Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ ản về triển khai chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng triển khai chiến lược kinh doanh của Công ty TNHH Truyền hình cáp Saigontourist. Chương 3: Các kết luận và đề xuất nhằm hoàn thiện chiến lược kinh doanh cho Công ty TNHH Truyền hình cáp Saigontourist. 13 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠCH ĐỊNH VÀ TRIỂN KHAI CHI N Ƣ C KINH DOANH CỦ DO NH NGHIỆP 1.1 Các khái niệm có liên quan 1.1 Khái niệm chi l ợc Thuật ngữ chiến lược xuất phát từ lĩnh vực quân sự với ý nghĩa để chỉ ra các kế hoạch lớn và dài hạn trên cơ sở chắc chắn rằng cái gì đối phương có thể làm được, cái gì đối phương không thể làm được.
Từ đó cùng với sự phát triển của trao đổi hàng hóa, thuật ngữ chiến lược kinh doanh ra đời, theo quan điểm truyền thống chiến lược là việc xác định những mục tiêu cơ ản dài hạn của một tổ chức để từ đó đưa ra các chương trình hành động cụ thể cùng với việc sử dụng các nguồn lực một cách hợp lý nhằm để đạt được các mục tiêu đã đề ra. Theo Giáo sư lịch sử kinh tế học Alfred Chandler, Đại học Harvard (Mỹ), “Chiến lược bao gồm những mục tiêu cơ ản dài hạn của một tổ chức, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động, phân bổ nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”. Glueck: “Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp, được thiết kế đảm bảo rằng các mục tiêu cơ ản của tổ chức sẽ được thực hiện”. David 2006): “Chiến lược là những phương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn.
Chiến lược kinh doanh có thể gồm có sự phát triển về địa lý, đa dạng hóa hoạt động, sở hữu hóa, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm chi tiêu, thanh lý và liên doanh”.2 Khái niệm chi n l ợc kinh doanh Chiến lược kinh doanh là những mục tiêu, phương hướng kinh doanh trong thời gian tương đối dài thường là 5-10 năm và được thống nhất trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đảm bảo doanh nghiệp phát triển bền vững. Và là bản phác thảo các phương hướng hoạt động trong dài hạn. Nhưng khi thực tế không giống kế hoạch, doanh nghiệp phải kết hợp giữa mục tiêu định trước và mục 14 tiêu hiện tại, thay đổi các chiến lược sao cho phù hợp nhất với tình hình, điều kiện công ty ở từng thời điểm. Tuy vậy, việc thay đổi thường ít xảy ra hoặc có thì chỉ là thay đổi nhỏ.
Vì để xây dựng được chiến lược kinh doanh, doanh nghiệp đã phải có các ước chuẩn bị kĩ càng. Theo Mai Khắc Thành (2012), Chiến lược cấp kinh doanh hay cấp doanh nghiệp là những chiến lược nhằm gia tăng tối đa lợi thế cạnh tranh và lợi nhuận để công ty có đủ khả năng cạnh tranh hiệu quả trong một ngành kinh doanh đặc thù đã và đang theo đuổi. Nó bao gồm các chiến lược cạnh tranh ở cấp đơn vị doanh nghiệp (competitive business-level strategies) và các chiến lược đầu tư investment strategies) hỗ trợ khác. Theo Nguyễn Hoàng Long và Nguyễn Hoàng Việt (2015), Chiến lược cấp kinh doanh liên quan công việc làm thế nào để một doanh nghiệp hay một hoạt động kinh doanh có thể cạnh tranh thành công trên một thị trường (hoặc đoạn thị trường) cụ thể.
Chiến lược kinh doanh phải chỉ ra cách thức cạnh tranh trong các ngành kinh doanh khác nhau, xác định vị trí cạnh tranh cho các SBU. Giáo sư Micheal Porter 1980), nhấn mạnh rằng chiến lược doanh nghiệp căn bản dựa trên chi phí thấp, khác biệt hóa hoặc tập trung thị trường ngách. Các chiến lược này hiện trở nên phổ biến, là nền tảng cho chiến lược của bất kỳ doanh nghiệp nào; và được gọi là các chiến lược cạnh tranh tổng quát, có thể được áp dụng cho mọi doanh nghiệp có quy mô và lĩnh vực hoạt động khác nhau. Porter cho rằng một doanh nghiệp chỉ phải chọn một trong ba loại chiến lược trên hoặc đối diện với rủi ro lãng phí các nguồn tài nguyên quý giá của chính mình.3 Khái niệm hoạ định chi n l ợc và tri n khai chi l ợc Hoạch định chiến lược trong kinh doanh thực sự chỉ được bắt đầu nghiên cứu một cách chi tiết và cụ thể từ những năm 1950 của thế kỷ 20.
Năm 1960, Igo Ansoff đã cho xuất bản các công trình nghiên cứu của mình về chiến lược kinh doanh. Những năm 1970 vấn đề chiến lược kinh doanh đã được phát triển mạnh mẽ bởi các nghiên cứu của nhóm tư vấn Boston BCG, nhóm GE. Từ năm 1980 các công trình nghiên cứu của Micheal Porter về chiến lược kinh doanh đã thu hút sự chú ý của 15 nhiều doanh nghiệp. Từ năm 1990 đến nay, hoạch định chiến lược kinh doanh đã trở nên phổ biến trong kinh doanh hiện đại.
Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã đưa ra các định nghĩa về hoạch định chiến lược kinh doanh như sau: Theo Anthony: “ Hoạch định chiến lược là một quá trình quyết định các mục tiêu của doanh nghiệp, về những thay đổi trong các mục tiêu, về sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu, các chính sách về quản lý các thành quả hiện tại, sử dụng và sắp xếp các nguồn lực” Theo Denning: “ Hoạch định chiến lược là xác định tình thế kinh doanh trong tương lai có liên quan đặc biệt tới tình trạng sản phẩm thị trường, khả năng sinh lợi, quy mô, tốc độ đổi mới, mối quan hệ với lãnh đạo, người lao động và công việc kinh doanh” Tuy các tác giả có cách diễn đạt quan điểm của mình khác nhau, nhưng xét trên mục đích thống nhất của hoạch định chiến lược thì ý nghĩa chỉ có một. Và nó được hiểu một cách đơn giản như sau: Hoạch định chiến lược kinh doanh là việc xác định các mục tiêu của doanh nghiệp và các phương pháp được sử dụng để thực hiện các mục tiêu đó. Đó là một quá trình tư duy nhằm tạo lập chiến lược kinh doanh trên cơ sở nghiên cứu và dự áo các thông tin cơ ản về môi trường kinh doanh. Hoạch định chiến lược kinh doanh nhằm vào một thời gian dài, thông thường từ 3 hoặc 5 năm trở lên, do vậy nó phải dựa trên cơ sở dự báo dài hạn.
Hoạch định chiến lược kinh doanh cũng là giai đoạn khởi đầu của quá trình quản lý chiến lược trong doanh nghiệp đồng thời cũng là một chức năng quản trị chiến lược. Giai đoạn hoạch định chiến lược kinh doanh bao gồm việc phát triển nhiệm vụ, chức năng, xác định cơ hội và nguy cơ, chỉ r điểm mạnh yếu, thiết lập các mục tiêu chiến lược, nghiên cứu các giải pháp chiến lược và lựa chọn giải pháp chiến lược để theo đuổi. Hoạch định chiến lược không những phác thảo tương lai cho doanh nghiệp cần đạt tới mà còn phải vạch ra các con đường để đạt tới tương lai đó. Quá trình hoạch định chiến lược kinh doanh chủ yếu tập trung làm rõ mục tiêu mà doanh nghiệp cần vươn tới, đồng thời dự kiến các phương thức để đạt được các mục tiêu này.
Hoạch định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là một giai đoạn 16 không thể tách rời của quá trình quản trị chiến lược: hoạch định, thực hiện và kiểm soát chiến lược. Đây là một quá trình liên tục trong đó các giai đoạn có tác động qua lại với nhau tạo thành một chu kỳ chiến lược. Về triển khai chiến lược, theo nhóm tác giả Nguyễn Hoàng Việt và Nguyễn Hoàng Long (2015), triển khai chiến lược là quá trình thực hiện các quyết định về chiến lược mà các nhà quản trị chiến lược đã đưa ra nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp. Triển khai chiến lược bao gồm chủ yếu là quá trình tác nghiệp đòi hỏi phải phối hợp nhiều cá nhân và bộ phận với nhau.
Triển khai chiến lược phát triển thị trường là một quá trình liên tục bao gồm nhiều hoạt động liên quan đến mở rộng, phát triển thị trường như: xây dựng các mục tiêu ngắn hạn, xây dựng các chính sách, tái cấu trúc tổ chức và phân bổ nguồn lực, văn hóa doanh nghiệp và phát huy lãnh đạo cho hoạt động triển khai chiến lược.2 Một số ơ sở lý luận ó l n n n ề tài 1.1 ơ sở lý luận về các loại hình l ợ Các yếu tố cấu thành nên chiến lược kinh doanh gồm có: mục tiêu chiến lược, phạm vi chiến lược, lợi thế cạnh tranh, cuối cùng là các hoạt động chiến lược và năng lực cốt lõi và các giá trị mang lại. Về các loại hình chiến lược kinh doanh có 3 dạng cơ ản theo lý thuyết chiến lược cạnh tranh điển hình của Micheal Porter: Chiến lược chi phí thấp, chiến lược khác biệt hóa và chiến lược tập trung. Các loại hình chiến lược cấp kinh doanh bao gồm: Chiến lược dẫn đầu về chi phí: Mục đích của công ty trong việc theo đuổi sự dẫn đầu về chi phí hay chiến lược chi phí thấp là hoạt động tốt hơn có lợi thế hơi) các đối thủ cạnh tranh bằng mọi cách thức để có thể sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ ở mức thấp hơn các đối thủ. Chiến lược khác biệt hóa: Mục đích của chiến lược khác biệt hóa là đạt được lợi thế cạnh tranh bằng việc tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ được người tiêu dùng đánh giá là duy nhất theo quan điểm của họ.
Khi doanh nghiệp khác biệt hóa sản phẩm có thể thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng theo cách mà các đối thủ cạnh 17 tranh khác không thể có, doanh nghiệp có thể áp dụng mức giá cao hơn đáng kể so với mức trung bình của ngành. Khả năng tăng doanh thu bằng cách áp đặt mức giá cao cho phép doanh nghiệp khác biệt hóa hoạt động tốt hơn các đối thủ cạnh tranh của mình và nhận được lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành. Chiến lược tập trung hóa: Chiến lược tập trung hóa khác với hai chiến lược cạnh tranh trên chủ yếu vì nó định hướng thỏa mãn nhu cầu của một nhóm khách hàng hoặc một đoạn thị trường mục tiêu xác định. Công ty theo đuổi chiến lược tập trung hóa chú trọng phục vụ đoạn thị trường cụ thể.
Mỗi đoạn có thể được xác định theo tiêu thức địa lý, loại khách hàng hoặc một nhánh của dòng sản phẩm. Khi đã chọn đoạn thị trường mục tiêu, công ty có thể theo đuổi chiến lược tập trung hóa thông qua khác biệt hóa sản phẩm hoặc chi phí thấp.