CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp trên Thế giới và Việt Nam 1. Thực trạng bệnh tăng huyết áp trên Thế giới 1. Tỷ lệ tăng huyết áp chung Tăng huyết áp (THA) là một bệnh mạn tính phổ biến nhất trên thế giới và tốc độ gia tăng ngày một nhanh.
Năm 2000, thế giới có khoảng 972 triệu người mắc THA (chiếm 26,4% dân số), riêng các nước đang phát triển chiếm khoảng 639 triệu người. Dự báo đến năm 2025, sẽ có khoảng 1,56 tỷ người mắc THA (tương đương 29,2% dân số) [13]. Những Quốc gia có thu nhập cao thì tỷ lệ THA thấp và có phần ổn định hơn so với những Quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, lý do có lẽ việc được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ được dễ dàng hơn. Tăng huyết áp theo tuổi Theo WHO, ở lứa tuổi 35, thống kê được cứ 20 người thì sẽ có 1 người tăng huyết áp, ở tuổi 45 cứ 7 người thì có 1 người THA và 1/3 số người ở độ tuổi 65 bị tăng huyết áp [11], có nghĩa là những người ở độ tuổi 65 chiếm tỷ lệ mắc bệnh THA cao nhất.
Hơn nữa, tỷ lệ già hoá trong cộng đồng có xu hướng ngày càng tăng, do môi trường sống và chăm sóc sức khoẻ ngày một được cải thiện. Từ 60 tuổi trở đi, do độ cứng thành mạch tăng dần nên đa số người cao tuổi có huyết áp tâm thu tăng dần (chiếm 65%), trong khi huyết áp tâm trương giữ nguyên hoặc giảm xuống [48]. Đặc biệt, trong những năm gần đây, bệnh lý THA đang trẻ hóa với rất nhiều đối tượng đang còn trong độ tuổi lao động. Theo ước tính của WHO, THA là nguyên nhân gây tử vong 7,1 triệu người trẻ tuổi [11].
Như vậy, tỷ lệ THA đang tăng dần và ngày càng có xu hướng trẻ hóa hơn. Tăng huyết áp theo giới Nhiều kết quả nghiên cứu đều cho thấy tỷ lệ THA ở nam giới cao hơn rõ rệt so với nữ giới. Tại Bồ Đào Nha, nghiên cứu tỷ lệ hiện mắc THA trên một cộng đồng người Bồ Đào Nha năm 2010 cho thấy tỷ lệ hiện mắc THA ở nam giới là 46,7% và ở nữ giới là 42,3% [47]. Từ những kết quả nghiên cứu trên giúp ta có thể phần nào hình dung được bức tranh toàn cảnh về tình hình tăng huyết áp trên thế giới, vẫn còn đang ở mức cao và chưa được kiểm soát.
Thực trạng bệnh tăng huyết áp tại Việt Nam 1. Tỷ lệ tăng huyết áp chung Tại Việt Nam, bệnh tăng huyết áp cũng có xu hướng tăng lên rõ rệt. Theo số liệu Bộ Y tế thống kê và đưa ra, hiện tại số người mắc bệnh tăng huyết áp ở nước ta là 26,2%, tương đương khoảng 17 triệu người [3]. Theo thông báo của Bộ Y tế tại Hội nghị về công tác phòng, chống bệnh không lây nhiễm, ở Việt Nam, các bệnh không lây nhiễm đã chiếm đến 66% tổng gánh nặng bệnh tật và 73% tổng số ca tử vong hằng năm.
Có đến 60% người mắc tăng huyết áp chưa được phát hiện bệnh, chỉ có 14% bệnh nhân THA và gần 0% người có nguy cơ tim mạch được quản lý, dự phòng và dùng thuốc theo quy định, có một tỷ lệ lớn về THA được phát hiện tình cờ qua các cuộc điều tra [6], tình trạng bỏ sót chẩn đoán THA đã và đang xảy ra [33]. Cùng với sự gia tăng các yếu tố nguy cơ thì tỷ lệ người mắc bệnh được phát hiện và quản lý tại cộng đồng còn rất thấp. Tăng huyết áp theo tuổi Nghiên cứu của Đỗ Thị Phương Hà (2015) cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp ở người thừa cân béo phì tăng dần theo độ tuổi, trong đó độ tuổi từ 25 - 34 có tỷ lệ THA thấp nhất chiếm khoảng 13,8% và cao nhất nằm ở độ tuổi 55 - 64 chiếm 46,4% [38]. Kết quả nghiên cứu trên cho thấy tỷ lệ THA tăng dần theo độ tuổi, độ tuổi càng cao thì có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn và nguy cơ xuất hiện biến chứng cũng tăng theo.
Tăng huyết áp theo giới Các nghiên cứu tại Việt Nam hiện này cũng cho thấy tỷ lệ mắc THA ở nam giới trưởng thành có xu hướng cao hơn nữ giới. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thi Thơ và cộng sự (2017), THA chiếm tỷ lệ 18,97%, trong đó nam giới có nguy cơ mắc THA cao hơn nữ giới (OR: 2,77; 95%CI: 2,24 - 3,42) [29]. Như vậy, tỷ lệ mắc tăng huyết áp ở Việt Nam cũng có xu hướng tăng lên nhanh chóng và khó kiểm soát. Tỷ lệ mắc THA có sự khác nhau giữa các vùng địa lý, giữa các độ tuổi và giới tính.
THA tăng dần theo độ tuổi và nam giới có xu hướng mắc THA nhiều hơn rõ rệt so với nữ giới. Khái niệm, phân loại và cơ chế bệnh sinh của tăng huyết áp 1. Một số khái niệm về huyết áp và tăng huyết áp a. Huyết áp: Huyết áp (HA) là áp lực máu tác động lên thành động mạch, được tạo ra do sự co bóp của cơ tim và sức cản của thành động mạch.
Khi tim co bóp tống máu áp lực trong động mạch là lớn nhất gọi là huyết áp tâm thu. Thời kỳ tim giãn ra, áp lực đó ở mức thấp nhất gọi là huyết áp tâm trương [54]. Tăng huyết áp: Theo Tổ chức Y tế Thế giới và Hội Tăng huyết áp Quốc tế (WHO - ISH) định nghĩa, tăng huyết áp là khi có huyết áp tâm thu (HATT) lớn ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg [54]. Phân độ tăng huyết áp Có nhiều cách phân loại nhưng đến này, cách phân loại của WHO - ISH (2003) được sử dụng rộng rãi do tính thực tiễn và ứng dụng của nó.
Phân loại huyết áp theo WHO - ISH (2003) [49], [53] [Nguồn: Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam 2018] Khái niệm HA tâm thu HA tâm trương (mmHg) (mmHg) HA tối ưu < 120 và < 80 HA bình thường < 130 và < 85 Tiền huyết áp 130 - 139 và/hoặc 85 - 89 THA độ 1 140 - 159 và/hoặc 90 - 99 THA độ 2 160 - 179 và/hoặc 100 - 109 THA độ 3 ≥ 180 và/hoặc ≥ 110 THA tâm thu đơn độc ≥ 140 và £ 90 WHO (2003) hướng dẫn cụ thể hơn và đặc biệt quan tâm đến yếu tố nguy cơ, tổn thương cơ quan đích hay chưa trước khi đưa ra phác đồ điều trị [42]. Tại Việt Nam, theo Khuyến cáo của Hội Tim mạch học Quốc gia năm 2018 và trong hướng dẫn quản lý và điều trị tăng huyết áp của Bộ y tế năm 2010 đã đề nghị sử dụng phân độ HA theo WHO - ISH 2003 (bảng 1.1) cho những chẩn đoán, điều trị và nghiên cứu liên quan đến THA [7], [18]. Cơ chế bệnh sinh của tăng huyết áp a. Tăng huyết áp nguyên phát: THA nguyên phát chiếm đến 95% tổng số bệnh nhân (BN) tăng huyết áp, cơ chế bệnh sinh của THA nguyên phát chưa rõ ràng, người ta cho rằng một số yếu tố sau có thể gây THA nguyên phát [11]: - Tăng hoạt động hệ thần kinh giao cảm: Khi hệ thần kinh giao cảm bị tăng hoạt động sẽ làm tăng hoạt động của tim, dẫn đến tăng cung lượng tim.
Mặt khác toàn bộ hệ thống động mạch ngoại vi và động mạch thận bị co thắt, làm tăng sức cản ngoại vi dẫn đến hậu quả là tăng huyết áp động mạch. - Vai trò của hệ Renin – Angiotensin – Aldosteron (RAA): Renin là một enzyme được các tế bào cạnh cầu thận và một số tổ chức khác tiết ra khi có các yếu tố kích thích. Các tế bào cơ trơn trên thành mao động mạch tiểu cầu thận, kích thích các tế bào cạnh tiểu cầu thận tiết ra renin để điều hoà huyết áp, duy trì áp lực lọc ở tiểu cầu thận. - Vai trò của natri trong cơ chế bệnh sinh tăng huyết áp: + Theo Tubian (1954): Lượng natri và nước trong vách động mạch cao hơn rõ rệt ở những người có tăng huyết áp.
+ Theo Braunwwald (1954): Vai trò của natri trong cơ chế bệnh sinh của THA tiên phát thực hiện ở hai vị trí: Stress (tác nhân gây bệnh): ở những người ăn nhiều natri (do thói quen trong sinh hoạt ăn uống của gia đình) khả năng lọc của thận tăng, cũng tăng tái hấp thu nước, làm tăng thể tích máu. Màng tế bào có sự thẩm thấu di truyền đối với natri, canxi vào trong tế bào của cơ trơn mạch máu, dẫn đến tăng tính co mạch, tăng sức cản ngoại vi gây tăng huyết áp. - Giảm chất điều hòa huyết áp: Prostaglandin E2 và Kallikrein ở thận có chức năng sinh lý điều hòa huyết áp, hạ canxi máu, tăng canxi niệu. Khi các chất này thiếu hoặc bị ức chế gây nên tăng huyết áp.
Tăng huyết áp thứ phát: Khoảng 5% BN THA có nguyên nhân rõ ràng [9]: - THA do bệnh thận và dị dạng mạch máu thận. - Cường aldosterone và hội chứng Cushing. - U tủy thượng thận: Chiếm 1 - 2% tổng số BN tăng huyết áp thứ phát. 7 - Hẹp eo động mạch chủ: Tăng huyết áp ở phần trước chỗ hẹp và giảm ở phần sau chỗ hẹp.
- THA ở phụ nữ mang thai: Bệnh tăng huyết áp xuất hiện hoặc nặng lên khi có thai là một trong những nguyên nhân gây tử vong của người mẹ cũng như thai nhi. - Sử dụng oestrogen: Sử dụng kéo dài thuốc tránh thai sẽ gây tăng huyết áp vì oestrogen gây tăng tổng hợp tiền chất renin. Biến chứng của tăng huyết áp Tỷ lệ mắc bệnh THA đang ngày càng tăng nhanh, do vậy kéo theo tỷ lệ các biến chứng của THA cũng ngày càng gia tăng gây những ảnh hưởng xấu đến tâm lý, sức khỏe và sức lao động của người bệnh và gia đình của họ trong cộng đồng một cách rất rõ rệt. Tổn thương ở tim Suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và còn là nguyên nhân tử vong cao nhất đối với THA, cụ thể: dày thất trái gây suy tim toàn bộ, suy mạch vành gây nhồi máu cơ tim, phù phổi cấp,.THA thường xuyên sẽ làm cho thất trái to ra, về lâu dài, thất trái bị giãn, khi sức co bóp của tim bị giảm nhiều thì sẽ bị suy tim, lúc đầu suy tim trái rồi suy tim phải và trở thành suy tim toàn bộ [8].
Tổn thương ở não Tai biến mạch máu não thường gặp như là: nhũn não, xuất huyết não…có thể gây tử vong hoặc để lại các di chứng nặng nề cho người bệnh và làm ảnh hưởng đến chất lượng sống của chính bản thân người bệnh và gia đình.