Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp ngành Y Đa khoa của tác giả Nguyễn Thành Lâm được thực hiện trong bối cảnh đại dịch COVID-19 do virus SARS-CoV-2 gây ra đang diễn biến phức tạp trên quy mô toàn cầu và tại Việt Nam. Kể từ khi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công bố COVID-19 là đại dịch toàn cầu vào ngày 11/03/2020, căn bệnh truyền nhiễm này đã ghi nhận gần 500 triệu ca mắc và hơn 6 triệu trường hợp tử vong trên thế giới tính đến đầu năm 2022. Tại Việt Nam, đến tháng 05/2022 đã ghi nhận hơn 10 triệu ca nhiễm tại khắp các tỉnh, thành phố; riêng tỉnh Hưng Yên ghi nhận 240.955 trường hợp dương tính tính từ đợt dịch thứ 4.
Trường học là môi trường tập trung đông người với tần suất tiếp xúc cao giữa học sinh và giáo viên, tiềm ẩn nguy cơ bùng phát dịch bệnh nếu không có biện pháp phòng ngừa nghiêm ngặt. Để chuẩn bị cho học sinh quay trở lại học tập trực tiếp sau thời gian dài học trực tuyến tại nhà (đến cuối năm 2021 mới bắt đầu tập trung trở lại), Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Công văn số 696/BGDĐT-GDTC hướng dẫn công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19 trong trường học. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) tại Việt Nam thời điểm đó chủ yếu tập trung vào đối tượng nhân viên y tế, bệnh nhân hoặc sinh viên đại học khối ngành khoa học sức khỏe; dữ liệu trên nhóm học sinh trung học phổ thông (THPT) còn rất hạn chế. Xuất phát từ thực tế đó, nghiên cứu được triển khai nhằm giải quyết câu hỏi: mức độ hiểu biết, thái độ ứng phó và hành vi thực tế của học sinh THPT như thế nào khi tái hòa nhập học tập trực tiếp tại trường.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể thông qua 2 mục tiêu:
- Mô tả kiến thức, thái độ của học sinh trường THPT Trần Quang Khải về phòng chống dịch bệnh COVID-19 năm 2021.
- Mô tả thực hành của học sinh trường THPT Trần Quang Khải về phòng chống dịch bệnh COVID-19 năm 2021.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh từ khối 10 đến khối 12 thuộc tất cả các phân ban (Tự nhiên, Xã hội và khác) đang theo học tại Trường THPT Trần Quang Khải, tỉnh Hưng Yên, tự nguyện đồng ý tham gia điền phiếu khảo sát trực tuyến. Tiêu chuẩn loại trừ gồm học sinh không đồng ý tham gia hoặc học sinh đã thôi học tại trường.
- Phạm vi không gian: Địa bàn Trường THPT Trần Quang Khải (xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên) — khu vực ven sông Hồng có hoạt động thương mại sầm uất và tiếp giáp thủ đô Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Toàn bộ quá trình nghiên cứu thực hiện từ tháng 05/2021 đến tháng 05/2022; giai đoạn thu thập dữ liệu khảo sát trực tuyến được tiến hành từ tháng 10/2021 đến hết tháng 12/2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Nghiên cứu dựa trên các căn cứ khoa học dịch tễ học và y học dự phòng về bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng virus Corona mới (SARS-CoV-2) thuộc họ Coronaviridae, chi Betacoronavirus. Các nội dung lý thuyết nền tảng bao gồm:
- Định nghĩa đại dịch 6 giai đoạn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và bảng phân loại biến thể SARS-CoV-2 theo Nhóm liên ngành SIG của chính phủ Hoa Kỳ (gồm biến thể đang theo dõi - VBM, biến thể đáng quan tâm - VOI, biến thể đáng lo ngại - VOC như Delta, Omicron và biến thể có hậu quả nghiêm trọng - VOHC).
- Cơ chế lây truyền virus qua giọt bắn đường hô hấp ở khoảng cách gần (trong vòng 2m), lây truyền qua không khí trong không gian kín, lây truyền gián tiếp qua bề mặt ô nhiễm và dịch tiết cơ thể; các biểu hiện lâm sàng kinh điển (sốt, ho khan, khó thở) cùng các biến chứng nguy hiểm (viêm phổi cấp, hội chứng suy hô hấp cấp tính ARDS, tổn thương đa cơ quan, sốc nhiễm trùng).
- Khung hướng dẫn phòng chống dịch quốc gia: Thông điệp 5K của Bộ Y tế (Khẩu trang – Khử khuẩn – Khoảng cách – Không tụ tập – Khai báo y tế) và Công văn số 696/BGDĐT-GDTC của Bộ Giáo dục và Đào tạo về các biện pháp vệ sinh trường học, quy trình 6 bước rửa tay đúng cách và khuyến cáo sát khuẩn tại 5 thời điểm.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai:
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang (cross-sectional descriptive study).
- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện kết hợp khảo sát toàn bộ. Tổng số 765 học sinh trên tổng quy mô 800 học sinh toàn trường đã hoàn thành khảo sát (đạt tỷ lệ phản hồi 95,6%).
- Công cụ và phương thức thu thập số liệu: Sử dụng bộ câu hỏi điện tử có cấu trúc thiết kế trên nền tảng Google Forms, gửi liên kết trực tiếp về các lớp học từ tháng 10/2021 đến tháng 12/2021.
- Thang điểm và tiêu chuẩn đánh giá:
- Kiến thức: Gồm 6 câu hỏi trắc nghiệm đánh giá về tác nhân, triệu chứng, đường lây, biện pháp phòng bệnh, thông điệp 5K và 6 bước rửa tay. Mỗi câu trả lời đúng được tính 1 điểm, trả lời sai 0 điểm (thang điểm tối đa là 6). Mức độ hiểu biết được xếp loại: Tốt ($\ge 5$ điểm), Khá (3–4 điểm), Trung bình ($< 3$ điểm).
- Thực hành: Gồm 6 câu hỏi về mức độ thực hiện các hành vi phòng dịch theo thang đo 5 mức độ (Rất tốt/hàng ngày = 5 điểm; Khá tốt/khá thường xuyên = 4 điểm; Không thường xuyên = 3 điểm; Có để ý nhưng chưa thực hiện = 2 điểm; Không tốt/chưa quan tâm = 1 điểm; thang điểm tối đa là 30). Xếp loại thực hành: Tốt ($\ge 25$ điểm), Khá (20–24 điểm), Trung bình ($< 20$ điểm).
- Thái độ: Khảo sát mức độ cập nhật thông tin và mức độ đồng thuận với 6 phát biểu về tâm lý lo lắng, trách nhiệm khai báo y tế, thực hiện giãn cách và sẵn sàng tiêm chủng vaccine theo thang điểm từ Hoàn toàn không đồng ý đến Hoàn toàn đồng ý.
- Xử lý số liệu: Dữ liệu được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 26. Tác giả sử dụng các đại lượng thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm) và thống kê suy luận để kiểm định mối liên quan giữa các biến số nhân khẩu học với mức độ kiến thức, thực hành bằng kiểm định Chi-square ($\chi^2$) và kiểm định chính xác của Fisher (Fisher's exact test), xác định ý nghĩa thống kê khi giá trị $p < 0,05$.
- Đạo đức nghiên cứu: Đề tài được sự phê duyệt của Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo và Văn phòng Đoàn trường THPT Trần Quang Khải; đối tượng tham gia tự nguyện và dữ liệu được bảo mật phục vụ mục đích nghiên cứu học thuật.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm dịch tễ học và y học dự phòng về dịch bệnh và đại dịch COVID-19, lịch sử phát hiện ca bệnh đầu tiên tại Vũ Hán (Trung Quốc) vào tháng 12/2019, cấu trúc bộ gen của virus SARS-CoV-2 và phân loại các biến thể Delta, Omicron. Tác giả trình bày các biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng (xét nghiệm Real-Time PCR, hình ảnh tổn thương phổi kẽ trên phim chụp X-quang/CT), các biến chứng đa cơ quan và các phương thức lây truyền chính qua giọt bắn hô hấp và không khí.
Chương này cũng phân tích hậu quả đa diện của đại dịch tới kinh tế toàn cầu, an sinh xã hội, áp lực y tế và đặc biệt là hệ thống giáo dục Việt Nam khi hơn 21,2 triệu trẻ em phải tạm ngừng đến trường trực tiếp. Nội dung tổng quan điểm lại các biện pháp ứng phó của Việt Nam qua các giai đoạn dịch (Sơn Lôi - Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Hải Dương và đợt dịch bùng phát diện rộng lần thứ tư), làm rõ nội dung Thông điệp 5K và vai trò của truyền thông y tế. Cuối chương, tác giả tổng hợp các công trình nghiên cứu KAP tiêu biểu trên thế giới (Maria F. Alves tại Cabo Verde, Ronald Olum tại Uganda, Angelo A.T tại Ý) và tại Việt Nam (Lê Phương Thảo tại THPT Thái Bình, Vũ Thị Ánh tại Đại học Y Dược - ĐHQGHN, Phạm Thị Trang tại THCS Hà Nam), đồng thời giới thiệu tổng quan về lịch sử thành lập (năm 2001), quy mô cơ sở vật chất (14.000 m2, 27 lớp học, 800 học sinh) và đặc điểm kinh tế - xã hội của Trường THPT Trần Quang Khải tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình thiết kế và thực thi nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang. Tác giả xác lập tiêu chuẩn lựa chọn (học sinh khối 10–12 tham gia tự nguyện) và tiêu chuẩn loại trừ; mô tả phương thức chọn mẫu toàn bộ thu được 765 đối tượng. Chương này định nghĩa danh mục 16 biến số nghiên cứu bao gồm nhóm thông tin nhân khẩu học (giới tính, khối lớp, phân ban, học lực kì gần nhất), nhóm biến số kiến thức (tác nhân, triệu chứng, đường lây, biện pháp phòng chống, quy tắc 5K, 6 bước rửa tay), nhóm biến số thái độ (tần suất cập nhật tin tức, sự sẵn sàng khai báo, cách ly, tiêm chủng) và nhóm biến số thực hành (đeo khẩu trang, rửa tay bằng xà phòng, mang nước sát khuẩn cá nhân, súc họng, giữ khoảng cách 2m, tập thể dục và ăn chín uống sôi). Chương này công bố rõ bảng điểm quy ước phân cấp mức độ Kiến thức (tối đa 6 điểm) và Thực hành (tối đa 30 điểm), quy trình xử lý số liệu trên SPSS 26 và quy chuẩn đảm bảo tính bảo mật, đạo đức y sinh học.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các phát hiện định lượng thông qua 18 bảng số liệu và biểu đồ thống kê, chia thành hai phần chính tương ứng với các mục tiêu nghiên cứu:
- Thông tin nhân khẩu học: Mẫu nghiên cứu gồm 307 học sinh nam (40,1%) và 458 học sinh nữ (59,9%). Học sinh khối 10 chiếm 36,7% (281 học sinh), khối 11 chiếm 28,0% (214 học sinh), khối 12 chiếm 35,3% (270 học sinh). Phân ban Tự nhiên chiếm 55,6% (425 học sinh), phân ban Xã hội chiếm 42,9% (328 học sinh), các ban khác chiếm 1,6% (12 học sinh). Về học lực kì gần nhất, loại Giỏi chiếm 37,9% (290 học sinh), loại Khá chiếm 56,5% (432 học sinh), loại Trung bình và Yếu chiếm 5,6% (43 học sinh).
- Thực trạng kiến thức: Tỷ lệ nhận biết đúng tác nhân do virus Corona đạt 90,6% (693 học sinh); 56,9% (435 học sinh) nhận biết chính xác 3 triệu chứng điển hình (sốt, ho, khó thở), trong khi 29,0% nhầm lẫn sang triệu chứng đau họng; 93,3% (714 học sinh) nắm đúng các đường lây truyền; 94,8% (725 học sinh) nhận biết đúng các biện pháp phòng ngừa y tế khuyến cáo (tuy nhiên vẫn có 5,2% học sinh tin vào biện pháp dân gian như ăn tỏi, đốt bồ kết). Có 79,0% (604 học sinh) trả lời đúng nội dung quy tắc 5K nhưng chỉ có 39,5% (302 học sinh) sắp xếp chính xác thứ tự 6 bước rửa tay của Bộ Y tế.
- Đánh giá kiến thức chung: Tỷ lệ học sinh đạt mức hiểu biết Tốt là 55,0% (421 học sinh), mức Khá là 41,8% (320 học sinh) và mức Trung bình là 3,2% (24 học sinh). Phân tích liên quan cho thấy kiến thức có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê với giới tính ($p = 0,017$, nữ giới đạt tỷ lệ tốt 57,2% cao hơn nam giới 51,8%) và học lực ($p = 0,000$, học lực Giỏi đạt tỷ lệ tốt 62,8% so với Khá 52,5% và Trung bình/Yếu 27,9%). Khối lớp ($p = 0,591$) và phân ban ($p = 0,669$) không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
- Thực trạng thái độ: 32,0% học sinh luôn luôn cập nhật và 50,8% thường xuyên cập nhật thông tin về dịch bệnh. Thái độ phòng dịch rất tích cực: 90,2% sẵn sàng tiêm vaccine (71,2% hoàn toàn đồng ý; 19,0% đồng ý); 90,1% sẵn sàng thực hiện các biện pháp an toàn; 89,8% sẵn sàng khai báo trung thực và cách ly; 89,7% tự giác chia sẻ lịch trình di chuyển; 88,3% mong muốn chia sẻ thông tin chính xác. Tỷ lệ lo lắng khi thành viên gia đình mắc bệnh ở mức đồng ý trở lên đạt 67,0%.
- Thực trạng thực hành: Đánh giá thực hành chung ghi nhận 67,6% (517 học sinh) đạt mức Tốt, 28,0% (214 học sinh) đạt mức Khá và 4,4% (34 học sinh) ở mức Trung bình. Hành vi có tỷ lệ thực hiện tốt cao nhất là đeo khẩu trang khi ra ngoài (90,7% thực hiện hàng ngày, cộng dồn từ khá trở lên đạt 98,7%) và giữ ấm cơ thể, ăn chín uống sôi (71,4% hàng ngày, cộng dồn đạt 92,7%). Ngược lại, hành vi mang theo nước sát khuẩn tay cá nhân có tỷ lệ thấp nhất (chỉ 35,2% thực hiện hàng ngày, có 16,1% để ý nhưng chưa làm và 4,4% không quan tâm).
- Phân tích mối liên quan thực hành: Mức độ thực hành phòng dịch có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với xếp loại học lực ($p = 0,010$, học lực Giỏi đạt thực hành tốt 71,7%, Khá đạt 66,2%, Trung bình/Yếu đạt 53,5%) và mức độ hiểu biết kiến thức ($p = 0,009$, nhóm hiểu biết tốt có 76,0% thực hành tốt và 0% trung bình; nhóm hiểu biết trung bình có 37,5% thực hành mức trung bình). Yếu tố giới tính ($p = 0,143$), khối lớp ($p = 0,333$) và phân ban ($p = 0,929$) không có mối liên quan mang ý nghĩa thống kê.
Bảng tổng hợp mức độ kiến thức và thực hành phòng chống dịch bệnh của học sinh:
| Tiêu chí đánh giá |
Tốt (n / %) |
Khá (n / %) |
Trung bình (n / %) |
Giá trị p (Kiểm định thống kê) |
| Mức độ hiểu biết chung |
421 (55,0%) |
320 (41,8%) |
24 (3,2%) |
— |
| - Theo Giới tính: Nam |
159 (51,8%) |
132 (43,0%) |
16 (5,2%) |
$p = 0,017$ (Chi-square) |
| - Theo Giới tính: Nữ |
262 (57,2%) |
188 (41,0%) |
8 (1,7%) |
|
| - Theo Học lực: Giỏi |
182 (62,8%) |
108 (37,2%) |
0 (0,0%) |
$p = 0,000$ (Chi-square) |
| - Theo Học lực: Khá |
227 (52,5%) |
190 (44,0%) |
15 (3,5%) |
|
| - Theo Học lực: TB/Yếu |
12 (27,9%) |
22 (51,2%) |
9 (20,9%) |
|
| - Theo Khối lớp (10, 11, 12) |
52,3% / 57,5% / 55,9% |
43,4% / 40,2% / 41,5% |
4,3% / 2,3% / 2,6% |
$p = 0,591$ (Chi-square) |
| - Theo Phân ban (TN, XH, Khác) |
54,8% / 54,9% / 66,7% |
43,4% / 40,2% / 41,5% |
3,3% / 2,7% / 8,3% |
$p = 0,669$ (Chi-square) |
| Mức độ thực hành chung |
517 (67,6%) |
214 (28,0%) |
34 (4,4%) |
— |
| - Theo Giới tính: Nam |
195 (63,5%) |
97 (31,6%) |
15 (4,9%) |
$p = 0,143$ (Chi-square) |
| - Theo Giới tính: Nữ |
322 (70,3%) |
117 (25,5%) |
19 (4,1%) |
|
| - Theo Học lực: Giỏi |
208 (71,7%) |
78 (26,9%) |
4 (1,4%) |
$p = 0,010$ (Chi-square) |
| - Theo Học lực: Khá |
286 (66,2%) |
132 (30,6%) |
14 (3,2%) |
|
| - Theo Học lực: TB/Yếu |
23 (53,5%) |
4 (9,3%) |
16 (37,2%) |
|
| - Theo Khối lớp (10, 11, 12) |
70,8% / 65,0% / 66,3% |
26,0% / 28,5% / 29,6% |
3,2% / 6,5% / 4,1% |
$p = 0,333$ (Chi-square) |
| - Theo Phân ban (TN, XH, Khác) |
67,3% / 67,4% / 83,3% |
28,2% / 28,0% / 16,7% |
4,5% / 4,6% / 0,0% |
$p = 0,929$ (Fisher's exact) |
| - Theo Mức độ hiểu biết Tốt |
320 (76,0%) |
101 (24,0%) |
0 (0,0%) |
$p = 0,009$ (Chi-square) |
| - Theo Mức độ hiểu biết Khá |
189 (59,1%) |
106 (33,1%) |
25 (7,8%) |
|
| - Theo Mức độ hiểu biết TB |
8 (33,3%) |
7 (29,2%) |
9 (37,5%) |
|
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 tập trung biện giải các kết quả thu được bằng cách so sánh đối chiếu với các công trình nghiên cứu cùng chủ đề trong và ngoài nước:
- Bàn luận về mức độ hiểu biết chung: Tỷ lệ học sinh đạt kiến thức khá trở lên trong nghiên cứu là 96,8% (trong đó 55,0% đạt loại tốt), cao hơn kết quả của Lê Phương Thảo tại THPT Thái Bình (77,2% đạt trên 22/33 điểm), Phạm Thị Trang tại THCS Bình Nghĩa - Hà Nam (28,9% đạt điểm kiến thức chung) và Maria F. Alves tại Cabo Verde (82% trả lời đúng 9/11 câu hỏi). Tác giả giải thích sự chênh lệch này bắt nguồn từ công cụ đo lường (bộ câu hỏi ngắn gọn, trực diện), yếu tố lứa tuổi (học sinh THPT có khả năng tiếp nhận thông tin đa kênh tốt hơn học sinh THCS) và đặc biệt là thời điểm nghiên cứu (cuối năm 2021, truyền thông về dịch bệnh tại Việt Nam đã bao phủ rộng khắp).
- Về triệu chứng và ngộ nhận kiến thức: Tỷ lệ học sinh nắm vững 3 triệu chứng chính sốt, ho, khó thở (56,9%) thấp hơn đáng kể so với nhóm sinh viên y khoa trong nghiên cứu của Vũ Thị Ánh (83,77%–84,53%). Nguyên nhân là 29,0% học sinh nhầm đau họng là triệu chứng bắt buộc, do tính chất phổ biến của tổn thương đường hô hấp trên. Đáng chú ý, tác giả phân tích việc còn 5,2% học sinh chọn ăn tỏi hoặc đốt bồ kết để ngừa bệnh; tác giả khẳng định tuy tỏi chứa allicin và hợp chất lưu huỳnh có tính kháng khuẩn tự nhiên, nhưng chưa có bất kỳ cơ quan y tế nào công nhận tác dụng ngăn ngừa SARS-CoV-2.
- Về quy tắc 5K và kỹ năng rửa tay: Tỷ lệ học sinh thuộc thông điệp 5K đạt 79,0%, vượt trội so với nghiên cứu năm 2020 của Lê Phương Thảo (64,4%) và Phạm Thị Trang (10,9%), minh chứng cho hiệu quả bền bỉ của chiến dịch truyền thông quốc gia. Tuy nhiên, chỉ có 39,5% học sinh nhớ đúng thứ tự 6 bước rửa tay theo quy định Bộ Y tế (thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 52,99% của sinh viên Đại học Y Dược). Học sinh chủ yếu nhầm lẫn giữa bước 2 và bước 3 (cuốn và xoay các ngón tay so với chà mu bàn tay và kẽ ngón tay), phản ánh việc giáo dục kỹ năng y tế dự phòng trong nhà trường mới dừng ở mức nhận thức khẩu hiệu chứ chưa được rèn luyện quy trình thao tác chuẩn.
- Bàn luận về các yếu tố liên quan: Tác giả phân tích sự vượt trội về kiến thức của học sinh nữ ($p=0,017$) bắt nguồn từ sự cẩn trọng và chủ động cập nhật tin tức bảo vệ sức khỏe. Mối tương quan có ý nghĩa giữa học lực và mức độ kiến thức ($p=0,000$) cũng như mức độ thực hành ($p=0,010$) chứng minh năng lực học tập là yếu tố chi phối khả năng tiếp thu và biến nhận thức thành hành động. Cuối cùng, kết quả phân tích chỉ ra rằng mức độ hiểu biết kiến thức là nền tảng cốt lõi quyết định hành vi thực hành ($p=0,009$, nhóm hiểu biết tốt có tỷ lệ thực hành tốt đạt 76,0% và không có trường hợp nào ở mức trung bình).
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu mang lại các kết quả định lượng cụ thể trên mẫu khảo sát 765 học sinh:
- Xác lập bức tranh thực trạng nhận thức: Tỷ lệ học sinh có mức hiểu biết kiến thức chung đạt Tốt và Khá là 96,8% (55,0% Tốt, 41,8% Khá); 90,6% nắm vững căn nguyên virus Corona; 93,3% hiểu rõ đường lây; 94,8% biết các biện pháp dự phòng y tế cơ bản và 79,0% nhớ chính xác thông điệp 5K.
- Xác lập bức tranh thực trạng thái độ và hành vi: Đa số học sinh có thái độ tích cực trước dịch bệnh, trong đó 90,2% chấp nhận tiêm vaccine phòng bệnh và 89,8% sẵn sàng khai báo, cách ly y tế khi mắc bệnh. Tỷ lệ thực hành chung đạt Tốt là 67,6% và Khá là 28,0%. Tỷ lệ tuân thủ đeo khẩu trang khi ra ngoài đạt mức cao nhất (90,7% hàng ngày, 98,7% từ khá trở lên), trong khi tỷ lệ mang theo dung dịch sát khuẩn tay cá nhân thấp nhất (35,2% hàng ngày).
- Xác định các mối liên quan dịch tễ học: Đã chứng minh bằng kiểm định thống kê mối liên quan có ý nghĩa giữa kiến thức với giới tính ($p = 0,017$) và học lực ($p = 0,000$); mối liên quan có ý nghĩa giữa thực hành với học lực ($p = 0,010$) và mức độ hiểu biết kiến thức nền tảng ($p = 0,009$). Các yếu tố khối lớp và phân ban không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$).
Giải pháp và kiến nghị của tác giả:
- Đối với Nhà trường: Cần tiếp tục duy trì hoạt động tuyên truyền y tế qua nền tảng trực tuyến và các buổi sinh hoạt ngoại khóa; đính chính bằng bằng chứng khoa học các quan niệm dân gian chưa được kiểm chứng (như đốt bồ kết, ăn tỏi); tăng cường trang bị bồn rửa tay, dung dịch sát khuẩn tại các khu vực chung của lớp học.
- Đổi mới hình thức giáo dục y tế: Chuyển từ việc truyền thông thụ động sang tổ chức hướng dẫn, thao tác mẫu trực tiếp quy trình 6 bước rửa tay của Bộ Y tế để học sinh nhớ đúng trình tự kỹ thuật.
- Khuyến khích học sinh duy trì thói quen mang theo bình sát khuẩn tay cá nhân khi đi học và tham gia các hoạt động xã hội đông người.
Đóng góp khoa học tự nêu:
Khóa luận đã bổ sung nguồn dữ liệu thực chứng về kiến thức, thái độ và hành vi phòng ngừa dịch bệnh của đối tượng học sinh THPT tại vùng nông thôn/ven đô tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn bản lề chuyển giao sang trạng thái bình thường mới, lấp đầy khoảng trống nghiên cứu vốn trước đây chủ yếu tập trung vào nhân viên y tế và sinh viên đại học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được tiến hành tại một cơ sở trường học duy nhất (Trường THPT Trần Quang Khải), do đó tính khái quát hóa dữ liệu cho toàn bộ học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Hưng Yên hoặc khu vực Đồng bằng sông Hồng còn hạn chế.
- Phương thức thu thập số liệu thông qua biểu mẫu trực tuyến (Google Forms) dựa trên hình thức tự báo cáo (self-reported questionnaire), có thể phát sinh sai số do đối tượng tự điền theo hướng hành vi mong muốn xã hội hơn là hành vi thực tế diễn ra hàng ngày.
- Thang đo đánh giá kiến thức và thực hành sử dụng 6 câu hỏi rút gọn, chưa đánh giá sâu các khía cạnh bệnh sinh học hoặc các kỹ thuật khử khuẩn chuyên biệt.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi khảo sát đa trung tâm tại nhiều trường THPT ở các địa bàn đô thị, nông thôn và miền núi khác nhau với phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên để nâng cao tính đại diện.
- Kết hợp công cụ bảng hỏi với phương pháp quan sát trực tiếp hành vi thực tế tại lớp học (như kiểm tra ngẫu nhiên thao tác rửa tay, việc đeo khẩu trang đúng quy cách tại trường) để đối chứng dữ liệu tự báo cáo.
- Thực hiện các nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) nhằm đánh giá sự duy trì hành vi vệ sinh phòng dịch và các biến đổi tâm lý xã hội của học sinh sau khi dịch bệnh đã được kiểm soát hoàn toàn.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo cho:
- Giảng viên, sinh viên ngành Y Đa khoa, Y học dự phòng và Y tế công cộng trong việc tham khảo phương pháp xây dựng đề cương, thiết kế bảng câu hỏi khảo sát KAP trực tuyến và quy trình phân tích mối liên quan biến số trên phần mềm SPSS.
- Cán bộ quản lý giáo dục, Ban Giám hiệu các trường THPT và nhân viên y tế học đường trong việc nắm bắt tâm lý, lỗ hổng kiến thức thực tế của học sinh (đặc biệt là kỹ năng rửa tay và sự ngộ nhận về các phương pháp dân gian) để xây dựng chương trình y tế học đường phù hợp.
- Phần đáng tham khảo nhất: Bảng biến số nghiên cứu, bảng quy ước điểm phân loại mức độ KAP và các bảng phân tích kiểm định Chi-square/Fisher's exact test thể hiện mối tương quan chặt chẽ giữa mức độ hiểu biết với hành vi thực hành.
Câu hỏi thường gặp
Tỷ lệ học sinh trường THPT Trần Quang Khải có mức độ hiểu biết chung và thực hành chung đạt loại tốt là bao nhiêu?
Theo kết quả nghiên cứu trên 765 học sinh, tỷ lệ học sinh có mức độ hiểu biết kiến thức chung đạt loại Tốt ($\ge 5/6$ điểm) là 55,0% (421 học sinh); loại Khá là 41,8% và loại Trung bình là 3,2%. Về thực hành chung, tỷ lệ học sinh đạt mức Tốt ($\ge 25/30$ điểm) là 67,6% (517 học sinh); mức Khá là 28,0% và mức Trung bình là 4,4%.
Những yếu tố nhân khẩu học nào có mối liên quan mang ý nghĩa thống kê với kiến thức và thực hành của học sinh?
Nghiên cứu chỉ ra mức độ hiểu biết kiến thức có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với giới tính ($p = 0,017$, nữ giới đạt tỷ lệ tốt 57,2% so với nam giới 51,8%) và học lực ($p = 0,000$, học lực Giỏi đạt tỷ lệ tốt 62,8% so với Khá 52,5% và Trung bình/Yếu 27,9%). Mức độ thực hành phòng dịch có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với học lực ($p = 0,010$) và mức độ hiểu biết kiến thức ($p = 0,009$, nhóm hiểu biết tốt có 76,0% thực hành tốt). Các yếu tố khối lớp và phân ban không có mối liên quan mang ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$).
Biện pháp thực hành nào có tỷ lệ tuân thủ thấp nhất trong số các khuyến cáo y tế?
Biện pháp có mức độ thực hành thấp nhất là mang theo nước rửa tay/dung dịch sát khuẩn cá nhân khi ra ngoài, với chỉ 35,2% học sinh duy trì thực hiện hàng ngày (mức rất tốt), trong khi có tới 16,1% học sinh có để ý nhưng chưa thực hiện và 4,4% chưa quan tâm.
Tỷ lệ trả lời đúng giữa quy tắc 5K và 6 bước rửa tay có sự chênh lệch như thế nào?
Có sự chênh lệch lớn giữa nhận thức khẩu hiệu và kỹ năng thao tác chuẩn: trong khi có tới 79,0% (604 học sinh) trả lời đúng về nội dung quy tắc 5K của Bộ Y tế, thì chỉ có 39,5% (302 học sinh) sắp xếp đúng thứ tự 6 bước rửa tay theo quy định (đa số nhầm lẫn giữa bước 2 cuốn các ngón tay và bước 3 chà kẽ ngón tay).
Văn bản đã ghi nhận nhận thức sai lầm dân gian nào về phòng bệnh mà một bộ phận học sinh vẫn mắc phải?
Nghiên cứu ghi nhận có khoảng 5,2% số học sinh tham gia khảo sát tin rằng các biện pháp dân gian như ăn tỏi hoặc đốt quả bồ kết trong nhà có tác dụng phòng ngừa virus SARS-CoV-2. Tác giả đã phân tích và khuyến nghị nhà trường cần đính chính vì các phương pháp này hoàn toàn chưa được cơ quan y tế nào công nhận tác dụng ngăn ngừa lây nhiễm COVID-19.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thành Lâm đã mô tả bức tranh thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống dịch COVID-19 của 765 học sinh Trường THPT Trần Quang Khải, tỉnh Hưng Yên thông qua phương pháp mô tả cắt ngang. Kết quả cho thấy đại đa số học sinh có nhận thức tốt về dịch bệnh (96,8% đạt loại khá trở lên), thái độ phòng ngừa rất tích cực (trên 90% ủng hộ tiêm chủng và sẵn sàng cách ly) và tỷ lệ thực hành tốt đạt 67,6%. Nghiên cứu đã chứng minh bằng thống kê vai trò then chốt của học lực và mức độ hiểu biết kiến thức nền tảng trong việc định hình hành vi thực hành phòng dịch an toàn của học sinh. Các số liệu thực chứng này là căn cứ thực tiễn quan trọng giúp các cơ sở giáo dục phổ thông điều chỉnh hoạt động truyền thông và rèn luyện kỹ năng y tế học đường khi đón học sinh quay trở lại học tập tập trung.