống của người dân, thể hiện tinh thần yêu nước và quảng giao văn hữu.

3.1. Phân tích chủ đề ca ngợi cảnh đẹp Hà Tiên

Mạc Thiên Tích là một nhà thơ yêu thiên nhiên và yêu quê hương. Ông đã viết nhiều bài thơ ca ngợi cảnh đẹp Hà Tiên, từ những ngọn núi hùng vĩ đến những dòng sông thơ mộng. Các bài thơ của ông không chỉ miêu tả cảnh đẹp mà còn thể hiện tình yêu sâu sắc đối với quê hương. Ví dụ, trong tập thơ Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh, ta thấy rõ điều này.

3.2. Nghiên cứu về tinh thần yêu nước trong thơ văn

Mạc Thiên Tích thể hiện tinh thần yêu nước qua các tác phẩm của mình. Ông là một người con của dân tộc, luôn mong muốn đất nước được hòa bình và thịnh vượng. Tinh thần yêu nước của ông thể hiện qua việc ông ủng hộ triều đình, bảo vệ biên cương và chăm lo cho đời sống của người dân. Điều này cho thấy trình độ văn chương, nghệ thuật của các thành viên tao đàn đã đạt đến một mức khá cao, không thua kém văn học Đàng Ngoài và ngay cả văn học Trung Hoa.

IV. Nghiên Cứu Hình Thức Nghệ Thuật Trong Thơ Văn Hán Nôm Mạc Thiên Tích

Khóa luận cũng tập trung vào việc phân tích hình thức nghệ thuật của thơ văn Hán Nôm Mạc Thiên Tích. Điều này bao gồm việc xem xét thể loại, ngôn ngữ, hình ảnh và các biện pháp tu từ được sử dụng. Khóa luận cũng so sánh thơ văn Hán Nôm của Mạc Thiên Tích với các tác giả cùng thời để làm nổi bật những đặc điểm riêng biệt của ông. Thi liệu, văn liệu được sử dụng vô cùng phong phú.

4.1. Phân tích thể loại và ngôn ngữ sử dụng

Mạc Thiên Tích sử dụng nhiều thể loại thơ khác nhau, bao gồm thơ Đường luật, thơ Nôm và phú. Ngôn ngữ trong thơ của ông vừa trang trọng, vừa giản dị, phù hợp với nội dung và cảm xúc mà ông muốn truyền tải. Thơ Nôm của ông thì bình dị, rất gần ngôn ngữ của quần chúng mà vẫn không kém trau chuốt.

4.2. Nghiên cứu về hình ảnh và biện pháp tu từ

Mạc Thiên Tích sử dụng nhiều hình ảnh và biện pháp tu từ để làm cho thơ của ông trở nên sinh động và giàu cảm xúc. Các hình ảnh thường được lấy từ thiên nhiên, cuộc sống hàng ngày và lịch sử. Các biện pháp tu từ được sử dụng một cách sáng tạo, góp phần tạo nên phong cách độc đáo của ông. Lối gieo vần của Mạc Thiên Tích về sau vẫn được kế thừa trong các tác phẩm như Dương Từ - Hà Mậu, Ngư Tiều y thuật vấn đáp, Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca,… ở Nam bộ.

V. Ứng Dụng Giá Trị Lịch Sử Văn Học Thơ Văn Hán Nôm Mạc Thiên Tích

Thơ văn Hán Nôm của Mạc Thiên Tích có giá trị lịch sử và văn học to lớn. Các tác phẩm của ông giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử, văn hóa và con người Hà Tiên thế kỷ 18. Đồng thời, các tác phẩm của ông cũng góp phần làm phong phú thêm nền văn học Việt Nam. Nghiên cứu một tác giả cũng góp phần không nhỏ trong việc giảng dạy môn văn học địa phương, giúp các em học sinh ở trường phổ thông biết đến tác giả mới trong nền văn học địa phương.

5.1. Giá trị lịch sử của thơ văn Mạc Thiên Tích

Thơ văn Hán Nôm của Mạc Thiên Tích là một nguồn tư liệu quý giá để nghiên cứu lịch sử Hà Tiên thế kỷ 18. Các tác phẩm của ông phản ánh những sự kiện lịch sử, những phong tục tập quán và những vấn đề xã hội của thời đại. Thông qua thơ văn Hán Nôm của Mạc Thiên Tích, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về cuộc sống của người dân Hà Tiên trong quá khứ.

5.2. Giá trị văn học và ảnh hưởng của tác phẩm

Thơ văn Hán Nôm của Mạc Thiên Tích có giá trị văn học cao. Các tác phẩm của ông thể hiện tài năng sáng tạo và cảm xúc sâu sắc. Đồng thời, các tác phẩm của ông cũng góp phần làm phong phú thêm nền văn học Việt Nam. Thơ chữ Hán của ông giàu hình ảnh, chứa đựng một tình cảm, sức sống, không gò gẫm, giả tạo.

VI. Kết Luận Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Về Mạc Thiên Tích

Nghiên cứu về thơ văn Hán Nôm của Mạc Thiên Tích là một công việc quan trọng và cần thiết. Công trình này không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về một nhân vật lịch sử và văn hóa quan trọng mà còn góp phần làm phong phú thêm nền văn học Việt Nam. Hy vọng rằng, nghiên cứu này sẽ mở ra những hướng nghiên cứu mới về văn học Nam Bộ và văn học Việt Nam nói chung.

6.1. Tổng kết những đóng góp của Mạc Thiên Tích

Mạc Thiên Tích đã có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của văn học Hà Tiên và văn học Việt Nam. Ông là một nhà thơ, nhà văn, nhà chính trị và nhà ngoại giao tài ba. Các tác phẩm của ông phản ánh những trải nghiệm và suy tư của một người sống trong một thời kỳ lịch sử đầy biến động.

6.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo về văn học Hán Nôm Nam Bộ

Nghiên cứu về thơ văn Hán Nôm Nam Bộ còn rất nhiều tiềm năng. Các nhà nghiên cứu có thể tiếp tục khám phá những tác phẩm chưa được biết đến, phân tích sâu sắc hơn những tác phẩm đã được nghiên cứu và đặt chúng trong bối cảnh lịch sử và văn hóa cụ thể. Các nghiên cứu này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về văn học Nam Bộ và văn học Việt Nam nói chung.

23/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TÁC GIẢ MẠC THIÊN TÍCH VÀ TAO ĐÀN CHIÊU ANH CÁC 1.1 Tác giả Mạc Thiên Tích 1.1 Quá trình kiến tạo vùng đất Hà Tiên của dòng họ Mạc Trước thế kỉ XVII, Hà Tiên là bộ phận lãnh thổ của Phù Nam (theo cách viết Trung Quốc là “扶南”). Khi vương quốc này suy tàn, Hà Tiên cùng một phần đất đai của đồng bằng sông Cửu Long thuộc quyền quản lí của quốc vương Chân Lạp. Và dần những thế kỉ sau, vùng đất này rơi vào tình trạng hoang vu bởi sự bất lực trong việc quản lí của tập đoàn phong kiến Chân Lạp. Nơi đây vẫn được một bộ phận cư dân bám trụ nhờ tự nhiên ưu đãi thuận lợi.

Dựa vào những tư liệu cổ như Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Hà Tiên trấn Hiệp trấn Mạc thị gia phả của Vũ Thế Dinh và một số tư liệu có liên quan khác, trước khi họ Mạc đến khai khẩn đất Hà Tiên, thì đất này vốn là một vùng đất thấp, nằm bên bờ vịnh Thái Lan, giáp ranh với Campuchia. Sau đó, vùng đất này được dòng họ Mạc khai phá và quy thuộc vào lãnh thổ của chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Sách Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam mục “Hà Tiên” cũng đã ghi rõ “Hà Tiên nguyên xưa là đất thuộc nhà Lê. Sau đó có người Trung Quốc là họ Mạc đến đây khai khẩn, có bộ thuộc, phần phụ với chúa Nguyễn Phúc Tần, được đặc cách làm chức tổng binh, đất này ngày thêm phồn thịnh, dân ở yên trồng trọt [20,168 ]”.

Hơn ba thế kỉ trước, quốc gia Việt Nam bị chia đôi. Trịnh và Nguyễn phân tranh chia đất nước thành hai miền Nam Bắc, lấy sông Linh Giang (sông Gianh) làm phân giới. Nhưng rồi để tiện cho việc cai trị dưới thời vua Gia Long, quốc gia lại chia làm ba miền: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Từ đó, tiếng Miền Nam bị khu biệt trong phạm vi sáu tỉnh cuối cùng của đất nước.

Những người dân nghèo vùng Thuận – Quảng bắt đầu tìm đến nơi này. Họ sống chung với người bản địa, cùng khai phá đất hoang tạo dựng làng xóm. Đến cuối thế kỉ 17, thế lực của Mãn Thanh đã vững mạnh. Những di thần nhà Minh kháng cự với mong muốn “phản Thanh phục Minh” nhưng càng về sau lại càng yếu ớt tan rã.

Một số tướng lĩnh nhất quyết không chịu đầu hàng nên mang binh sĩ, gia quyến vượt biển xuôi về phương Nam, và dần dần họ đã lôi kéo đông đảo nhân dân cùng đi theo. Cuộc di cư này, ban đầu chỉ là cuộc di cư tị nạn chính trị, nhưng lâu dần do nhu cầu buôn bán làm ăn nên có thêm thành phần di dân vì sinh kế. Từ đó thúc đẩy hình thành sự lưu truyền văn hóa Trung Hoa ra hải ngoại. 14 Năm 1671, Mạc Cửu (鄚玖, 1652 – 1735) người xã Lê Quách, huyện Hải Khang, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), xuất thân trong dòng dõi thế phiệt, dòng họ Mạc cũng là dòng họ có nhiều người đỗ đạt làm quan hiển hách.

Sau khi triều Minh bị diệt, ông từng tham gia phong trào phản Thanh phục Minh nhưng thất bại, vì không phục trước chính sách của nhà Thanh, nên đã lên thuyền di cư về phương Nam. Họ quy tụ nhân dân, khẩn hoang lập ấp, mở hải khẩu, chiêu thương, mậu dịch, đến đầu thế kỉ 18 thì họ đã chiếm lãnh hết dải duyên hải phía Tây miền Nam, tạo thành một tiểu quốc do Mạc Cửu đứng đầu. Nhưng do nằm ở vị thế nhạy cảm, nên thường xuyên có sự tranh chấp giữa hai quốc gia Thái Lan và Chân Lạp. Vì vậy Hà Tiên cũng cần phải tìm một thế dựa vững chắc.

Theo Văn học Miền Nam - Văn học Hà Tiên, cố thi sĩ Đông Hồ từng viết: “Năm 1708, Mạc Cửu đem 7 phủ của mình khai thác gồm một dải duyên hải miền Tây, cả đảo Phú Quốc, mà thủ phủ là Hà Tiên trấn, qui phụ vào bản đồ Đàng Trong, chịu quyền bảo hộ của Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725)” [1,19]. Tuy nhiên ở đây, chịu tiếng bảo hộ là bảo hộ về ngoại giao, kỳ dư đều tự quản lí, tự chủ như cơ cấu quân sự, chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa, như một tiểu quốc tự chủ. Mỗi ba năm một lần, Mạc Cửu phải mua sắm lễ vật và cử thuộc hạ của mình đến Phú Xuân dâng biểu triều cống cho chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn Phúc Chu phong cho Mạc Cửu làm Tổng binh Trấn Hà Tiên và chính thức đổi tên vùng đất này là Hà Tiên trấn.

Việc làm này đánh dấu, Hà Tiên trở thành một bộ phận của lãnh thổ Đại Việt. Có thể thấy rằng, văn học Miền Nam thời kì phôi thai đã chịu sự ảnh hưởng trực tiếp sâu đậm văn học Trung Quốc. Ngay từ những ngày đầu đặt chân đến nơi đây, Mạc Cửu đã thực hiện rất nhiều biện pháp nhằm cải tạo lại Hà Tiên trấn: Mạc Cửu đã lợi dụng ưu thế của những lớp cư dân tại chỗ như các vùng Phú Quốc, Lũng Kỳ, Cần Bột (Kampot), Vũng Thơm (Kompongsom), Cà Mau và Rạch Giá lập thành bảy xã, đồng thời chiêu mộ những người dân từ nơi khác đến đây để cùng nhau khai khẩn đất đai, tạo dựng sản nghiệp. Trong quyển Hà Tiên trấn Hiệp trấn Mạc thị gia phả có chép thế này: “Từ đó Thái Công ngày đêm lo chiêu tập người khắp hải ngoại đến buôn bán, tàu thuyền ra vào rất nhộn nhịp, người Việt, người Đường, người Liêu, người Man đua nhau kéo đến trú ngụ, hộ khẩu ngày một đông, tiếng tăm của Thái Công ngày một lừng lẫy [2,16-17].

Ngoài ra, vì Mạc Cửu biết chỉ khi mở rộng ngoại giao thì một tiểu quốc mới có thể phát triển, nên Mạc Cửu đã không ngừng phát triển công việc buôn bán kinh doanh ra nước ngoài, thiết lập thành một trung tâm buôn bán lớn ở Hà Tiên. Vì nằm ở vị trí đắt địa nên Hà Tiên trở thành nơi tiếp nhận, nơi giao lưu của rất nhiều nước trên thế giới qua lại buôn bán; điều quan trọng nhất là Mạc Cửu rất quan tâm đến việc củng cố hành chính của địa phương mình cai quản, ông đã tự xây dựng một bộ máy chính quyền của riêng mình. Kết luận này dựa trên cơ 15 sở thực tế là Mạc Cửu tự sắp đặt quan lại, tự tổ chức quân sự, tự đặt ra thuế khóa và tự quyết định các chính sách ngoại giao cho riêng mình. Từ khi Mạc Cửu đến đây, diện mạo của đất Hà Tiên ngày càng được phát triển phồn thịnh.

Theo Gia Định thành thông chí trong vòng mười tám năm, Mạc Cửu đã lập nên bảy xã, thôn đầu tiên đó là: Cần Bột, Phú Quốc, Giá Khê (Rạch Giá), Hương Úc (Vũng Thơm), Cà Mau và Hà Tiên, ngày nay cùng với một phần đáng kể đất Cà Mau, Bạc Liêu, Rạch Giá, Long Xuyên, Sóc Trăng. Không chỉ khai thác nông nghiệp, Mạc Cửu còn rất chú trọng việc khai thác thủy sản do nguồn biển mang lại. Sách Mạc Thị gia phả Cho biết: “Ông chiêu tập các nước hải ngoại đến buôn bán. Tàu thuyền đi lại rộn rịp, làm ăn, hộ khẩu ngày càng trù mật, tiếng tăm của ông lừng lẫy khắp mọi nơi”.

Năm 1728 và năm 1729, Mạc Cửu phái Lưu Vệ Quân và Huỳnh Tập Quan mang hai thương thuyền sang Nhật Bản liên hệ việc mậu dịch vì lợi dụng chính sách mở cửa, cấp Châu Ấn cho thuyền thương gia buôn bán với nước ngoài đặc biệt là vùng Đông Nam Á của chính quyền Nhật Bản. Vì vậy Mạc Cửu được chính phủ Nhật Bản - Mạc Phủ Đức Xuyên - cấp giấy phép buôn bán. Các sản phẩm của Hà Tiên chẳng hạn như: hải sâm, cá khô, tôm khô,… là những mặt hàng giao dịch chính của họ Mạc và các thương nhân nước ngoài. Hoạt động này còn được thúc đẩy trong những năm đầu thập niên 30 của thế kỉ 18.

Năm 1735, Khi Mạc Cửu qua đời thì Mạc Thiên Tích lên nối chí cha. Ông càng mở mang sự nghiệp giữ chức tổng binh Hà Tiên trấn và giúp chúa Nguyễn mở rộng lãnh thổ miền Cửu Long, sau đó được chúa Nguyễn Phúc Tru phong chức Tổng binh đại đô đốc. Mạc Thiên Tích tiếp tục việc khai khẩn miền Tây Nam Bộ chú trọng việc mở rộng buôn bán giao lưu giữa các nước trên thế giới với nhau nhằm phát triển kinh tế và ngoại giao của trấn Hà Tiên, mặc khác ông tiếp tục cải tiến xây dựng phố chợ, đường xá, khai khẩn mở rộng đất đai, chiêu tập thêm nhân dân, xây cất dinh thự, đền miếu, trại quân,… góp phần làm cho bộ mặt cảng Hà Tiên đổi mới phồn vinh, phố thị sầm uất “Cảnh đường lối tiếp giáp, phố xá liên lạc, người Việt, người Tàu, người Cao Miên, người Đồ Bàn đều theo chủng loại cư trú, ghe thuyền ở sông biển qua lại nơi đây không dứt, thật là một đại đô hội nơi góc biển vậy!”(Gia Định thành thông chí, Quyển VI, Thành trì chí, tờ 36b). Những chính sách cải cách của Mạc Thiên Tích đã nhanh chóng đem lại sự phồn thịnh cho bến cảng Hà Tiên, trong một thời gian ngắn xây dựng, Hà Tiên đã trở thành một cảng khẩu quốc thu nhỏ - một đất nước trọng văn học, thích thi thư.

Ngoài ra, công tích của Mạc Thiên Tích còn kể đến việc khai khẩn mở thêm bốn huyện: Long Xuyên, Kiên Giang, Trấn Giang (Cần Thơ), Trấn Di (Bạc Liêu, Bãi Sâu). Đặc biệt, ông đã cho lập nhà nghĩa học, mở hội Tao đàn Chiêu Anh Các, một tao đàn xướng họa thi văn mang tầm quốc tế khiến tiếng tăm Hà Tiên lan xa. 16 Thế nhưng sự phồn thịnh của phố cảng Hà Tiên đã khiến trở thành con mồi của những nước láng giềng muốn tranh đoạt, tấn công để giành lấy làm của riêng mình. Nhưng dựa vào sự lãnh đạo tài ba của Mạc Thiên Tích cùng sự đồng lòng trên dưới của quân dân nên trận chiến với quốc vương Chân Lạp đã giành được thắng lợi.

Những năm sau, khi chúa Nguyễn Phúc Trú khôi phục được Gia Định, ông liền điều động quân đội can thiệp mạnh để lập bảo hộ ở Chân Lạp. Việc này đã dẫn đến xích mích với Xiêm. Lại thêm việc quân lính của Nguyễn Ánh cướp thuyền hàng của Xiêm. Nhân cơ hộ đó quân Chân Lạp đã vu cáo Mạc Thiên Tích làm nội gián cho Nguyễn Ánh ở Xiêm, nên ông đã bị bắt.

Vì chịu quá nhiều nỗi oan khuất, nhục nhằn với thù địch, ông đã tự tử. Mạc Thiên Tích mất năm 1780 tại Vọng Các (Bangkok, Thái Lan) hưởng thọ 75 tuổi. Tiếc rằng về sau, sau khi Mạc Thiên Tích mất thì Hà Tiên cũng đã mất dần sự phồn thịnh vốn có của nó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Khóa luận tốt nghiệp "Đặc Điểm Thơ Văn Hán Nôm Của Mạc Thiên Tích" mang đến cái nhìn sâu sắc về những đặc trưng nổi bật trong thơ văn Hán Nôm của tác giả Mạc Thiên Tích. Tài liệu không chỉ phân tích các yếu tố ngôn ngữ, hình thức nghệ thuật mà còn khám phá bối cảnh lịch sử và văn hóa ảnh hưởng đến sáng tác của ông. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về phong cách thơ văn Hán Nôm, từ đó có thể áp dụng vào nghiên cứu văn học hoặc giảng dạy.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ ngôn từ thơ thời kỳ kháng chiến chống pháp 1946 1954 nhìn từ bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng, nơi cung cấp cái nhìn về ngôn từ trong thơ ca thời kỳ kháng chiến. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự giao thoa ngôn ngữ trong văn học. Cuối cùng, Luận văn thế giới tâm linh trong truyện thơ nôm sẽ mở ra một góc nhìn mới về các chủ đề tâm linh trong thơ Nôm, liên quan mật thiết đến tác phẩm của Mạc Thiên Tích. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn đào sâu hơn vào lĩnh vực văn học Hán Nôm và các khía cạnh liên quan.