Kháng Nghị Phúc Thẩm Theo Pháp Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam: Thực Tiễn Tại Đà Nẵng

Luận văn thạc sĩ luật học phân tích kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam từ thực tiễn toà án nhân dân cấp cao, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2018

92
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Kháng Nghị Phúc Thẩm Hình Sự Tại Đà Nẵng

Kháng nghị phúc thẩm hình sự là một trong những quyền năng quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân, nhằm đảm bảo tính chính xác và công bằng trong quá trình xét xử. Tại Đà Nẵng, kháng nghị phúc thẩm đã được thực hiện từ khi thành lập Tòa án nhân dân cấp cao vào năm 2015. Quy trình này không chỉ giúp phát hiện và khắc phục sai sót trong xét xử sơ thẩm mà còn góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân.

1.1. Khái niệm và Đặc điểm của Kháng Nghị Phúc Thẩm

Kháng nghị phúc thẩm là hành vi tố tụng của Viện kiểm sát nhằm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm. Đặc điểm của kháng nghị này bao gồm tính chất pháp lý, thẩm quyền thực hiện và quy trình thực hiện.

1.2. Vai trò của Kháng Nghị Phúc Thẩm trong Tố Tụng Hình Sự

Kháng nghị phúc thẩm đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ công lý và quyền con người. Nó giúp đảm bảo rằng các bản án sơ thẩm được xem xét một cách công bằng và chính xác, từ đó nâng cao niềm tin của người dân vào hệ thống tư pháp.

II. Thực Tiễn Kháng Nghị Phúc Thẩm Hình Sự Tại Đà Nẵng

Thực tiễn kháng nghị phúc thẩm tại Đà Nẵng cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Mặc dù đã có những tiến bộ nhất định, nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế trong quy trình kháng nghị. Việc đánh giá thực trạng này là cần thiết để tìm ra giải pháp cải thiện.

2.1. Hoạt động của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tại Đà Nẵng

Viện kiểm sát nhân dân tại Đà Nẵng đã thực hiện nhiều kháng nghị phúc thẩm, tuy nhiên, chất lượng kháng nghị vẫn chưa đồng đều. Một số kháng nghị không đạt yêu cầu về nội dung và hình thức.

2.2. Những Vấn Đề và Thách Thức Trong Kháng Nghị

Các vấn đề như thiếu sót trong quy trình kháng nghị, sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa các cơ quan tư pháp, và năng lực của cán bộ kiểm sát là những thách thức lớn cần được khắc phục.

III. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kháng Nghị Phúc Thẩm Hình Sự

Để nâng cao hiệu quả kháng nghị phúc thẩm hình sự, cần có những giải pháp cụ thể. Việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao năng lực cho cán bộ kiểm sát là những yếu tố quan trọng.

3.1. Hoàn Thiện Pháp Luật Về Kháng Nghị Phúc Thẩm

Cần có những quy định rõ ràng hơn về căn cứ và trình tự kháng nghị phúc thẩm. Điều này sẽ giúp giảm thiểu sai sót và nâng cao chất lượng kháng nghị.

3.2. Nâng Cao Năng Lực Cán Bộ Kiểm Sát

Đào tạo và bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ kiểm sát là cần thiết để họ có thể thực hiện tốt quyền kháng nghị, từ đó nâng cao chất lượng công tác này.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu và Ứng Dụng Thực Tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng kháng nghị phúc thẩm hình sự tại Đà Nẵng đã có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, cần tiếp tục theo dõi và đánh giá để đảm bảo tính hiệu quả của quy trình này.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Kháng Nghị

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ kháng nghị được chấp nhận đang có xu hướng tăng, cho thấy sự cải thiện trong chất lượng kháng nghị.

4.2. Ứng Dụng Kết Quả Nghiên Cứu Vào Thực Tiễn

Các kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng để cải thiện quy trình kháng nghị phúc thẩm, từ đó nâng cao chất lượng xét xử tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Kháng Nghị Phúc Thẩm Hình Sự

Kháng nghị phúc thẩm hình sự là một công cụ quan trọng trong hệ thống tư pháp. Tương lai của kháng nghị này phụ thuộc vào việc cải thiện quy trình và nâng cao năng lực cho cán bộ kiểm sát.

5.1. Tương Lai Của Kháng Nghị Phúc Thẩm

Cần có những chính sách và biện pháp cụ thể để phát triển kháng nghị phúc thẩm, nhằm đảm bảo tính công bằng và chính xác trong xét xử.

5.2. Đề Xuất Kiến Nghị Để Nâng Cao Chất Lượng Kháng Nghị

Đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm, từ đó góp phần vào công cuộc cải cách tư pháp tại Việt Nam.

27/06/2025
Luận văn thạc sĩ kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam từ thực tiễn toà án nhân dân cấp cao tại đà nẵng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò kháng nghị phúc thẩm hình sự 1. Khái niệm kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Bản án, quyết định của Toà án là văn bản pháp lý thể hiện sự phán quyết đối với hành vi của con người, phản ánh công bằng xã hội. Do vậy, Hiến pháp và pháp luật Việt Nam quy định nguyên tắc hai cấp xét xử: Chế độ xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm được bảo đảm (Điều 103 Hiến pháp năm 2013) nhằm mục đích khắc phục những sai sót trong quá trình xét xử sơ thẩm, đảm bảo áp dụng pháp luật một cách thống nhất và bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Một trong những cơ sở phát sinh thủ tục xét xử phúc thẩm là quyền kháng nghị của Viện kiểm sát. Chế định kháng nghị là quy định hiện thực hoá nguyên tắc hai cấp xét xử của Tòa án và cũng là biện pháp quan trọng thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân (Điều 107 Hiến pháp năm 2013). Về mặt lý luận có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự. Trước hết, tác giả muốn phân tích khái niệm “kháng nghị” và khái niệm “xét xử phúc thẩm” để từ đó đưa ra khái niệm “kháng nghị phúc thẩm hình sự”.

Nếu hiểu nghĩa thông dụng, theo Từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ kháng nghị: Là bày tỏ ý kiến chống lại điều đã quyết nghị [54. Như vậy, theo cách hiểu về câu từ thì kháng nghị là việc đưa ra ý kiến chống lại quyết định của một nhóm người, hay tổ chức nào đó. Ở khía cạnh của những người nghiên cứu Luật học và lịch sử tố tụng, thì kháng nghị có một số định nghĩa như: “Kháng nghị là hành vi tố tụng của người có thẩm quyền, thể hiện sự phản đối một phần hoặc toàn bộ nội dung bản án, quyết định của Toà án với mục đích bảo đảm cho việc 7 xét xử được chính xác, công bằng đồng thời sửa chữa những sai lầm trong bản án, quyết định của Toà án” [53. Hoặc theo Từ điển giải thích Luật học của Trường đại học Luật Hà Nội thì kháng nghị được định nghĩa: “Là việc người có thẩm quyền yêu cầu Toà án xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc thẩm” [55.

Cả hai cách định nghĩa về thuật ngữ Luật học đều thể hiện được chủ thể thực hiện quyền kháng nghị chung chung là người có thẩm quyền chứ chưa xác định cụ thể người nào, cơ quan, tổ chức nào có quyền kháng nghị cũng như chưa xác định được đối tượng kháng nghị cụ thể là bản án, quyết định có hiệu lực hay chưa có hiệu lực. Đối với khái niệm xét xử phúc thẩm: Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1994, chủ biên Giáo sư Hoàng Phê thì “phúc thẩm là Tòa án cấp trên xét xử lại một vụ án do cấp dưới đã xét xử sơ thẩm mà có chống án” [33. Về cơ bản khái niệm này đã nêu được phúc thẩm là Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án của Tòa án cấp dưới trong trường hợp có cá nhân, tổ chức trong vụ án có phản đối lại bản án và yêu cầu Tòa án xét xử lại ở cấp cao hơn. Tuy nhiên, khái niệm này cũng chưa chưa chỉ rõ Tòa án cấp trên là Tòa án nào, khái niệm này cũng chưa luận giải rõ chống án là gì, ai có quyền chống án, đối tượng chống án.

Trong khi theo quy định của Luật tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân năm 2014 thì hệ thống tổ chức Toà án nhân dân của nước ta có hai Toà có quyền xét xử phúc thẩm: Toà án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Hiện nay, thuật ngữ xét xử phúc thẩm đã được Bộ luật tố tụng hình sự định nghĩa chính thức, theo quy định tại Điều 330 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì khái niệm xét xử phúc thẩm được định nghĩa là: “việc Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị”[17. Theo định nghĩa này thì xét xử phúc thẩm với ý nghĩa là cấp xét xử thứ hai; căn cứ làm phát sinh thủ tục phúc thẩm là kháng cáo, kháng nghị. Đối tượng xét xử phúc thẩm là bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp 8 luật và phải do Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại.

Từ việc nghiên cứu hai định nghĩa về kháng nghị và xét xử phúc thẩm. Chúng ta đã phần nào hình dung được khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự. Theo tác giả Đinh Văn Quế thì “Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hình sự là một văn bản do Viện kiểm sát ban hành yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án mà Toà án cấp sơ thẩm cùng cấp hoặc cấp dưới trực tiếp đã xét xử, nhưng xét thấy không đúng pháp luật” [37. Về cơ bản thì khái niệm này đã làm rõ được Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền kháng nghị nhưng lại cho rằng Viện kiểm sát ban hành văn bản kháng nghị hình sự phúc thẩm yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử nhưng xét thấy không đúng pháp luật là chưa thật sự cụ thể, chưa thể hiện rõ đối tượng kháng nghị là bản án, quyết định chưa có lực pháp luật mới bị kháng nghị, và cũng chưa thể hiện đây là quyền năng chỉ có Viện kiểm sát mới có được.

Pháp luật Việt Nam hiện hành vẫn chưa có điều luật định nghĩa khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự, nhưng có những quy định xoay quay chế định kháng nghị phúc thẩm hình sự. Theo Điều 17 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân địa phương có quyền: Kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân cùng cấp và dưới một cấp”[28.17] và theo Điều 13 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 quy định: “Khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử, các Viện kiểm sát nhân dân có quyền: Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cùng cấp và dưới một cấp, khi thấy có vi phạm pháp luật”[28. Như vậy, kháng nghị phúc thẩm hình sự được xem là quyền năng pháp lý đặc biệt mà Nhà nước chỉ giao cho ngành kiểm sát. Theo quy định tại Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì “Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án 9 hoặc quyết định sơ thẩm” [16.

Tức là, Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp với Tòa án đã tuyên bản án, quyết định sơ thẩm có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án và quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân chưa có hiệu lực pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, thực hiện chức năng kiểm sát đối với việc áp dụng pháp luật của tất cả các chủ thể trong hoạt động tư pháp, trong đó có Toà án nhân dân vì Viện kiểm sát là cơ quan có quyền truy tố người phạm tội trước toà và để đảm bảo cho việc quyết định truy tố của mình, cũng như đảm bảo cho việc xét xử đúng pháp luật, khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng, Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo đúng quy định pháp luật. Trên cở sở tiếp thu những quan điểm và quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, tác giả cho rằng khái niệm kháng nghị hình sự phúc thẩm được hiểu theo hai nghĩa cơ bản: Theo nghĩa rộng về mặt hình thức và hiểu theo bản chất nội dung cụ thể. Xét về nghĩa rộng về mặt hình thức thì tác giả có thể đưa ra khái niệm: Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền riêng biệt của Viện kiểm sát thể hiện bằng văn bản pháp lý yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại bản án, quyết định hình sự chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp sơ thẩm có vi phạm pháp luật.

Xét về bản chất, nội dung cụ thể thì có thể hiểu khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự như sau: Kháng nghị phúc thẩm hình sự là một quyền năng pháp lý riêng của Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp thực hiện bằng văn bản pháp lý nêu rõ lý do, căn cứ và yêu cầu của việc kháng nghị đối với bản án, quyết định hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án khi cho rằng một phần hoặc toàn bộ nội dung bản án, quyết định đó không đúng pháp luật nhằm đảm bảo Toà án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đặc điểm của kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Từ việc phân tích khái niệm, chúng ta có thể nhận thấy kháng nghị phúc thẩm hình sự có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng pháp lý riêng biệt của Viện kiểm sát. Chủ thể của quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự là Viện kiểm sát, cụ thể là Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp với Tòa án đã tuyên bản án, quyết định sơ thẩm được quy định tại khoản 1 Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Theo quy định này, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã giao quyền kháng nghị cho Viện kiểm sát chứ không phải là Kiểm sát viên hay Công tố viên.

Như vậy, khi đại diện của Viện kiểm sát tham gia phiên toà sơ thẩm cho rằng quá trình xét xử cũng như bản án, quyết định sơ thẩm vi phạm tố tụng hình sự, áp dụng pháp luật không đúng, không thể hiện được diễn biến khách quan của vụ án thì có thể báo cáo, đề xuất Viện trưởng ban hành quyết định kháng nghị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Kháng Nghị Phúc Thẩm Hình Sự: Thực Tiễn và Giải Pháp Tại Đà Nẵng" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình kháng nghị trong lĩnh vực hình sự, đặc biệt là trong bối cảnh thực tiễn tại Đà Nẵng. Tài liệu này không chỉ phân tích các vấn đề hiện tại mà còn đề xuất những giải pháp khả thi nhằm cải thiện quy trình kháng nghị, từ đó bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức thực hiện kháng nghị, cũng như những thách thức mà hệ thống pháp luật đang phải đối mặt.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Thủ tục tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên và thực tiễn tại Đà Lạt, nơi cung cấp cái nhìn về quy trình tố tụng đối với đối tượng đặc biệt. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ luật các căn cứ quyết định hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố quyết định hình phạt trong bối cảnh pháp lý hiện hành. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thực trạng và đề xuất giải pháp giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai tại thành phố Đà Nẵng cũng là một nguồn tài liệu quý giá để tìm hiểu về quy trình giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai, một vấn đề không kém phần quan trọng trong hệ thống pháp luật hiện nay.