CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa Irwin Rosenberg đã lần đầu tiên định nghĩa thiếu cơ vào năm 1989, ông mô tả đó là tình trạng giảm khối lượng cơ liên quan đến tuổi, thường gặp nhất trong cộng đồng người cao tuổi. Quá trình mất khối cơ đáng kể và không chủ ý này đóng vai trò quan trọng trong việc giảm các hoạt động chức năng ở người cao tuổi. Từ sau năm 1989, rất nhiều định nghĩa khác về thiếu cơ đã xuất hiện do các nhà khoa học có hiểu biết sâu sắc và chính xác hơn về sự biến đổi các thành phần trong cơ thể khi chúng ta già đi nhờ vào các phương tiện máy móc hiện đại.
Mặc dù vậy, hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất nào được chấp thuận trên toàn thế giới. Một trong những định nghĩa được chấp nhận nhiều nhất hiện nay đó là đồng thuận của hội thiếu cơ ở người cao tuổi châu Âu (EWGSOP): Thiếu cơ là tình trạng giảm khối lượng cơ và sức mạnh của cơ diễn trên toàn cơ thể và tiến triển từ từ, hậu quả mang lại là làm tăng tỉ lệ tàn tật, giảm chất lượng cuộc sống và tăng tỉ lệ tử vong. Dịch tễ: Với sự gia tăng tỉ lệ người cao tuổi trên thế giới, thiếu cơ sẽ ngày càng phổ biến và trở thành một trong những vấn đề sức khỏe cộng đồng hàng đầu của nhân loại. Dựa vào một nghiên cứu tổng quan hệ thống [47] các tác giả ước tính được tỉ lệ thiếu cơ hiện nay vào khoảng 10% dân số thế giới.
Tỉ lệ thiếu cơ ở các quốc gia không thuộc châu Á cao hơn so với các quốc gia thuộc châu Á. Điều này có thể do người châu Á có chế độ ăn tốt hơn, cân bằng hơn và lối sống vận động nhiều hơn so với người không thuộc châu Á. Tỉ lệ thiếu cơ ở hai giới trong bài tổng quan hệ thống là tương đối bằng nhau. Tuy nhiên một số nghiên cứu cho kết quả khác.
Một số nghiên cứu cho. 6 thấy tỉ lệ suy giảm khối cơ ở nam cao hơn so với ở nữ do đó tỉ lệ thiếu cơ lớn nhất là ở nam giới lớn hơn 80 tuổi, trong khi đó phụ nữ ở cùng độ tuổi này chỉ có 43. Ngược lại, một số nghiên cứu cho thấy ở độ tuổi từ 60 – 80 tuổi, tỉ lệ thiếu cơ ở phụ nữ cao hơn nam giới. Nguyên nhân có thể là do các quá trình thay đổi về nội tiết và ngoại tiết trong cơ thể ảnh hưởng lớn đến khối lượng và chất lượng cơ.
Trong độ tuổi 60 -70 thì những quá trình thay đổi về nội ngoại tiết, đặc biệt là các hormone sinh dục diễn ra ở nam giới chậm hơn so với nữ giới nên làm tăng tỉ lệ thiếu cơ ở nữ nhiều hơn so với nam. Khi bước qua độ tuổi 80, hormone sinh dục nam giới testosterone lại giảm một cách nhanh chóng làm cho tỉ lệ thiếu cơ nam giới tăng cao hơn nữ. Khi nói về dân số người cao tuổi, kết quả cho thấy dân số người cao tuổi ở các trung tâm phục hồi chức năng có tỉ lệ thiếu cơ cao nhất, theo sau đó là người cao tuổi ở viện dưỡng lão, cuối cùng là dân số người cao tuổi nội viện. Ngoài ra tỉ lệ thiếu cơ còn phụ thuộc vào phương pháp đo khối lượng cơ.
Hai phương pháp thường được dùng để đo khối lượng cơ trong các nghiên cứu về dịch tễ là BIA và DXA. BIA là phương pháp có nhược điểm làm tăng khối lượng cơ và giảm khối lượng mỡ hơn so với thực tế, vì vậy tỉ lệ thiếu cơ ở các nghiên cứu sử dụng BIA thường cao hơn so với DXA. Khi tính riêng các nghiên cứu chỉ sử dụng công cụ BIA, tỉ lệ thiếu cơ là khoảng 13%. Phân loại nguyên nhân và giai đoạn Thiếu cơ là tình trạng có rất nhiều nguyên nhân và dẫn tới nhiều hậu quả khác nhau.
Cũng giống như loãng xương và sa sút trí tuệ, thiếu cơ chủ yếu gặp ở người cao tuổi. Ở một số người, thiếu cơ có thể chỉ có một nguyên nhân và dễ dàng xác định được. Tuy nhiên trong phần lớn những trường hợp còn lại, thiếu cơ thường do nhiều nguyên nhân kết hợp với nhau và rất khó để xác định đâu là nguyên nhân quan trọng hơn. Vì vậy, phân loại thiếu cơ theo hai.
7 nhóm nguyên nhân là thiếu cơ nguyên phát và thứ phát sẽ giúp cho bác sĩ dễ áp dụng hơn trong thực hành lâm sàng [14] (Bảng 1.1: Phân loại các nguyên nhân của thiếu cơ. Thiếu cơ nguyên phát Thiếu cơ liên quan tới tuổi Không có nguyên nhân nào khác ngoại trừ tuổi cao Thiếu cơ thứ phát Giảm vận động Do nằm lâu, lối sống tĩnh tại, sống trong môi trường không có trọng lực Bệnh mãn tính Do sự suy yếu nặng của các cơ quan trong cơ thể (tim, phổi, gan, thận, não), viêm mạn tính, bệnh ác tính, bệnh nội tiết Dinh dưỡng Chế độ ăn hằng ngày cung cấp không đủ năng lượng hoặc protein cho cơ thể, bất thường về hấp thu chất dinh dưỡng, bệnh về hệ tiêu hóa, dùng thuốc gây chán ăn “Nguồn: Cruz-Jentoft, 2010”[14] Thiếu cơ được xem là nguyên phát (hay còn gọi là liên quan tới tuổi tác) khi không có bất cứ nguyên nhân nào khác rõ ràng ngoài vấn đề về tuổi tác, trong khi đó thiếu cơ được phân nhóm thứ phát khi có một nguyên nhân rõ ràng trở lên. Ở nhiều người, thiếu cơ thường do sự kết hợp của nhiều nguyên. 8 nhân khác nhau, do vậy một số trường hợp không thể phân định rõ ràng thiếu cơ này là nguyên phát hay thứ phát.
Giai đoạn của thiếu cơ cho thấy mức độ nặng của tình trạng này và gợi ý điều trị cho bác sĩ lâm sàng. EWGSOP đã đề nghị chia quá trình thiếu cơ làm 3 giai đoạn là: “tiền thiếu cơ”, “thiếu cơ” và “thiếu cơ nặng”. “Tiền thiếu cơ” là giai đoạn đặc trưng bởi sự giảm sút khối lượng cơ mà không làm ảnh hưởng nhiều đến sức mạnh của cơ hoặc hoạt động chức năng của cơ. Giai đoạn này chỉ có thể phát hiện được bằng cách sử dụng các công cụ đo khối lượng cơ một cách chính xác và so sánh chỉ số này với giá trị tham khảo trong dân số.
Giai đoạn “thiếu cơ” được đặc trưng bởi sự suy giảm khối lượng cơ kèm theo giảm sức mạnh của cơ hoặc giảm hoạt động chức năng của cơ. “Thiếu cơ nặng” là khi bệnh nhân thỏa cả ba tiêu chuẩn chẩn đoán thiếu cơ (giảm khối lượng cơ, giảm sức cơ và giảm hoạt động chức năng của cơ) (Bảng 1. Nhận biết được giai đoạn của thiếu cơ sẽ giúp bác sĩ lâm sàng lựa chọn điều trị phù hợp và đưa ra mục tiêu phục hồi hợp lý.2: Các giai đoạn thiếu cơ. Giai đoạn Khối lượng cơ Sức cơ Hoạt động chức năng Tiền thiếu cơ Bình thường Bình thường Thiếu cơ Hoặc Thiếu cơ nặng “Nguồn: Cruz-Jentoft, 2010” [14].
Cách xác định lượng khối cơ Có nhiều phương pháp khác nhau để xác định khối lượng cơ. Giá cả, sự tiện lợi và dễ sử dụng là những yếu tố quyết định phương pháp nào được lựa chọn trong thực hành lâm sàng và nghiên cứu.3 đưa ra những phương pháp đo khối lượng cơ được EWGSOP khuyến cáo. Công cụ chẩn đoán hình ảnh Ba công cụ chẩn doán hình ảnh được khuyến cáo sử dụng để ước tính khối lượng cơ hoặc khối lượng nạc của cơ thể là chụp cắt lớp vi tính (CT scan), chụp cộng hưởng từ (MRI) và phương pháp hấp phụ năng lượng tia X kép (DXA) [14].CT và MRI được xem là phương tiện chẩn đoán hình ảnh rất chính xác để phân biệt được khối mỡ và khối cơ với những loại mô khác trong cơ thể, điều này khiến cho CT và MRI trở thành tiêu chuẩn vàng trong việc ước tính khối lượng cơ trong các nghiên cứu. Tuy nhiên chi phí cao và phơi nhiễm với tia phóng xạ là rào cản lớn nhất đối với phương pháp này, khiến cho nó không được xem là một phương pháp tối ưu để dùng trong thực hành lâm sàng.
DXA là một phương pháp thay thế đầy hứa hẹn có thể sử dụng được cho cả thực hành lâm sàng và nghiên cứu. Nó có khả năng phân biệt được mô mỡ, mô xương và mô nạc khác trong cơ thể. Phương pháp này sử dụng lượng tia phóng xạ ít hơn nhiều so với CT. Tuy nhiên phương tiện đo DXA không dễ di chuyển đến những nơi khác nhau, làm hạn chế khả năng sử dụng của nó trong những nghiên cứu về dịch tễ trong dân số lớn.
Ngoài ra, kỹ thuật đo hấp phụ tia X năng lượng kép không thể phân biệt rõ ràng lượng mô mỡ rải rác trong cơ hoặc lượng nước được giữ trong cơ. Một hạn chế nữa của phương pháp này là nó không thể ước tính được độ ảnh hưởng của khối mỡ hoặc tổng trọng lượng của cơ thể đối với khối lượng cơ. Đa số người béo phì đều tăng khối cơ nhưng đồng thời họ cũng tăng về khối mỡ, dẫn đến tỉ lệ khối. 10 cơ trên tổng trọng lượng cơ thể sẽ thấp, ngược lại ở người gầy lại có tỉ lệ khối cơ trên tổng trọng lượng cơ thể cao hơn.
Vì vậy khi dùng chỉ số khối cơ SMI có thể dẫn đến việc phân loại nhầm, ví dụ ta sẽ gặp các trường hợp một người béo phì có chỉ số SMI cao nhưng lại giảm nặng về khả năng di chuyển và hoạt động chức năng, trong đó một người gầy có chỉ số SMI thấp lại không bị ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng rất ít về khả năng di chuyển và các hoạt động chức năng [27]. Phân tích trở kháng điện sinh học (BIA) Phương pháp này cho phép ước tính khối lượng mô mỡ và mô nạc của cơ thể. Phương pháp có giá thành không cao, dễ sử dụng, dễ dàng trang bị, có tính tin cậy, có thể dùng được cho cả bệnh nhân nằm liệt giường. Phương pháp BIA đã được nghiên cứu trong vòng hơn 10 năm, kết quả của BIA cho thấy tương quan tốt với kết quả của MRI.
Công thức tiên đoán đã được chuẩn hóa và các giá trị tham chiếu đã được xác lập cho người trưởng thành nam và nữ da trắng, kể cả ở người cao tuổi. Vì vậy, BIA có thể là một sự thay thế tốt cho DXA[14].