Chương 1 NHỮNG LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò kháng nghị phúc thẩm hình sự 1. Khái niệm kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Bản án, quyết định của Toà án là văn bản pháp lý thể hiện sự phán quyết đối với hành vi của con người, phản ánh công bằng xã hội. Do vậy, Hiến pháp và pháp luật Việt Nam quy định nguyên tắc hai cấp xét xử: Chế độ xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm được bảo đảm (Điều 103 Hiến pháp năm 2013) nhằm mục đích khắc phục những sai sót trong quá trình xét xử sơ thẩm, đảm bảo áp dụng pháp luật một cách thống nhất và bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Một trong những cơ sở phát sinh thủ tục xét xử phúc thẩm là quyền kháng nghị của Viện kiểm sát. Chế định kháng nghị là quy định hiện thực hoá nguyên tắc hai cấp xét xử của Tòa án và cũng là biện pháp quan trọng thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân (Điều 107 Hiến pháp năm 2013). Về mặt lý luận có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự. Trước hết, tác giả muốn phân tích khái niệm “kháng nghị” và khái niệm “xét xử phúc thẩm” để từ đó đưa ra khái niệm “kháng nghị phúc thẩm hình sự”.
Nếu hiểu nghĩa thông dụng, theo Từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ kháng nghị: Là bày tỏ ý kiến chống lại điều đã quyết nghị [54. Như vậy, theo cách hiểu về câu từ thì kháng nghị là việc đưa ra ý kiến chống lại quyết định của một nhóm người, hay tổ chức nào đó. Ở khía cạnh của những người nghiên cứu Luật học và lịch sử tố tụng, thì kháng nghị có một số định nghĩa như: “Kháng nghị là hành vi tố tụng của người có thẩm quyền, thể hiện sự phản đối một phần hoặc toàn bộ nội dung bản án, quyết định của Toà án với mục đích bảo đảm cho việc 7 xét xử được chính xác, công bằng đồng thời sửa chữa những sai lầm trong bản án, quyết định của Toà án” [53. Hoặc theo Từ điển giải thích Luật học của Trường đại học Luật Hà Nội thì kháng nghị được định nghĩa: “Là việc người có thẩm quyền yêu cầu Toà án xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc thẩm” [55.
Cả hai cách định nghĩa về thuật ngữ Luật học đều thể hiện được chủ thể thực hiện quyền kháng nghị chung chung là người có thẩm quyền chứ chưa xác định cụ thể người nào, cơ quan, tổ chức nào có quyền kháng nghị cũng như chưa xác định được đối tượng kháng nghị cụ thể là bản án, quyết định có hiệu lực hay chưa có hiệu lực. Đối với khái niệm xét xử phúc thẩm: Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1994, chủ biên Giáo sư Hoàng Phê thì “phúc thẩm là Tòa án cấp trên xét xử lại một vụ án do cấp dưới đã xét xử sơ thẩm mà có chống án” [33. Về cơ bản khái niệm này đã nêu được phúc thẩm là Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án của Tòa án cấp dưới trong trường hợp có cá nhân, tổ chức trong vụ án có phản đối lại bản án và yêu cầu Tòa án xét xử lại ở cấp cao hơn. Tuy nhiên, khái niệm này cũng chưa chưa chỉ rõ Tòa án cấp trên là Tòa án nào, khái niệm này cũng chưa luận giải rõ chống án là gì, ai có quyền chống án, đối tượng chống án.
Trong khi theo quy định của Luật tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân năm 2014 thì hệ thống tổ chức Toà án nhân dân của nước ta có hai Toà có quyền xét xử phúc thẩm: Toà án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Hiện nay, thuật ngữ xét xử phúc thẩm đã được Bộ luật tố tụng hình sự định nghĩa chính thức, theo quy định tại Điều 330 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì khái niệm xét xử phúc thẩm được định nghĩa là: “việc Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị”[17. Theo định nghĩa này thì xét xử phúc thẩm với ý nghĩa là cấp xét xử thứ hai; căn cứ làm phát sinh thủ tục phúc thẩm là kháng cáo, kháng nghị. Đối tượng xét xử phúc thẩm là bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp 8 luật và phải do Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại.
Từ việc nghiên cứu hai định nghĩa về kháng nghị và xét xử phúc thẩm. Chúng ta đã phần nào hình dung được khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự. Theo tác giả Đinh Văn Quế thì “Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hình sự là một văn bản do Viện kiểm sát ban hành yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án mà Toà án cấp sơ thẩm cùng cấp hoặc cấp dưới trực tiếp đã xét xử, nhưng xét thấy không đúng pháp luật” [37. Về cơ bản thì khái niệm này đã làm rõ được Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền kháng nghị nhưng lại cho rằng Viện kiểm sát ban hành văn bản kháng nghị hình sự phúc thẩm yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử nhưng xét thấy không đúng pháp luật là chưa thật sự cụ thể, chưa thể hiện rõ đối tượng kháng nghị là bản án, quyết định chưa có lực pháp luật mới bị kháng nghị, và cũng chưa thể hiện đây là quyền năng chỉ có Viện kiểm sát mới có được.
Pháp luật Việt Nam hiện hành vẫn chưa có điều luật định nghĩa khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự, nhưng có những quy định xoay quay chế định kháng nghị phúc thẩm hình sự. Theo Điều 17 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân địa phương có quyền: Kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân cùng cấp và dưới một cấp”[28.17] và theo Điều 13 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 quy định: “Khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử, các Viện kiểm sát nhân dân có quyền: Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cùng cấp và dưới một cấp, khi thấy có vi phạm pháp luật”[28. Như vậy, kháng nghị phúc thẩm hình sự được xem là quyền năng pháp lý đặc biệt mà Nhà nước chỉ giao cho ngành kiểm sát. Theo quy định tại Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì “Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án 9 hoặc quyết định sơ thẩm” [16.
Tức là, Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp với Tòa án đã tuyên bản án, quyết định sơ thẩm có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án và quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân chưa có hiệu lực pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, thực hiện chức năng kiểm sát đối với việc áp dụng pháp luật của tất cả các chủ thể trong hoạt động tư pháp, trong đó có Toà án nhân dân vì Viện kiểm sát là cơ quan có quyền truy tố người phạm tội trước toà và để đảm bảo cho việc quyết định truy tố của mình, cũng như đảm bảo cho việc xét xử đúng pháp luật, khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng, Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo đúng quy định pháp luật. Trên cở sở tiếp thu những quan điểm và quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, tác giả cho rằng khái niệm kháng nghị hình sự phúc thẩm được hiểu theo hai nghĩa cơ bản: Theo nghĩa rộng về mặt hình thức và hiểu theo bản chất nội dung cụ thể. Xét về nghĩa rộng về mặt hình thức thì tác giả có thể đưa ra khái niệm: Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền riêng biệt của Viện kiểm sát thể hiện bằng văn bản pháp lý yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại bản án, quyết định hình sự chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp sơ thẩm có vi phạm pháp luật.
Xét về bản chất, nội dung cụ thể thì có thể hiểu khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự như sau: Kháng nghị phúc thẩm hình sự là một quyền năng pháp lý riêng của Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp thực hiện bằng văn bản pháp lý nêu rõ lý do, căn cứ và yêu cầu của việc kháng nghị đối với bản án, quyết định hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án khi cho rằng một phần hoặc toàn bộ nội dung bản án, quyết định đó không đúng pháp luật nhằm đảm bảo Toà án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đặc điểm của kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Từ việc phân tích khái niệm, chúng ta có thể nhận thấy kháng nghị phúc thẩm hình sự có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng pháp lý riêng biệt của Viện kiểm sát. Chủ thể của quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự là Viện kiểm sát, cụ thể là Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp với Tòa án đã tuyên bản án, quyết định sơ thẩm được quy định tại khoản 1 Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Theo quy định này, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã giao quyền kháng nghị cho Viện kiểm sát chứ không phải là Kiểm sát viên hay Công tố viên.
Như vậy, khi đại diện của Viện kiểm sát tham gia phiên toà sơ thẩm cho rằng quá trình xét xử cũng như bản án, quyết định sơ thẩm vi phạm tố tụng hình sự, áp dụng pháp luật không đúng, không thể hiện được diễn biến khách quan của vụ án thì có thể báo cáo, đề xuất Viện trưởng ban hành quyết định kháng nghị.