CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Trong quá trình thực hiện tổng quan nghiên cứu, chúng tôi đã tiếp cận với những tài liệu trong nước và quốc tế. Đó là các báo cáo nghiên cứu, các luận văn, luận án, báo cáo của các cơ quan quốc tế tại Việt Nam như Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA), Ngân hàng Thế giới (WB), Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP, các báo cáo chung tổng quan ngành y tế hàng năm (JAHR), các báo cáo của Tổng cục thống kê về dân số và lao động,… Ngoài ra chúng tôi cũng nghiên cứu các qui định và điều luật có liên quan đến KCB và tiếp cận DVYT như Luật Khám chữa bệnh, Luật BHYT, Luật cư trú. Mục đích của tổng quan là tập hợp và phân tích kết quả nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến người di cư/nhập cư, có liên quan đến tình hình sức khỏe, tiếp cận và sử dụng DVYT tại nơi cư trú mới của người nhập cư từ nông thôn vào thành phố. Từ đó nghiên cứu chỉ ra các vấn đề về tiếp cận nghiên cứu, quá trình vận dụng lý thuyết trong nghiên cứu cũng như những mảng trống trong thực tiễn tiếp cận và sử dụng DVYT của người nhập cư cũng như bất cập trong quá trình thực hiện chính sách.
Nội dung cụ thể của tổng quan gồm 3 phần: 1) Tình hình người nhập cư từ nông thôn vào thành phố; 2) Đời sống của người nhập cư ở thành phố; 3) Tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của người nhập cư từ nông thôn vào thành phố. Quá trình tổng quan tài liệu đã cho thấy những mảng trống về các nghiên cứu liên quan đến sức khỏe và tiếp cận dịch vụ y tế của người nhập cư vào khu vực đô thị. Từ đó tác giả có những ý tưởng sâu hơn trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, nêu lên hướng đi của đề tài nhằm bổ sung, lấp đầy khoảng trống mà các nghiên cứu đi trước để lại, làm sáng tỏ thêm các luận cứ được nêu 19 trong phần giả thuyết nghiên cứu, cung cấp tri thức mới cho lĩnh vực nghiên cứu chuyên ngành cũng như cung cấp nhận thức mới về thực tiễn vấn đề nghiên cứu. Tình hình người nhập cư từ nông thôn vào thành phố.
Xu hướng di dân giữa các vùng đang có những thay đổi lớn trong những năm gần đây. Tình trạng di dân nông thôn – nông thôn là chủ yếu đang được thay thế dần bằng xu hướng di dân từ nông thôn vào thành phố (di dân nông thôn – đô thị). Dòng di dân từ nông thôn đến nông thôn trước đây được thực hiện theo các chính sách chuyển cư nhằm xây dựng vùng kinh tế mới của Chính phủ (trong khoảng những năm 1950-1980 của thế kỉ trước). Từ khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, mở cửa (1986), các khu vực đô thị có tốc độ phát triển mạnh và tạo ra nhiều công ăn việc làm đã thu hút được dòng người từ nông thôn vào thành phố làm ăn.
Khác với dòng di cư nông thôn – nông thôn trước đây được Nhà nước khuyến khích và chỉ đạo, dòng di cư nông thôn – đô thị thường là mang tính tự do và là quyết định của cá nhân và gia đình dưới tác động của cơ chế thị trường. Theo dự báo của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ di dân từ nông thôn đến thành thị trên tổng số dân thành thị sẽ tăng từ 8,9% năm 2009 lên 11% vào năm 2019. Trong khi đó tỷ lệ di cư từ thành thị tới thành thị trên tổng số dân thành thị sẽ giảm từ 7,6% năm 2009 xuống 6,7% năm 2019 (Tổng cục Thống kê, 2010). Dòng di cư nông thôn – đô thị chủ yếu đổ về các thành phố lớn và các tỉnh có các khu công nghiệp lớn.
Hà Nội là trung tâm chính trị - hành chính, kinh tế, văn hóa, khoa học giáo dục và là đầu mối giao dịch quan trọng trong nước và quốc tế. Chính những điều kiện thuận lợi này đã thu hút một lượng lớn người di cư đến để tìm kiếm việc làm, tăng thu nhập và tìm kiếm cơ hội sống tốt hơn. Tuy vậy, việc tiếp cận 20 và sử dụng các dịch vụ xã hội cơ bản không phải là điều dễ dàng cho nhóm dân số này trong bối cảnh hiện nay. Nguyên nhân di cư Từ năm 1986, số người di cư từ các vùng nông thôn và các đô thị nhỏ về Hà Nội có xu hướng tăng mạnh.
Trong 10 năm từ 1999-2009, dân số Hà Nội tăng thêm 1.688 người (bình quân 120. Dân số tăng do nhập cư đến Hà Nội chiếm từ 30 – 39%1. Dân số tăng do nhập cư khu vực nội thành Hà Nội chiếm khoảng 70 – 80% so với tổng số dân nhập cư vào toàn thành phố. Nguyên nhân chủ yếu của di dân là vì mục đích kinh tế chiếm 63%, tỷ lệ di cư không thời vụ là 42% và 90% do di cư theo thời vụ.
Người di cư chủ yếu từ các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng, miền núi phía Bắc và một số tỉnh ở Bắc Trung Bộ (Patrick Gubry và cộng sự, 2004, tr. Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra có đến 80% những người di cư di chuyển từ nông thôn đến thành thị vì mục đích kinh tế (Lê Bạch Dương và Nguyễn Thanh Liêm, 2011). Thông qua Điều tra di cư 2015, Tổng cục Thống kê đã đưa ra một bức tranh khá rõ nét về việc làm và đời sống của người di cư. Xét về lý do di cư, kết quả điều tra cho thấy cơ hội việc làm và thu nhập là hai yếu tố có sức hút chính đối với quyết định di cư.
Trong tổng số đối tượng di cư của khảo sát có gần 90% có việc làm và một nửa trong số đó làm các công việc giản đơn tại khu vực phi chính thức. Một nghiên cứu khác do Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội thực hiện năm 2004 về những lao động nhập cư tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy chủ yếu họ làm việc tại khu vực tư nhân, không chính thức, thu nhập thấp và không ổn định. Ngoài ra, các nghiên cứu cũng xác định thêm một nguyên nhân khác nữa của di cư là mục đích phát triển giáo dục đối với các cá nhân. Họ tìm kiếm con 1 http://www.vn/so6-111 21 đường học tập tại các thành phố lớn, nơi tập trung các trường Cao đẳng, Đại học hoặc trường nghề, sau đó tiếp tục ở lại để tìm kiếm việc làm và xây dựng cuộc sống mới cho bản thân.
Nhiều người trong số họ đã trở thành hình mẫu lý tưởng cho những người em, cháu trong gia đình về sự thành công trong thu nhập và sự nghiệp. Giới tính của người nhập cư Nhìn chung, các nghiên cứu trên Thế giới đều cho thấy nam giới di cư nhiều hơn nữ giới mặc dù hiện nay ở Châu Á đang có xu hướng nữ giới di cư tăng lên do có sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế và sự mở rộng của các khu vực sản xuất hàng loạt có những yêu cầu đối với lao động là nữ (Santosh Jattana, Mika Toyota and Brenda S. Ở Việt Nam, các nghiên cứu chọn mẫu nhận thấy xu hướng di cư mạnh ở nam giới. Viện Nghiên cứu và Phát triển Xã hội đã tiến hành nghiên cứu người di cư đến đô thị, kết quả cho thấy tỷ lệ nam giới di cư cao hơn nữ: 61,46% là nam giới và 38,54% là nữ giới.
Như vậy, trong dòng di cư từ nông thôn về đô thị trong nghiên cứu này nam giới chiếm đến gần 2/3 trong tổng số người di cư. Tại Hà Nội tỷ lệ này còn cao hơn: 70,09% là nam và 29,91% là nữ (Lê Bạch Dương và Nguyễn Thanh Liêm, 2011). Tuy nhiên xem xét từ những cuộc điều tra có quy mô lớn và di cư nói chung không phân biệt các vùng miền (di cư được tính cả từ nông thôn đến thành phố, giữa các tỉnh, giữa các huyện và trong phạm vi huyện) thì hiện nay phụ nữ di cư ngày càng tăng và đang chiếm tỷ trọng lớn trong dòng di cư. Theo số liệu từ Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, tỷ lệ nữ đều cao hơn 50% đối với hầu hết các nhóm di cư.
Tính riêng di cư giữa các tỉnh, tỉ lệ phụ nữ di cư chiếm khoảng 42% năm 1989 lên đến 50% năm 1999 và 54% năm 2009. Điều đặc biệt là trong số lao động di cư ở độ tuổi từ 15-29, tỷ lệ lao động nữ di cư cao hơn hẳn so với nam giới (Tổng cục Thống kê, 2010). Lao động nữ chủ yếu làm việc tại các khu công nghiệp với mô hình công việc không đòi hỏi trình độ hay 22 kỹ thuật cao mà chỉ cần những người chuyên cần chịu khó và chấp nhận mức thu nhập thấp. Có thể khẳng định xu hướng nữ hóa di cư hiện nay khá phổ biến.
Cục việc làm thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cung cấp thêm bằng chứng cho thấy nữ lao động nhập cư đã đáp ứng được thị trường lao động với 55,9% trong tổng số lao động từ nông thôn ra thành thị, đặc biệt nhóm lao động là nữ di cư đến các khu công nghiệp chiếm 68,3% (Cục việc làm – Bộ LĐTBXH, 2013). Tại đô thị, lao động nữ thường làm các công việc liên quan đến sự khéo léo, dẻo dai, đòi hỏi sự chịu khó như giúp việc gia đình, bán hàng rong, làm thuê hoặc làm việc tại các nhà máy. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng: trong khu vực lao động phi chính thức, hầu hết phụ nữ tham gia công việc tự làm hoặc lao động gia đình không được trả công. Vì thế, họ cũng là nhóm người chiếm số đông trong các việc làm dễ bị tổn thương.
Hơn nữa, họ thường lao động trong các công việc đòi hỏi kĩ năng và trình độ thấp hơn nam giới, do đó họ cần được tham gia vào các chương trình và nội dung đào tạo dành riêng cho nữ giới để cân bằng về thu nhập và ảnh hưởng về vai trò đối với nam giới trong tương lai. Độ tuổi của người nhập cư Lao động nhập cư hiện đang tập trung chủ yếu trong nhóm những người trẻ tuổi. Kết quả phân tích số liệu của Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009 cung cấp thêm những bằng chứng khẳng định người di cư thường là những người trẻ tuổi (Tổng cục Thống kê, 2009). Chuyên khảo Di cư và đô thị hóa: 28).
Dạng hình tháp dân số cho thấy cấu trúc tương đối già của nhóm dân số không di cư và cơ cấu dân số rất trẻ của các nhóm dân số di cư với mức độ tập trung rất cao quanh nhóm tuổi từ 15 – 29.