Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu sơ lược về cây đậu bắp 1.1 Phân loại Cây đậu bắp có tên khoa học là Abelmoschus esculentus (L. Đậu bắp thuộc bộ Cẩm quỳ (Malvales), họ Câm quỳ (Malvaceae), phân họ Câm quỳ (Malvoideae), tông Bông bup (Hibisceae), chi Vông vang (Abelmoschus), loài Abelmoschus esculentus (L.2 Nguồn gốc cây đậu bắp Đậu bắp có nguồn gốc phát sinh ở đâu hiện vẫn đang được tranh cãi, có hai giả thuyết ngược nhau: giả thuyết thứ nhất cho rằng ở Nam Á, giả thuyết thứ hai cho rằng ở Ethiopia và Tây Phi. Người Ai Cập và người Moor trong thế kỷ 12 và 13 sử dụng tên gọi trong tiếng Ả Rập để chỉ loài cây này, chỉ ra rằng đậu bắp đến từ phía Đông. Loài thực vật này vì thế có thể đã được đem xuyên qua Hồng Hải bằng con đường qua eo biển Bab-el-mandeb dé tới bán dao A Rap.
Một trong những ghi chép sớm nhất là của Ibn Jubayr, một người Moor Tây Ban Nha, người đã tới Ai Cập vào năm 1216 và miêu tả loài cây này được dân cư địa phương gieo trồng và sử dụng các trải non trong các bữa ăn (Boswell, 1949).3 Đặc điểm thực vật học Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường (2007): Thân cây đậu bắp: Thân thảo mọc thắng đứng, nhiều lông, rỗng, cao từ 1 — 2 m, phân thành nhiều nhánh, thân màu xanh đôi khi có vệt đỏ. Thân đặc ruột và có thể trở thành thân gỗ theo tudi cây. No là một phần quan trọng của cây, hỗ trợ sự phát triên của lá và hoa. Lá cây đậu bắp: Màu xanh, hình tim hoặc xẻ chân vịt, mép có răng cưa lớn, có lông nhám.
Lá xẻ ba thùy, tùy theo giống mà xẻ thùy nông hay sâu. Lá là bộ phận quan trọng, tham gia quá trình quang hợp và tạo năng lượng cho cây. Rễ cây đậu bắp: Có một rễ chính và nhiều rễ phụ giúp cây hấp thu nước và chất dinh dưỡng từ đất, ăn sâu từ 40 - 50 em. Đồng thời bộ rễ bám chặt vào đất giúp cây đứng vững.
Hoa đậu bap: Hoa mọc ở nách lá, đường kính 4 — 8 cm, với 5 cánh hoa màu trắng hay vàng, thường có các đốm đỏ hay tía tại phần gốc mỗi cánh hoa. Đặc tính nở hoa là một nụ hoa xuất hiện ở nách lá thứ 6 hoặc thứ 8 (phụ thuộc vào giống) nụ hoa kéo dai 22 — 26 ngày từ khi xuất hiện đến khi nở, thời gian thụ phan thường từ 8 — 10 giờ sáng. Hoa chỉ nở một thời gian rất ngắn và khép lại vào buổi chiều. Trái và hạt cây đậu bắp: Trái xanh sáng, quả nang, dài 20 — 25 cm, mọc dựng đứng gồm 3 — 5 vách ngăn kết với nhau tạo thành các đường gờ dọc.
Trong trái có 10 — 20 hạt đường kính 2 — 3 mm. Cần thu hoạch trái đúng thời điểm vì khi trái già sẽ trở nên dai và không ăn được.4 Tình hình phân bố cây đậu bắp 1.1 Phân bố trên thế giới Đậu bắp được trồng ở nhiều nơi, đặc biệt là vùng nhiệt đới và một bộ phận các nước cận nhiệt đới và các vùng ôn đới âm áp trên thế giới. Theo Charrier, năm 1984 loài Abelmoschus trên thé giới bao gồm bảy loài khác nhau như A. moschatus phân bố tại An Độ, Nam Trung Quốc, Indonesia, Papua New Guinea, Uc, Trung và Tây Châu Phi.
manihot không những trồng phổ biến ở khu vực Đông Á, mà còn trong tiêu lục địa An Độ và Bắc Uc. Một số it được tìm thay ở Mỹ và nhiệt đới Châu Phi (Chevalier, 1940). tetraphyllus bao gồm hai hình thái tự nhiên được phân biệt bởi sự thích nghi ở các vùng sinh thái khác nhau. Đầu tiên, var.
fefraphyllus, đạt mức tăng trưởng thấp độ cao từ 0 đến 400 m ở các vùng với một mùa khô rõ rệt của Indonesia, Philippines, Papua New Guinea va New Ireland. Thứ hai, var. punens, moc ở độ cao từ 400 m đến 1600 m ở Philippine và Indonesia. esculentus được trồng như một loại rau ở vùng nhiệt đới và nhất là vùng cận nhiệt đới của Châu Phi như Ghana, Guinea, Bờ Biển Nga, Liberia và Nigeria.
Các loài hoang da A. tuberculatus, liên quan đến A. esculentus, là loài đặc hữu nằm ở độ cao trung bình khu vực đổi núi ở An Độ (IBPGR, 1991). ficulneus được tìm thấy trong một vùng rộng lớn khu vực trải đài từ Châu Phi sang Châu Á và Úc.
Nó xuất hiện trong khu vực nhiệt đới ở độ cao trung bình với mùa khô kéo dài, tức là vùng sa mạc Sahel Châu Phi (Lamont, 1999). Hai loài hoang đã A. angulosus duy nhất chỉ có nguồn gốc ở Châu A. Chúng được phân biệt bởi sự thích nghi ở các vùng sinh thái khác nhau.
crinitus phát triển ở độ cao trung bình trong khu vực với mùa khô rõ rệt, là Trung Quốc, An Độ, Pakistan va Philippine. angulosus phat triển ở độ cao từ 750 đến 2000 m ở Pakistan, Ấn Độ, Sri Lanka và Indonesia (Charrier, 1984).2 Phân bố ở Việt Nam Ở Việt Nam cây đậu bắp được trồng khắp cả nước từ vùng đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng, Duyên hải Nam Trung bộ cho đến các vùng núi, đặc biệt là được trồng nhiều ở các tỉnh Nam Bộ như: Vĩnh Long, Tiền Giang, Đồng Tháp, An Giang, Trà Vĩnh.2 Yêu cầu ngoại cảnh Đậu bắp chủ yếu là nhân giống bằng hạt, nó là một cây trồng hằng niên. Sự nở hoa liên tục nhưng phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh và giống. Khi gieo trồng 2 — 3 tháng thì cây bắt đầu nở hoa, trái phát triển nhanh sau khi hoa được thụ phan, trái đạt kích thước tối đa trong khoảng từ 4 — 6 ngày sau khi thụ phan (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007).1 Nhiệt độ Cây đậu bắp thích hợp ở nhiệt độ từ 25 — 30°C, trong khoảng nhiệt độ này nếu nhiệt độ càng cao thì cây sinh trưởng và phát triển càng nhanh.
Nhiệt độ cao sẽ kéo dài thời gian ra hoa và tăng số đốt cây. Đậu bắp là cây phản ứng với độ dài ngày, mức độ man cảm này tùy thuộc vào giống (Nguyễn Mạnh Chinh va Pham Anh Cuong, 2007).2 Âm độ và ánh sáng Khả năng chịu hạn của đậu bắp tương đối khá, tuy vậy vào mùa khô nên cần tưới nước. Sử dụng nguồn nước tưới sạch (nước sông, nước giếng khoan). Cần thường xuyên giữ độ âm đất 75 — 80% trong suốt quá trình thu hái trái (Minh Quân, 2004).
Trong điều kiện nước ta, mặc dù là cây ngày ngắn nhưng đậu bắp vẫn ra hoa được trong cả mùa hè (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007).3 Dat Chọn loại đất cát pha, thịt nhẹ, hoặc đất thịt trung bình, pH từ 5,5 — 6,8. Dat phải bằng phẳng, dé tưới và tiêu nước. Dat cày bừa kỹ, làm sạch cỏ trước khi gieo. Lên luống 1,4 — 1,5 m, mặt luéng rong 1,1 — 1,2 m, chiéu cao luéng 25 — 30 cm (Minh Quan, 2004).4 Dinh dưỡng Nhu cầu dinh dưỡng của cây đậu bắp bao gồm các nguyên tố: N, P, K, Ca, Mg, S, C, H, O và các nguyên tố vi lượng: Fe, Cu, Zn, Mn, Mo, Bo, Cl.
Tùy theo từng thời kì sinh trưởng khác nhau mà nhu cầu dinh dưỡng cũng khác nhau. Đậu bap đòi hỏi lượng dinh dưỡng khá cao, khoảng 20 — 30 tan phân chuồng, 100 kg N, 100 kg PzOs, 60 kg KạO (Nguyễn Mạnh Chinh và Pham Anh Cường, 2007).3 Một số loại sâu bệnh hại trên cây đậu bắp 1.1 Sâu hại Sâu đục trái (Maruca testulalis Geyer): Con trưởng thành là loại bướm nhỏ, sai cánh 20 mm, có mau trắng với nhiều đốm và van nâu rất đặc sắc trên cả 2 cánh, hoạt động vào ban đêm, ban ngày trốn ở trong lá. Bướm đẻ trứng trên hoa và trái non. Âu trùng có màu trang hoặc nâu với nhiều đốm đen trên khắp thân, ăn bông hoặc đục trái non, có thời gian phát triển khoảng 10 ngày.
Chu kỳ sinh trưởng từ 3 tuần đến 1 tháng. Bướm đẻ trứng trên chùm bông non và sâu nở ra nha tơ nhíu chùm bông lại dé ăn bên trong. Khi đậu trái thì sâu đục và ăn luồn vào bên trong trái non, thải phân ra ngoài. Bọ trĩ (Thrips palmi Karny): Trứng được đẻ dưới mô lá trong một đường rảnh được tạo bởi bọ trĩ cái.
Trứng không có màu rõ rệt và có hình như hạt đậu. Thời gian trứng nở nhanh khi nhiệt độ tăng cao. Âu trùng có hình dạng tương tự thành trùng về hình dang chỉ khác nhau là nhỏ hơn và không cánh. Au trùng ăn thành đàn doc theo gân chính và các gân phụ của lá.
Khi hoàn thành các độ tuổi của au trùng, chúng thường chui xuống đất hoặc xuống lớp lá sát dat, tại đó chúng tạo thành một hốc nhỏ làm nơi hóa nhộng. Thành trùng có màu vàng nhạt hoặc hơi trắng nhưng có nhiều lông cứng màu đen trên cơ thé. Có một lan đen chạy dai từ chỗ nối của cánh đến lưng trên cơ thé bọ tri. Cánh màng mỏng va có màu xanh nhạt.
Thành trùng có khuynh hướng chích hút phần non của cây. Tuổi thọ thành trùng từ 10 đến 30 ngày cho con cái và từ 7 đến 20 ngày cho con đực. Rầy xanh (Amrasca devastans Distant): Có hình thoi, đuôi nhọn, cánh mau xanh nhạt. Ray đẻ trứng thành tổ 2 — 10 trứng xếp liền nhau thành 1 — 2 hàng.
Ray non giống ray trưởng thành nhưng không có cánh. Ray sống tập trung ở mặt dưới lá, chích hút nhựa làm lá xoắn lại, 16m đốm vàng. Gây hại nặng sẽ làm lá nhỏ và khô cháy, hoa nhỏ, trái ít và nhỏ. Xuất hiện nhiều nhất khi thời tiết khô và nóng.2 Bệnh hại Bệnh lỡ cô rễ (Rhizoctonia solani): Bệnh chủ yếu gây hai ở phan cô rễ, phần gốc sát mặt đất.
Khi mới xuất hiện, nếu quan sát kỹ có thể thấy những vét bệnh có màu khác với vỏ cây, phần vỏ này bị rộp lên, sau đó lan dần bao quanh toàn bộ phan cổ rễ hoặc gốc cây. Dan dần phan vỏ này khô teo lại, khi gặp trời mưa hoặc độ 4m cao sẽ bị thối nhũn, bong ra, trơ lại phần lõi gỗ của cây có màu thâm đen, cây sẽ héo dan và chết. Lúc mới bị nhiễm bệnh, lá trên các cây này còn giữ được màu xanh tươi trong vài ngày (nếu trời râm mát), sau đó toàn bộ cây sẽ bị héo rũ gục xuống. Bệnh lở cổ rễ do nam Rhizoctonia solani gây ra là chủ yêu.
Các bào tử nắm này thường lây lan trong môi trường nước và xâm nhập qua các vết thương cơ giới hoặc các lỗ khí không của lá khi có điều kiện môi trường thuận tiện. Bệnh thường phá hại nhiều trong vườn ươm hoặc sau khi trồng khoảng 1 tháng tuổi, làm chết cây con.