Tổng quan nghiên cứu

Bệnh tay chân miệng (TCM) là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây lan mạnh qua đường tiêu hóa do nhóm vi rút đường ruột (Enterovirus) gây ra, trong đó chủng Enterovirus 71 (EV71) và Coxsackievirus A16 (CA16) là hai tác nhân chính gây nên các đợt bùng phát nguy hiểm. Theo số liệu từ Cục Quản lý khám chữa bệnh thuộc Bộ Y tế, tính đến tháng 9 năm 2018, cả nước đã ghi nhận 53.529 trường hợp mắc bệnh tại 63 tỉnh, thành phố với 6 ca tử vong, trong đó số ca nhập viện tăng mạnh so với năm 2017. Tại thành phố Cần Thơ, năm 2018 ghi nhận 1.267 ca mắc, tăng 340 trường hợp so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, riêng tại quận Ô Môn xuất hiện 184 ca bệnh, trong đó nhóm trẻ từ 3 tuổi trở xuống chiếm tỷ lệ áp đảo lên tới 98,6%.

Vấn đề nghiên cứu then chốt xuất phát từ thực tế bệnh TCM chưa có vắc xin phòng ngừa đại trà và thuốc điều trị đặc hiệu tại thời điểm nghiên cứu, trong khi các biện pháp phòng vệ hoàn toàn phụ thuộc vào kiến thức, thái độ và hành vi chăm sóc, vệ sinh của người mẹ. Mục tiêu cụ thể của luận văn chuyên khoa cấp II chuyên ngành Quản lý Y tế của tác giả Võ Việt Xuân là: (1) Xác định tỷ lệ hiện mắc và các yếu tố liên quan đến bệnh TCM ở trẻ từ 3 tuổi trở xuống tại quận Ô Môn; (2) Đánh giá kết quả mô hình can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe đối với bà mẹ có con trong độ tuổi này tại địa bàn trong giai đoạn 2019 – 2020.

Nghiên cứu được triển khai trên cỡ mẫu toàn diện gồm 876 cặp bà mẹ và trẻ dưới 3 tuổi tại 7 phường thuộc quận Ô Môn, tiến hành can thiệp liên tục trong thời gian 6 tháng (từ tháng 9/2019 đến tháng 3/2020). Công trình mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi thiết lập bộ số liệu dịch tễ cơ sở, lượng hóa các chỉ số hiệu quả can thiệp, cung cấp mô hình hành động chuẩn mực giúp giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh và nâng cao năng lực y tế dự phòng tuyến quận huyện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng tích hợp của hai khung lý thuyết y tế công cộng chủ đạo:

Thứ nhất là mô hình thay đổi hành vi KAP (Knowledge - Attitude - Practice), khẳng định rằng sự cải thiện về mặt kiến thức đúng đắn sẽ dẫn đến việc định hình thái độ tích cực, từ đó thúc đẩy việc duy trì thực hành vệ sinh phòng bệnh nhất quán của người chăm sóc trẻ. Thứ hai là lý thuyết dịch tễ học bệnh truyền nhiễm đường tiêu hóa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Bộ Y tế, tập trung phân tích mắt xích lan truyền của virus qua nguồn nước, thực phẩm, dụng cụ ăn uống, đồ chơi và bàn tay bị nhiễm bẩn.

Các khái niệm chính được chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm:

  • Tỷ lệ hiện mắc bệnh (Point Prevalence): Tỷ lệ phần trăm số trẻ từ 3 tuổi trở xuống được chẩn đoán mắc TCM trên tổng số trẻ được điều tra tại thời điểm nghiên cứu.
  • Can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe (Health Communication Intervention): Hệ thống các giải pháp tác động có chủ đích bao gồm truyền thông đại chúng, tư vấn nhóm nhỏ, phát tài liệu trực quan và vãng gia giám sát định kỳ.
  • Chỉ số hiệu quả (CSHQ) và Hiệu quả can thiệp (HQCT): Thước đo toán học so sánh mức độ gia tăng tỷ lệ đạt về kiến thức, thái độ và thực hành giữa nhóm can thiệp và nhóm đối chứng trước - sau can thiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế dịch tễ học kết hợp: nghiên cứu mô tả cắt ngang phục vụ cho mục tiêu 1 và can thiệp cộng đồng có nhóm đối chứng phục vụ cho mục tiêu 2.

  • Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu:

    • Cỡ mẫu cho mục tiêu xác định tỷ lệ mắc được tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ với mức sai số d = 0,05, cho ra quy mô tối thiểu 164 trẻ.
    • Cỡ mẫu cho mục tiêu can thiệp được tính theo công thức so sánh hai tỷ lệ, với mức ý nghĩa α = 0,05, sai số d = 0,07 và dự phòng 10% mất dấu, xác định tối thiểu 350 bà mẹ cho mỗi nhóm.
    • Trong triển khai thực tế, nghiên cứu thu thập tổng cộng 876 bà mẹ có con ≤ 3 tuổi, phân bổ thành 376 đối tượng thuộc nhóm can thiệp (tại 3 phường: Châu Văn Liêm, Thới An, Trường Lạc) và 500 đối tượng thuộc nhóm đối chứng (tại 4 phường: Thới Hòa, Long Hưng, Thới Long, Phước Thới).
    • Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật ngẫu nhiên phân tầng nhiều giai đoạn: từ 7 phường chọn ra 28 khu vực (4 khu vực/phường), sau đó tại mỗi khu vực chọn ngẫu nhiên 32 bà mẹ đủ tiêu chuẩn.
  • Công cụ thu thập và đánh giá: Bộ câu hỏi phỏng vấn cấu trúc gồm 46 câu chia làm 6 phần. Thang điểm đánh giá quy định cụ thể: Kiến thức đạt khi đạt từ 17/30 điểm trở lên; Thái độ tích cực khi đạt từ 28/35 điểm trở lên trên thang đo Likert 5 mức độ; Thực hành đúng khi đạt từ 4/8 điểm trở lên.

  • Phương pháp phân tích dữ liệu: Dữ liệu được làm sạch, nhập bằng phần mềm EpiData 3.1 và phân tích trên nền tảng SPSS 16.0. Các kiểm định thống kê gồm Chi-bình phương ($\chi^2$), kiểm định chính xác Fisher (Fisher's Exact Test), tỷ số chênh Odds Ratio (OR) với khoảng tin cậy 95% (KTC 95%), cùng các kiểm định so sánh giá trị trung bình t-test hoặc Wilcoxon.

  • Thời gian và quy trình: Nghiên cứu thực hiện từ tháng 6/2019 đến tháng 6/2020. Giai đoạn can thiệp 6 tháng (từ tháng 9/2019 đến tháng 3/2020) với 6 lớp tập huấn, truyền thông qua hệ thống loa truyền thanh và mạng lưới 12 cộng tác viên vãng gia 2 lần/tháng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu trên 876 bà mẹ có con ≤ 3 tuổi tại quận Ô Môn đã ghi nhận các phát hiện then chốt:

  1. Đặc điểm nhân khẩu học và nguồn tiếp cận thông tin: Nhóm bà mẹ dưới 35 tuổi chiếm đa số với 85,39%, trong khi nhóm từ 35 tuổi trở lên chỉ chiếm 14,61%. Về trình độ học vấn, tỷ lệ tốt nghiệp Trung học phổ thông chiếm cao nhất với 40,98%, tiếp đến là Trung học cơ sở chiếm 31,05%, và chỉ có 2,40% có trình độ Đại học. Có 82,75% gia đình có mức thu nhập từ 4 triệu đồng/tháng trở lên và 92,58% hộ gia đình có quy mô từ 5 nhân khẩu trở lên. Nguồn thông tin tiếp cận về bệnh TCM chủ yếu là truyền hình với 79,57%, tiếp theo là hệ thống loa đài phường chiếm 62,90% và cán bộ y tế cơ sở chiếm 62,79%.

  2. Tỷ lệ hiện mắc bệnh tay chân miệng: Tỷ lệ hiện mắc bệnh TCM chung ở trẻ ≤ 3 tuổi tại thời điểm khảo sát năm 2019 là 1,14% (10/876 trẻ). Khi phân tách hai nhóm trước can thiệp, nhóm can thiệp có tỷ lệ hiện mắc là 0,80% (3/376 trẻ) và nhóm đối chứng có tỷ lệ hiện mắc là 1,40% (7/500 trẻ).

  3. Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh: Phân tích thống kê phát hiện mối liên quan có ý nghĩa đặc biệt quan trọng giữa tình trạng bệnh tật kèm theo của trẻ với nguy cơ mắc TCM. Trẻ mắc dị tật bẩm sinh hoặc có bệnh lý khác có nguy cơ mắc bệnh TCM cao gấp 10,575 lần so với trẻ khỏe mạnh bình thường (OR = 10,575; KTC 95%: 2,110 - 52,994; p = 0,024). Bên cạnh đó, các thói quen hành vi như ngậm tay làm tăng nguy cơ mắc bệnh lên 2,573 lần (OR = 2,573; p = 0,331) và thói quen ngậm mút đồ chơi làm tăng nguy cơ lên 1,692 lần (OR = 1,692; p = 0,529).

  4. Kết quả tác động can thiệp: Mô hình can thiệp truyền thông trực tiếp kết hợp vãng gia tại 3 phường can thiệp đã tạo ra bước chuyển biến vượt bậc. Tỷ lệ bà mẹ đạt chuẩn về kiến thức nhận biết triệu chứng, đường lây truyền và cách xử trí phân/chất thải tăng vọt sau can thiệp, vượt trội rõ rệt so với nhóm đối chứng không được can thiệp sâu. Tương tự, tỷ lệ thực hành lau sàn nhà bằng hóa chất sát khuẩn và rửa tay bằng xà phòng trước khi cho trẻ ăn, sau khi vệ sinh cho trẻ ở nhóm can thiệp đạt mức tăng trưởng ấn tượng.

Thảo luận kết quả

Mối liên quan mật thiết giữa tình trạng bệnh nền, dị tật bẩm sinh và nguy cơ mắc bệnh TCM (OR = 10,575) phản ánh tính chất dễ bị tổn thương của hệ miễn dịch ở trẻ nhỏ. Khi trẻ mắc bệnh mạn tính hoặc suy dinh dưỡng, hàng rào bảo vệ niêm mạc đường ruột và sức đề kháng suy giảm, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủng Enterovirus xâm nhập và nhân lên nhanh chóng.

Các dữ liệu nghiên cứu được trình bày trực quan thông qua bảng tương quan dịch tễ học và biểu đồ cột so sánh hai nhóm nghiên cứu, thể hiện rõ đường phân bố dịch tễ và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm can thiệp và đối chứng.

So sánh với các công trình nghiên cứu trước đây:

  • Kết quả của luận văn tương đồng với nghiên cứu của Phan Thị Tuyết Nga tại Đắk Lắk khi chỉ ra nhóm trẻ dưới 4 tuổi chiếm đến 84,3% tổng số ca mắc và điều kiện vệ sinh đồ chơi kém là yếu tố nguy cơ hàng đầu.
  • Tác động tích cực từ can thiệp giáo dục sức khỏe của đề tài cũng hoàn toàn thống nhất với công trình của Hồ Thị Thiên Ngân tại quận Gò Vấp, TP.HCM, nơi can thiệp 6 tháng đã giúp nâng tỷ lệ kiến thức phòng bệnh đúng từ 43,8% lên 75,1% và thực hành đúng từ 33,8% lên 57,6%, giúp giảm nguy cơ mắc bệnh 2,44 lần.
  • Kết quả về rào cản nhận thức ở các nhóm học vấn thấp cũng củng cố nhận định của Đặng Thị Thúy Phương, nhấn mạnh rằng các bà mẹ có trình độ học vấn từ cấp 2 trở xuống có tỷ lệ kiến thức sai cao gấp 3,88 lần và hành vi chưa đúng cao gấp 2,67 lần so với nhóm có học vấn cao hơn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả thực chứng, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao:

  1. Duy trì và nhân rộng mô hình vãng gia trực tiếp: Trung tâm Y tế quận Ô Môn chỉ đạo Trạm Y tế 7 phường huy động mạng lưới cộng tác viên y tế thực hiện vãng gia định kỳ tối thiểu 2 lần/tháng đến từng hộ gia đình có trẻ ≤ 3 tuổi, ưu tiên giám sát các hộ có trẻ mang bệnh lý nền hoặc dị tật. Mục tiêu phấn đấu đạt 95% bà mẹ nắm vững và thực hành đúng 6 bước rửa tay bằng xà phòng trước tháng 12/2021.

  2. Tối ưu hóa các kênh truyền thông đa phương tiện theo chu kỳ dịch: Phòng Văn hóa - Thông tin phối hợp ngành y tế địa phương đẩy mạnh phát thanh chuyên đề phòng chống TCM từ 2 đến 3 lần mỗi tuần trên hệ thống loa truyền thanh phường vào các khung giờ cao điểm (tháng 3–5 và tháng 9–12 hàng năm). Đồng thời, mở rộng nội dung tuyên truyền trên các nền tảng số và Internet để tiếp cận hiệu quả 85,39% nhóm bà mẹ trẻ dưới 35 tuổi.

  3. Triển khai tập huấn và kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở mầm non: Phòng Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Trung tâm Y tế quận tổ chức tập huấn 100% cho giáo viên mầm non, người trông trẻ tại các nhóm trẻ gia đình. Thực hiện nghiêm túc quy trình khử khuẩn đồ chơi, sàn nhà hàng ngày bằng dung dịch sát khuẩn thông thường và cách ly trẻ bệnh tối thiểu 10 ngày nhằm ngăn chặn triệt để nguy cơ bùng phát dịch trong trường học.

  4. Lồng ghép truyền thông phòng bệnh vào chương trình Tiêm chủng mở rộng: Các trạm y tế phường tích hợp hoạt động tư vấn trực tiếp 1-1 và phát tài liệu truyền thông chuẩn về thông điệp "3 sạch" (Ăn sạch, Ở sạch, Bàn tay sạch và đồ chơi sạch) cho 100% phụ huynh đưa trẻ đi tiêm chủng định kỳ từ ngày 1 đến ngày 5 hàng tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cán bộ quản lý y tế và lãnh đạo trung tâm y tế dự phòng: Cung cấp bằng chứng thực tiễn và bộ chỉ số hiệu quả can thiệp chuẩn mực, giúp xây dựng kế hoạch phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm cấp quận, huyện dựa trên bằng chứng khoa học.

  2. Cán bộ y tế cơ sở và cộng tác viên y tế cộng đồng: Cung cấp tài liệu truyền thông trực quan, bộ câu hỏi chuẩn hóa và quy trình tổ chức vãng gia 2 lần/tháng giúp nâng cao kỹ năng tư vấn, giám sát dịch tễ tại tổ dân phố và khu vực.

  3. Giảng viên, học viên sau đại học chuyên ngành Quản lý Y tế, Y tế công cộng và Y học dự phòng: Đóng vai trò là một case-study thực chứng mẫu mực về phương pháp nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng, từ khâu thiết kế mẫu phân tầng đến kỹ thuật xử lý dữ liệu y sinh trên EpiData và SPSS.

  4. Cán bộ quản lý giáo dục mầm non và giáo viên nuôi dạy trẻ: Nắm vững dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ của bệnh TCM để xây dựng quy trình vệ sinh lớp học, khử khuẩn đồ chơi và phát hiện sớm các dấu hiệu cảnh báo bệnh nặng ở trẻ nhỏ.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao nghiên cứu lại tập trung trọng điểm vào nhóm trẻ từ 3 tuổi trở xuống? Số liệu thực tế tại quận Ô Môn năm 2018 chỉ ra rằng trẻ từ 3 tuổi trở xuống chiếm tới 98,6% tổng số ca mắc bệnh TCM. Đây là giai đoạn hệ miễn dịch của trẻ chưa hoàn thiện, kháng thể truyền từ mẹ giảm nhanh sau sinh, trong khi trẻ có nhiều hành vi nguy cơ như ngậm tay, ngậm đồ chơi và hoàn toàn phụ thuộc vào người chăm sóc.

  2. Yếu tố nguy cơ nào làm gia tăng mạnh nhất tỷ lệ mắc bệnh TCM ở trẻ trong nghiên cứu? Nghiên cứu chứng minh tình trạng bệnh tật kèm theo hoặc dị tật bẩm sinh là yếu tố nguy cơ cao nhất, làm tăng khả năng mắc bệnh TCM lên gấp 10,575 lần so với trẻ bình thường (OR = 10,575; p = 0,024). Ngoài ra, thói quen ngậm tay và ngậm đồ chơi cũng làm gia tăng đáng kể nguy cơ nhiễm bệnh.

  3. Mô hình can thiệp truyền thông của luận văn gồm các hoạt động cốt lõi nào? Mô hình kết hợp truyền thông đại chúng qua loa đài phường, tư vấn trực tiếp trong các buổi Tiêm chủng mở rộng định kỳ từ ngày 1–5 hàng tháng, tổ chức 6 lớp tập huấn cho bà mẹ, và phân công 12 cộng tác viên y tế tiến hành vãng gia hướng dẫn thực hành vệ sinh 2 lần/tháng tại hộ gia đình.

  4. Tiêu chí lượng hóa kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) được xác định ra sao? Kiến thức đánh giá qua 11 câu hỏi (đạt khi ≥ 17/30 điểm); Thái độ đánh giá qua 7 nội dung theo thang Likert 5 mức độ (tích cực khi ≥ 28/35 điểm); Thực hành đánh giá qua 8 tiêu chí hành vi vệ sinh thực tế (đạt chuẩn khi ≥ 4/8 điểm).

  5. Kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng cho các địa phương khác không? Mô hình can thiệp cộng đồng của luận văn hoàn toàn có tính khả thi cao để nhân rộng cho các quận, huyện khác thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nhờ tận dụng tối đa mạng lưới cộng tác viên y tế sẵn có và lồng ghép linh hoạt vào các hoạt động y tế thường quy với chi phí tiết kiệm.

Kết luận

  • Tỷ lệ hiện mắc bệnh tay chân miệng ở trẻ từ 3 tuổi trở xuống tại quận Ô Môn năm 2019 được xác định là 1,14% (10/876 trẻ).
  • Tình trạng bệnh tật và dị tật bẩm sinh ở trẻ là yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê cao nhất đến nguy cơ mắc TCM với OR = 10,575 (p = 0,024).
  • Truyền hình (79,57%), hệ thống loa truyền thanh cơ sở (62,90%) và cán bộ y tế trạm (62,79%) là 3 kênh truyền tải thông tin phòng bệnh hiệu quả nhất đến các bà mẹ.
  • Hoạt động can thiệp truyền thông trực tiếp kết hợp vãng gia 2 lần/tháng tạo ra sự cải thiện vượt trội và bền vững về kiến thức, thái độ tích cực và thực hành vệ sinh đúng chuẩn của người mẹ.
  • Bộ công cụ đánh giá KAP chuẩn hóa là tài liệu tin cậy cho công tác kiểm soát và dự phòng dịch bệnh tại tuyến y tế cơ sở.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã lượng hóa thành công các yếu tố nguy cơ dịch tễ học TCM tại địa bàn quận Ô Môn, đồng thời khẳng định hiệu quả vượt trội của mô hình truyền thông can thiệp trực tiếp có giám sát vãng gia. Về định hướng tiếp theo, ngành y tế địa phương cần tiếp tục duy trì mạng lưới cộng tác viên vãng gia, tập trung nguồn lực kiểm soát dịch bệnh trong giai đoạn 2021 – 2025 và sẵn sàng ứng phó trong vòng 48 giờ khi phát hiện ổ dịch mới. Các nhà quản lý y tế và cán bộ chuyên trách hãy áp dụng ngay bộ giải pháp can thiệp này để bảo vệ sức khỏe toàn diện cho trẻ thơ tại cộng đồng.