CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan về môi trường 1. Khái niệm, phân loại và chức năng của môi trường - Khái niệm: Theo UNESCO (1991): “Môi trường con người bao gồm toàn bộ hệ thống tự nhiên và do con người sáng tạo ra trong đó con người sống và khai thác bằng lao động của mình, những nguồn lợi tự nhiên và nhân tạo cho phép thỏa mãn nhu cầu của con người” Chương trình môi trường của UNEP định nghĩa: “Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lí, hóa học, sinh học, kinh tế, xã hội, tác động lên từng cá thể hay cộng đồng”. Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam quan niệm: "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.
[6] Khóa luận sử dụng khái niệm của Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam. Sơ đồ phân loại môi trường Phân loại: tùy theo cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu người ta đưa ra nhiều cách phân loại khác nhau, có thể kể một số cách phân loại: Phân loại theo tác nhân (môi 8 trường tự nhiên-không khí, nước, đất,…môi trường nhân tạo); Phân loại theo sinh học (môi trường vô sinh, hữu sinh); Theo sự sống (môi trường vật lí, môi trường sinh học),… Dưới góc nhìn của Địa lí học, khóa luận sử dụng cách phân loại theo các tác nhân, trong đó đi sâu vào môi trường không khí, nước và đất + Môi trường không khí là hỗn hợp các khí bao bọc quanh trái đất có nhiệm vụ duy trì và bảo vệ sự sống trên toàn bộ bề mặt trái đất. Không khí có vai trò rất quan trọng, là một yếu tố không thể thiếu đối với sự sinh tồn và phát triển của sinh vật trên trái đất. Con người có thể nhịn ăn, nhịn uống trong vài ngày nhưng không thể nhịn thở trong 5 phút.
Không khí xung quanh là không khí ngoài trời mà con người, thực vật, động vật hoặc vật liệu có thể tiếp xúc với nó. Thành phần và chất lượng không khí xung quanh bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các hoạt động hằng ngày của con người. Ngược lại, chất lượng môi trường không khí xung quanh có ảnh hưởng trực tiếp trên cả sức khỏe con người và các hệ sinh thái của trái đất. Không khí trong nhà là nguồn không khí ở bên trong 1 không gian khép kín (ví dụ văn phòng, lớp học, siêu thị, bệnh viện, nhà ở …) và được con người hít thở trong thời gian ít nhất 1 giờ.
Chất lượng không khí trong nhà có thể định nghĩa là toàn bộ các thuộc tính của không khí có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và sự thoải mái của con người.[7] + Môi trường nước được hiểu là môi trường mà những cá thể tồn tại, sinh sống và tương tác qua lại đều bị ảnh hưởng và phụ thuộc vào nước. Môi trường nước có thể bao quát trong một lưu vực rộng lớn hoặc chỉ chứa trong một giọt nước. + Môi trường đất là phần rắn, bên ngoài Trái đất. Môi trường đất còn gọi là thạch quyển bao gồm phần trên của lớp phủ và lớp vỏ, các lớp ngoài cùng cấu trúc Trái Đất.
Đất đóng vai trò quan trọng: là môi trường nuôi dưỡng các loại cây, là nơi để sinh vật sinh sống, là không gian thích hợp để con người xây dựng nhà ở và các công trình khác. - Chức năng: Môi trường có các chức năng cơ bản sau: + Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật. 9 + Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người. + Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình.
+ Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người. Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lương thực và tái tạo môi trường. Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại không gian khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới. Việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên có thể làm cho chất lượng không gian sống mất đi khả năng tự phục hồi.
Ô nhiễm môi trường - Khái niệm: Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị bẩn, đồng thời các tính chất vật lý, hóa học, sinh học của môi trường bị thay đổi gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người và các sinh vật khác + Ô nhiễm môi trường không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây mùi khó chịu, giảm thị lực khi nhìn xa do bụi. Hiện nay, ô nhiễm khí quyển là vấn đề thời sự nóng bỏng của cả thế giới chứ không phải riêng của một quốc gia nào. Tại Việt Nam, Tổng Cục Môi trường - Bộ Tài Nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định số 878/QĐ-TCMT ngày 1 tháng 7 năm 2011 về việc ban hành sổ tay tính toán AQI. Trong đó các thông số thường được sử dụng để tính AQI là các thông số được quy định trong QCVN 05:2009/BTNMT bao gồm: SO2, CO, NOx, O3, PM10, TSP.
Trong hướng dẫn này, chỉ số chất lượng không khí được áp dụng tính cho 02 loại: chỉ số chất lượng không khí theo ngày và chỉ số chất lượng không khí theo giờ. Sau khi tính toán được chỉ số chất lượng không khí, sử dụng bảng xác định giá trị AQI tương ứng với mức cảnh báo chất lượng không khí và mức độ ảnh hưởng tới sức khỏe con người để so sánh, đánh giá, cụ thể như 10 sau: 0-50: Tốt-Không ảnh hưởng đến sức khỏe; 51-100: Trung bình; 101-200: Kém; 201- 300: Xấu; Trên 300: Nguy hại. + Nước bị ô nhiễm là do sự phú dưỡng xảy ra chủ yếu ở các khu vực nước ngọt và các vùng ven biển, vùng biển khép kín. Do lượng muối khoáng và hàm lượng các chất hữu cơ quá dư thừa làm cho các quần thể sinh vật trong nước không thể đồng hóa được.
Để đánh giá chất lượng nước cũng như mức độ gây ô nhiễm nước, có thể dựa vào một số chỉ tiêu cơ bản và quy định giới hạn của từng chỉ tiêu đó tuân theo Luật Bảo vệ môi trường của một quốc gia hoặc tiêu chuẩn quốc tế quy định cho từng loại nước sử dụng cho các mục đích khác nhau. Kết hợp các yêu cầu về chất lượng nước và các chất gây ô nhiễm nước có thể đưa ra một số chỉ tiêu như sau: pH là đơn vị toán học biểu thị nồng độ ion H+ có trong nước và có thang giá trị từ 0 đến 14. pH là một trong những thông số quan trọng và được sử dụng thường xuyên nhất dùng để đánh giá mức độ ô nhiễm của nguồn nước, chất lượng nước thải, đánh giá độ cứng của nước, sự keo tụ, khả năng ăn mòn. Vì thế việc xét nghiệm pH để hoàn chỉnh chất lượng nước cho phù hợp với yêu cầu kỹ thuật cho từng khâu quản lý rất quan trọng, hơn nữa là đảm bảo được chất lượng cho người sử dụng.
Khi chỉ số pH < 7 thì nước có môi trường axít; pH > 7 thì nước có môi trường kiềm, điều này thể hiện ảnh hưởng của hoá chất khi xâm nhập vào môi trường nước. Giá trị pH thấp hay cao đều có ảnh hưởng nguy hại đến thuỷ sinh. COD (Chemical oxygen Demand - nhu cầu ôxy hoá học) là lượng ôxy cần thiết cho quá trình ôxy hoá hoàn toàn các chất hữu cơ có trong nước thành CO2 và H2O. COD là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá mức độ ô nhiễm của nước (nước thải, nước mặt, nước sinh hoạt) vì nó cho biết hàm lượng chất hữu cơ có trong nước là bao nhiêu.
Hàm lượng COD trong nước cao thì chứng tỏ nguồn nước có nhiều chất hữu cơ gây ô nhiễm. - Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả do các hoạt động của con người làm thay đổi các nhân tố sinh thái vượt qua những giới hạn sinh thái của các quần xã sống trong đất. Cách xác định mức độ ô nhiễm dựa vào tổng điểm đánh giá của 3 tiêu chí: nguồn ô nhiễm 11 tồn lưu (có điểm đánh giá là N), khả năng lan truyền của nguồn ô nhiễm (có điểm đánh giá là L) và đối tượng bị tác động (có điểm đánh giá là T). Tổng điểm đánh giá của khu vực bị ô nhiễm (ký hiệu là K) không quá 100 điểm.
K được tính bằng công thức sau: K=N+L+T - Phân loại ô nhiễm: Có rất nhiều cách phân loại (Theo nguồn gốc phát sinh, theo tác nhân, theo vị trí môi trường,…)nhưng khóa luận sử dụng cách phân loại theo nguồn gốc phát sinh, bao gồm: ô nhiễm do sản xuất (sản xuất công nghiệp, nông nghiệp), so sinh hoạt hàng ngày của con người và do giao thông vận tải. Khái niệm về sự hài lòng Hài lòng là một trạng thái cảm xúc thỏa mãn có thể được xem là trạng thái tinh thần, có thể có được từ sự thoải mái trong tình huống, cơ thể và tâm trí của một người. Nói một cách thông thường, sự hài lòng có thể là một trạng thái chấp nhận hoàn cảnh của một người.1) Theo mô hình “Kỳ vọng - Cảm nhận” của Oliver (1980) đưa ra nhằm nghiên cứu đánh giá về sự hài lòng, trong đó đề cập đến hai quá trình nhỏ tác động độc lập đến sự hài lòng. Bằng sự so sánh giữa những điều họ kỳ vọng với những điều thực tế, người dân sẽ có sự xác nhận so với kỳ vọng.
Có ba khả năng sẽ xảy ra với mô hình này: + Nếu cảm nhận thực tế hoàn toàn trùng với kỳ vọng thì kỳ vọng sẽ được xác nhận và người dân sẽ cảm thấy hài lòng. + Nếu cảm nhận thực tế lớn hơn kỳ vọng thì sự xác nhận sẽ mang tính tích cực, tức là người dân sẽ rất hài lòng. + Ngược lại, nếu cảm nhận thực tế nhỏ hơn kỳ vọng thì sự xác nhận sẽ mang tính tiêu cực, tức là người dân sẽ không hài lòng (thất vọng). 12 Ngoài ra còn có một số khái niệm về sự hài lòng như: Theo Bachelet (1995), “sự hài lòng của khách hàng là một phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng đáp lại kinh nghiệm của họ đối với một sản phẩm hay dịch vụ” [9].