CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Nguồn gốc và sự phân bố của cây khoai lang Sự tồn tại lâu nhất khám phátừ củ khôở Caves của Chilca Canyon thuộc Peru (Engel, 1970). Người ta tìm thấy sự hiện diện của khoai lang đầu tiên tại vùng Mayan của Trung Mỹ.
Astin (1977) đã đề nghị rằng: Nguồn gốc khoai lang được bao quanh vùng Yucatan Penisula tới miền Bắc vàsông Orinoco tới miền Nam, với 2 trung tâm có đa dạng loài, giống cao. Đó là ở Guatamala vànam Peru. Một số công trì nh khác cũng chỉ ra sự đa dạng loài khoai lang cao nhất ở Colombia, Equador vànam Peru. Như vậy, khoai Lang cónguồn gốc ở Nam Mỹ, khoai lang được khám phábởi Christophe Columbus - cuộc thám hiểm tìm ra châu Mỹ năm 1492.
Ông đã đưa nó vào Tây Ban Nha và được gọi làkhoai tây Tây Ban Nha hay khoai tây ngọt, mãi sau này mới gọi làkhoai lang. Khoai lang phổ biến rộng bằng 2 con đường: - Con đường 1: Đường Batatas: Đường này mang từ Tây Ban Nha giới thiệu vào châu Âu. Tiếp sau được truyền tới Africa (châu Phi), rồi vào Ấn Độ, phí a Tây Ấn (châu Á). - Con đường 2: Đường Kamote: Đầu tiên được mang từ gốc ở vùng Trung Mỹ tới Philippin do người Tây Ban Nha (Yen, 1982), được mang tên ở vùng này làBatata Tata Mbatata.
Sau đó tiếp tục đưa đến châu Phi (Cin Klin, 1963). Ông kết luận rằng khoai lang đưa vào châu Phi đầu tiên ở vùng bờ biển Atlantic của Trung Mỹ. Khoai lang vào Angola thế kỷ XV (tên Khoai lang = Bombl, Bambai) liên quan tới thành phố buôn bán Bombay. Người Tây Ban Nha đưa khoai lang tới châu Á, đầu tiên đưa tới Philippin vào năm 1521.
Tại đây khoai lang có tên là Camote và Batata. Khoai lang được đưa về Trung Quốc từ Philippin vàxuất hiện ở Fukien năm 1594. Con đường khác vào Trung Quốc là do người Tây Ban Nha, năm 1674 vào vùng Combatfami. Một người Anh đưa vào Nhật năm 1615.
Khoai lang được tiếp tục đưa vào Malaysia và các nước Nam Á, Đông Nam Á. Khoai lang vào Việt Nam từ Philippin. Khoai lang đưa về Châu Âu: Chỉ ở những vùng cónhiệt độ cao trong mùa hè. Ở các nước Anh, Bỉ, Pháp, HàLan khoai lang khóphát triển vìnhiệt độ thấp.
Nóphổ biến ở các vùng nhiệt đới vàNam Ấn Độ, những vùng cómùa hè. Columbus đã đưa khoai lang tới New Zealand, Hawaii vàEaster Island. Tại nước New Guinea khoai lang lànguồn lương thực vôcùng quan trọng, cómặt trong bữa ăn hàng ngày của người dân sinh sống nơi đây. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Cây khoai lang cónguồn gốc ở Nam Mỹ, nhưng nó được phát triển mạnh ở vùng nhiệt đới vànhiệt đới ẩm với điều kiện nhiệt độ ấm áp.
Ở Việt Nam, theo các tài liệu cổ như sách “Thực vật bản thảo”, “Lĩnh nam tạp kỷ” và “Quảng Đông tân ngữ” của Lê Quý Đôn, (Bùi Huy Đáp, 1984), cây khoai lang có nhiều khả năng là cây trồng nhập nội vàcó thể được đưa vào nước ta từ nước Lã Tông (đảo Luzon ngày nay) vào cuối đời Minh cai trị nước ta. Trong “Thảo mộc trang” có đoạn viết: “Cam thự (khoai lang) làcủ thuộc loài Thử Dự, rễ vàlá như rễ khoai, củ to bằng nắm tay, to nửa bằng cái bì nh, da tí a, thịt trắng, người ta luộc ăn” (Bùi Huy Đáp, 1984). Sách “Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam” (Nhà xuất bản khoa học xãHội 1987 đã ghi: “Năm 1559, khoai lang từ Philippin được đưa vào Việt Nam, trồng đầu tiên ở An Trường - thủ đô tạm thời của đời nhà Lê Trung Hưng (Hậu Lê), nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa”. Như vậy, khoai lang đã có mặt ở Việt Nam cách đây khoảng gần 460 năm.
Cây khoai lang được giới thiệu vào Việt Nam cóthể từ tỉnh Phúc Kiến - Trung Quốc hoặc đảo Luzon - Philippin vào cuối thế kỷ 16. Phân loại và đặc điểm thực vật học của cây khoai lang 1. Phân loại Khoai lang làloại cây thân thảo, sống hàng năm, thân bò hoặc bò leo, hoa lưỡng tính, quả sóc, lá đơn mọc cách, lá đều đặn vàchia thùy (khí a). Khoai lang có khoảng hơn 1.000 loài là loại thực phẩm quan trọng.
Chi Ipomoea cókhoảng 500 loài, với số nhiễm sắc thể là 15 và được phân thành 13 chi. Cây khoai lang được phân loại trong chi Balatas. Hiện nay, trong nội tộc phân chi Batatas có13 loài hoang dại cómối quan hệ với khoai lang. Cây khoai lang làdạng lục bội thể (6x) tự nhiên quen thuộc nhất trong chi Batatas nólàloại lục bội duy nhất cókhả năng tạo củ để làm lương thực, Iting vàKehr (1953) đã nghiên cứu sự phân chia giảm nhiễm ở các giống khoai lang của Mỹ đưa ra giả thuyết làkhoai lang cónguồn gốc đa bội khác nguồn.
Nóhì nh thành từ tổ hợp lai giữa một tứ bội thể với nhị bội, sau đó xảy ra quá trình phân đôi nhiễm sắc thể ở con lai bất dục. Ngược lại, một số nhànghiên cứu cho rằng khoai lang trồng làmột tứ bội cùng nguồn. Nishiyama (1971 - 1982) vàShiotani (1988) lại cho rằng khoai lang hì nh thành do sự đa bội hóa của loài lưỡng bội. Cây khoai lang được phân loại trong chi Batatas với khóa phân loại như sau: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Thực vật cóhoa (Magnolyophyta) Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Lớp: Thực vật hai lámầm (Magnolyophyta) Bộ: Cà(Solanales) Họ: Bìm bìm (Convolvulaceae) Chi: Khoai lang (Ipomoea) Loài: Ipomoea Batatas 1.
Đặc điểm thực vật học Rễ Sau khi trồng trung bình khoảng 4 - 6 ngày, đầu mùa mưa chỉ sau 3 - 5 ngày khoai lang bắt đầu mọc rễ mới. Rễ xuất hiện đầu tiên ở các đốt thân dưới sát mặt đất. Mỗi đốt cókhả năng ra 15 - 20 rễ nhưng thường chỉ có5 - 10 rễ được phân hóa thành rễ dày mới có cơ hội hì nh thành củ. Dây khoai lang khỏe, tươi và mập nhanh bén rễ hơn dây gầy, yếu.
Khoai ra rễ sớm hay muộn phụ thuộc vào phẩm chất dây giống vàthời vụ trồng. Sau một thời gian rễ phân hóa thành rễ non dày vàrễ non mảnh. Rễ non dày được tập trung nhiều dinh dưỡng và có cơ hội hình thành củ. Còn rễ non mảnh làm chức năng hút nước và dinh dưỡng nuôi cây rồi hóa giàdần trở thành rễ bất định.
Sự hình thành rễ củ phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của giống (số bómạch gỗ nhiều hay í t, chất dinh dưỡng trong dây lá) vào sự tác động của môi trường. Thân Thân khoai lang có thể làdạng bò hay đứng thẳng, nửa đứng, nửa bò. Sau khi trồng mầm trên thân cách mặt đất không sâu mọc thành dây. Trên thân khoai lang một số giống có lông tơ, sự phân bố lông tơ nhiều hay ít tùy theo giống.
Thân cónhiều loại màu sắc khác nhau: tím, xanh, đỏ,. Vídụ, khoai đỏ có đọt thân xanh, ngọn màu nâu trên thân chia làm nhiều đốt vàlóng. Trên thân các mắt đốt mọc ra rễ phụ, nên dùng thân để nhân vôtí nh. Thân chính cónhánh cấp 1, cấp 2, cấp 3,.
Nhánh cấp 1 dài bằng hay hơn thân chính, số nhánh vàchiều dài nhánh phụ thuộc yếu tố giống, vị trí đốt trên thân, kỹ thuật, thời gian bấm ngọn sau trồng và lượng phân bón. Khoai lang trồng vụ Đông Xuân thường cósố nhánh nhiều hơn trồng vụ HèThu. Lá Lákhoai lang gồm cuống lávàphiến lá(gân vàthịt lá). Lá khoai lang là lá đơn, mọc cách, mỗi mắt mọc một lá.
Lácócuống dài từ 6 - 20 cm, cólợi cho việc sử dụng ánh sáng. Sự sinh trưởng của láảnh hưởng lớn đến năng suất, cây cằn cỗi thân nhỏ, lábé, sẽ cho năng suất thấp. Lákhoai lang sống trong điều kiện ngày ngắn, đêm dài (mùa Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 đông) lá nhỏ hơn ngày dài, đêm ngắn (mùa hè). Nếu cây sinh trưởng quátốt (thân lábị lốp mạnh) sẽ ảnh hưởng xấu đến sự phân phối chất khôvề củ dẫn đến năng suất, phẩm chất củ thấp.
Vìdây tốt, lá dưới bị che khuất ánh sáng nên hiệu suất quang hợp thấp. Đối với khoai lang, hệ số diện tích lá4 - 4,5 làtốt nhất, tạo hiệu suất quang hợp cao. Năng suất củ, kể cả năng suất lácủa khoai lang cao hay thấp còn phụ thuộc vào hiện tượng thay lá. Sự thay lásớm hay muộn phụ thuộc vào giống, cường độ ánh sáng vàchế độ dinh dưỡng.
Hoa, quả, hạt Hoa khoai lang mọc ở nách láhoặc ngọn thân, hoa hì nh chuông có cuống dài. Hoa mọc thành chùm hay riêng rẽ. Tràng hoa hì nh phễu, màu hồng tím hay phớt hồng. Một hoa gồm nhị đực vànhụy cái, nhị đực thấp hơn nhụy cái, hiện tượng tự thụ phấn rất hiếm.
Quả thuộc loại quả sóc hình tròn màu nâu đen. Một quả cótừ 1 đến 4 hạt, hạt dễ bị rụng khi quả chín, không được để lâu. Hạt cóvỏ cứng, khi gieo cần xử lý. Yêu cầu sinh thái của cây khoai lang Nhiệt độ Khoai lang cónguồn gốc nhiệt đới, nên sinh trưởng tốt cần cónhiệt độ tương đối cao.
Hartner vàWhitney đã trồng giống khoai lang Yellow jersey trên đất cát vàđược giữ ở các nhiệt độ khác nhau từ 10 - 45,5°C. Tại các thang nhiệt độ khác nhau, cây khoai lang cónhững biểu hiện khác nhau. Ở nhiệt độ 10°C láchuyển màu vàng rồi cây chết. Nhiệt độ 15°C lá có màu xanh nhưng cây không lớn.
Nhiệt độ từ 20 - 30°C cây sinh trưởng nhanh vàtỷ lệ thuận với nhiệt độ tăng. Ở nhiệt độ 45°C cây ngừng sinh trưởng. Nhiệt độ đất khác nhau thìsự ra rễ của các dây hom cũng khác nhau. Ngoài ra chất lượng dây giống cũng làyếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng mọc mầm của dây khoai lang (Nguyễn Viết Hưng và cs, 2010).
Ở Việt Nam: Nhiệt độ không khítrung bình 15°C trồng khoai lang được, nhiệt độ < 10°C trồng khoai lang bị chết úa. Đối với khoai lang trồng làm rau ăn lá nhiệt độ thích hợp nhất trong khoảng 20 - 30°C. Thời kỳ đầu nhiệt độ cao, cung cấp đủ nước và dinh dưỡng cây sẽ sinh trưởng tốt, tăng trưởng nhanh về thân lá. Trong suốt thời kỳ sinh trưởng nếu nhiệt độ quácao (> 35°C) sẽ khiến cây khoai lang bị mất nước, nhiều xơ, thân lá có thể vàng úa ảnh hưởng đến năng suất vàphẩm chất của rau khoai lang.
Nước Khoai lang có thời gian sinh trưởng ngắn, nhưng khối lượng chất hữu cơ hình thành lớn, nên cần nhiều nước. Khoai lang làcây trồng sinh trưởng chủ yếu dựa vào nước tự nhiên, ngoại trừ một số vùng cóhệ thống tưới tiêu cho đất màu. Miller cho biết trong thời kỳ phát triển dây lámàthiếu nước thìxuất hiện nhiều rễ phụ (để hút nước), Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.