CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về bệnh tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt 1. Định nghĩa bệnh tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt Tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt là một u lành tính, do sự tăng sản của các thành phần tế bào của tuyến tiền liệt, bao gồm tế bào biểu mô và mô đệm của tuyến tiền liệt. Bệnh là nguyên nhân chính gât ra rối loạn tiểu tiện và các biến chứng do bít tắc đường tiểu dưới [37].
Đôi nét về bệnh tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt Bệnh tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt là bệnh lý phổ biến ở nam giới lớn tuổi.Y: Bệnh tăng dần theo độ tuổi, độ tuổi 21-30 có 8,5% mắc BPH; sẽ tăng lên ở nam giới trên 40 tuổi, tăng lên tới 50% ở độ tuổi 50-60 và chiếm tới 90% ở độ tuổi ngoài 80. Đồng thời khi xuất hiện BPH thì biểu hiện triệu chứng đường tiểu dưới cũng tăng song song với tuổi thọ: 25% nam giới ở tuổi 55 và tăng lên 55% ở tuổi 75. Bệnh có xu hướng tăng ở các nước phát triển, vì vậy bệnh được phát hiện nhiều ở các nước Châu Âu do có tuổi thọ cao. Ngược lại, tại các nước Châu Á có tỷ lệ mắc thấp hơn.
Do môi trường sống và điều kiện kinh tế ảnh hưởng tới tuổi thọ cho nên cộng đồng người Châu Á tại các nước phát triển có tỷ lệ mắc như người bản địa. Yếu tố di truyền cũng cho thấy người da đen có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn người da trắng [32]. Tại Việt Nam, hiện chưa có thống kê chính xác tỷ lệ mắc bệnh TSLTTTL trong cộng đồng, nhưng các nghiên cứu gần đầy cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ngày càng tăng. Chẩn đoán bệnh và phân loại bệnh tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt 1.
Chẩn đoán bệnh [11] Để chẩn đoán bệnh nhân bị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt có thể dựa vào hỏi bệnh, thăm khám lâm sàng và chẩn đoán cận lâm sàng. ❖ Hỏi bệnh Hỏi tiền sử, bệnh sử liên quan: Chú ý cần hỏi đến chức năng tình dục. Xác định các triệu chứng cơ năng dựa trên những bảng câu hỏi của bảng điểm quốc tế triệu chứng tuyến tiền liệt (IPSS) và bảng điểm chất lượng cuộc sống (QoL). Cần khám và hỏi kỹ triệu chứng của 3 nhóm: Nhóm triệu chứng liên quan đến tống xuất nước tiểu (tiểu chậm, tiểu không thành dòng, tiểu ngắt quãng, tiểu ngập ngừng, tiểu phải rặn, tiểu 3 nhỏ giọt); nhóm triệu chứng liên quan đến chứa đựng (tiểu nhiều lần, tiểu đêm, tiểu gấp, tiểu không kiểm soát); nhóm triệu chứng sau đi tiểu (cảm giác tiểu không hết, tiểu còn nhỏ giọt).
+ Đánh giá điểm IPSS để đánh giá tình trạng tắc nghẽn: 0-7 điểm: nhẹ; 8-19 điểm: trung bình; 20-35 điểm: nặng. Bảng đánh giá điểm IPSS + Đánh giá điểm QoL : 1-2 điểm: sống tốt hoặc bình thường; 3-4 điểm: sống được hoặc tạm được; 5-6 điểm: không chịu được. Bảng đánh giá điểm QoL ❖ Khám lâm sàng Khám hệ tiết niệu: Khám thận, khám cầu bàng quang đặc biệt để xác định cầu bàng quang mạn, khám bộ phận sinh dục ngoài (bao quy đầu, niệu đạo). 4 Thăm trực tràng là bắt buộc để đánh giá các đặc điểm của tuyến tiền liệt: Kích thước, bề mặt, mật độ, giới hạn của tuyến tiền liệt với các cơ quan xung quanh,… ❖ Các xét nghiệm cận lâm sàng Xét nghiệm phân tích nước tiểu: Nhằm xác định sơ bộ tình trạng nhiễm khuẩn đường tiết niệu (nitrit, bạch cầu niệu); các chỉ số khác như hồng cầu niệu, đường niệu,.
Xét nghiệm công thức máu. Đánh giá chức năng thận: Định lượng creatinine, ure máu. Xét nghiệm định lượng PSA: + PSA < 4 ng/ml được cho là bình thường. + PSA 4-10 ng/ml, nếu tỉ lệ PSA tự do/toàn phần < 20% có chỉ định sinh thiết tuyến tiền liệt qua trực tràng.
+ PSA > 10 ng/ml, chỉ định sinh thiết tuyến tiền liệt qua trực tràng. + Khảo sát tuyến tiền liệt qua đường trên xương mu hoặc qua đường trực tràng: Khảo sát hình thái, tính chất và thể tích tuyến tiền liệt. + Khảo sát toàn bộ hệ tiết niệu: Đánh giá tình trạng thành bàng quang (dày thành bàng quang, túi thừa bàng quang, u bàng quang…), dị vật trong bàng quang (sỏi bàng quang), giãn đường tiết niệu trên,… Đo thể tích nước tiểu tồn lưu: Bình thường < 30ml. Đo tốc độ dòng tiểu (uroflowmetry): Để đánh giá tốc độ dòng tiểu trung bình, tốc độ dòng tiểu tối đa (Qmax), thể tích nước tiểu đi được, thời gian đi tiểu… Chỉ có giá trị chẩn đoán tắc nghẽn khi thể tích nước tiểu mỗi lần đi tiểu ≥ 150ml.
Đánh giá tình trạng tắc nghẽn đường tiểu dưới: Tắc nghẽn trung bình: Qmax 10- 15ml/s; Tắc nghẽn nặng: Qmax < 10ml/s. Phân loại mức độ bệnh tăng sinh lành tính tiền liệt ❖ Phân loại theo triệu chứng và giai đoạn của bệnh [18] 5 Bảng 1. Phân loại mức độ bệnh theo giai đoạn bệnh Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Giai đoạn 3 Đây là giai đoạn cơ năng Đây là giai đoạn đã có Là giai đoạn mất bù tổn chưa có những tổn thương những tổn thương thực thể thương thực thể rõ ràng, thực thể. Do sự kích thích như: Bàng quang bắt đầu nặng hơn, vì đã ảnh hưởng của cơ bàng quang bị phì giãn, khối lượng nước tiểu đến chức năng thận.
Trong đại nên bệnh nhân có triệu tồn lưu sau bãi tiểu giai đoạn này sự thích ứng chứng “đái vội” buồn đi >100ml. Trong giai đoạn của cơ thể giảm sút nhiều tiểu không thể nhịn được, này bệnh nhân có triệu theo xu hướng không còn đái nhiều lần ban ngày chứng đái khó, đái nhiều khả năng bù trừ, cấu trúc cũng như ban đêm đặc biệt lần ở mức độ tăng dần về cơ thành bàng quang mỏng là nửa đêm về sáng. Giai đêm, vì vậy bệnh nhân bị và mất trương lực, sự ứ đoạn này nước tiểu tồn lưu ảnh hưởng nhiều đến sức đọng nước tiểu >300ml có sau bãi tiểu >50ml. khỏe do rối loạn giấc ngủ khi đến 1000-1500 ml.
Ở và sinh hoạt. Đây là giai giai đoạn này các triệu đoạn cần phải can thiệp chứng toàn thân xuất hiện điều trị phẫu thuật mổ mở rầm rộ như: thiếu máu, bóc u hoặc cắt đốt nội soi. kém ăn, mệt mỏi, buồn ngủ, phù, tăng huyết áp. Ở giai đoạn này nếu chẩn đoán sớm, điều trị hợp lý có thể diễn biến tốt: trở về giai đoạn 2.
Diễn biến xấu, điều trị không hợp lý bệnh nhân có thể phải dẫn lưu bàng quang vĩnh viễn hoặc tử vong do biến chứng khác của toàn thân. 6 Sự tiến triển của 3 giai đoạn này không phải lúc nào cũng xuất hiện theo trình tự, nó phụ thuộc vào các yếu tố: Sự tăng trưởng của tuyến, sự thích ứng của cơ thể và cách sinh hoạt của từng người. Tuy nhiên bất cứ giai đoạn nào của bệnh, bí tiểu cấp tính cũng có thể xảy ra và đặt bệnh nhân trong tình trạng cấp cứu. ❖ Phân loại theo kích thước và khối lượng của tuyến tiền liệt Ở người trưởng thành, tuyến tiền liệt nặng khoảng 20 gam, có dạng hình tháp đảo ngược hay hình quả lê, đỉnh ở dưới và nền ở trên liên tục với cổ bàng quang.
Cao trung bình 30 mm, rộng 40 mm, dày 25mm. Tỉ lệ nam giới mắc bệnh TSLTTTL cao khi họ bước qua tuổi trung niên và có khối lượng nặng từ 30 gam đến hàng trăm gam. Công thức tính thể tích TTL hiện nay được chấp nhận rộng rãi là: thể tích tuyến tiền liệt 3 3 (cm ) = chiều dày x chiều rộng x chiều cao x 0,52; 1 cm thể tích tương đương 1 gam tuyến. Các nghiên cứu về TURP tại Việt Nam cho thấy bệnh nhân có thể tích tuyến 3 trung bình từ 30-60 cm tương đương với 30-60 gam [25].
Tùy thuộc vào khối lượng của tuyến tiền liệt khi bệnh nhân mắc TSLTTTL bác sĩ sẽ có các phác đồ điều trị nội khoa hay ngoại khoa khác nhau. Một số bệnh mắc kèm của bệnh nhân tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt Bệnh TSLTTTL có xu hướng mắc chủ yếu ở người cao tuổi, tuổi cao chức năng một số bộ phận cơ thể suy giảm, dễ mắc nhiều bệnh và có nhiều biến chứng ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt. Bệnh nhân vào viện điều trị phẫu thuật TSLTTTL đa số là bệnh nhân cao tuổi nên ngoài mắc bệnh chính thì bệnh nhân cũng có mắc kèm thêm bệnh khác. Một số bệnh mắc kèm thường hay gặp ở người cao tuổi như: Tăng huyết áp, đái tháo đường, suy thận, rối loạn chuyển hóa lipid,… 1.
Phác đồ điều trị bệnh tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt ❖ Phác đồ điều trị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt đơn thuần: Theo dõi các triệu chứng và khối lượng của khối TSLTTTL. - Điều trị nội khoa [11] + Nguyên tắc điều trị: Chủ yếu là điều trị triệu chứng với tác dụng của thuốc (hóa dược và thảo mộc). + Thuốc điều trị: Cần nắm rõ thời gian bán thải của từng nhóm thuốc, sinh khả dụng và tác dụng phụ của thuốc. Có thể sử dụng 1 thuốc hoặc phối hợp nhiều thuốc tùy vào tình trạng bệnh của bệnh nhân.
7 + Nhóm ức chế α - adrenergic: Có tác dụng chống sự co thắt cơ trơn giãn nở cơ thắt cổ bàng quang để hạn chế các triệu chứng của đường tiểu dưới. Doxazasin (Carduran) 1 - 4mg/ngày; Alfuzosin (Xatral); SR 5mg/ngày/2 lần; Terazosin (Hytrin) 5 - 10mg/ngày; Tamsulosin 0,4mg/ngày. Thời gian sử dụng thuốc từ 2 - 4 tuần. + Nhóm ức chế 5α - reductase (5-ARIs): 5-ARIs có 2 typ, với vai trò chuyển hóa testosterol tự do thành dihydrotestosterol.
Khi ức chế được 5-ARIs thì có tác dụng là giảm nồng độ dyhidrotestosterol trong máu và tại tuyến tiền liệt, dihydrotesterol là thành phần kích thích sự phát triển của tế bào biểu mô tuyến tiền liệt. Qua đó hạn chế sự tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt. Thuốc Finasterid 5mg/ ngày (ức chế được 5-ARIs typ I), Dutasterid 0,5mg/ ngày (ức chế được cả 5-ARIs typ I và typ II). + Thuốc kháng muscarinic: Kháng thụ thể muscarinic sẽ làm giảm co thắt của bàng quang.
Các thuốc nhóm này có: Oxybutynin ER; Oxybutynin IR; Propiverine; Propiverine ER; Solifenacin; Tolterodine IR; Tolterodine ER; Trospium IR. + Thuốc đối kháng vassopressin-desmopressin: Được chỉ định cho bệnh nhân đa niệu ban đêm. Thuốc thường dùng là Desmopressin 0,1 - 0,4mg/1 lần. + Các thuốc dược liệu: Tadenan (Pygeum africanum) 30mg 3 - 4 viên/ ngày thời gian 3 - 4 tháng chống viên xơ phù nề.
Eviprostats (Mầm lúa mì và thảo mộc) của Đức. Permixson (Serenoa reens) 160mg/ngày tác dụng như một chất ức chế 5α reductase, ức chế yếu tố phát triển tham gia vào quá trình tổng hợp prostaglandins. Cernilton: chiết xuất từ phấn hoa cây lúa mạch đen (Secale cercale). Crila: chiết xuất từ lá Trinh Nữ Hoàng Cung (Crinum latifolium L).