CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT 1. Những vấn đề lý luận về căn cứ quyết định hình phạt 1. Khái niệm và các nguyên tắc của quyết định hình phạt 1. Khái niệm quyết định hình phạt Với vị trí là một chế định quan trọng của Luật hình sự, là một hoạt động cơ bản của HĐXX trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, QĐHP được xác định là một khái niệm pháp lý cụ thể.
Tuy nhiên, điểm đáng nói là cả BLHS năm 1999 và BLTTHS năm 2003 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành hai bộ luật trên đều không đề cập đến khái niệm QĐHP. Khái niệm này chỉ tồn tại trong lý luận và được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu khoa học. Thực tế này đã phần nào làm cho khái niệm QĐHP chưa đạt được sự thống nhất cao trong khoa học pháp lý hình sự. Nhưng, có thể khẳng định rằng, về cơ bản các cách hiểu đều thể hiện sự đồng nhất về nội dung Luận văn thạc sĩ Luật Học (bản chất) của khái niệm QĐHP là việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt áp dụng đối với người phạm tội.
Sự đồng nhất này có thể thấy rõ trong giáo trình Luật hình sự của các trường Đại học và trong một số tài liệu khác. Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì: “Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội cụ thể” [45, tr. Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội thì: “QĐHP là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt cụ thể (bao gồm hình phạt chính và có thể cả hình phạt bổ sung) với mức độ cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội” [46, tr. Tác giả Lê Văn Đệ cũng đưa ra khái niệm “QĐHP là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội cụ thể” [21, tr.
Hoặc tác giả Đinh Văn Quế có định nghĩa: “QĐHP là việc Tòa án lựa chọn hình phạt buộc người bị kết án phải chấp hành. Tòa án lựa chọn loại hình phạt nào, mức phạt bao nhiêu, phải tuân theo những quy định của BLHS” [34, tr. 8 Nhìn chung, các khái niệm về QĐHP trên đây suy cho cùng đều khẳng định QĐHP là việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội. Việc lựa chọn loại hình phạt được hiểu là chỉ lựa chọn loại hình phạt chính hoặc cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung trong số các hình phạt thuộc hệ thống hình phạt mà BLHS đã quy định, với những mức độ cụ thể, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhằm đạt được mục đích của hình phạt.
Có thể nói đây chính là nội hàm của khái niệm QĐHP được nhiều người ủng hộ. Ngoài ra, ngay trong cuốn giáo trình Luật hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật năm 2001 có đề cập đến khái niệm QĐHP theo nghĩa rộng hơn là quyết định biện pháp xử lý đối với người phạm tội. Theo cách hiểu này, QĐHP không chỉ là việc lựa chọn hình phạt chính và hình phạt bổ sung mà còn bao gồm cả việc quyết định các biện pháp tư pháp nhằm hỗ trợ cho hình phạt được áp dụng đối với người bị kết án. Đánh giá một cách khách quan, các khái niệm trên đây đều đã thể hiện được bản chất của QĐHP.
Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, các khái niệm này còn một số vấn đề cần làm sáng tỏ. Cụ thể là: Thứ nhất, việc sử dụng cụm từ “người phạm tội” trong khái niệm QĐHP nên Luận văn thạc sĩ Luật Học được thống nhất bằng cụm từ “cá nhân người phạm tội” thì chính xác hơn với đối tượng của QĐHP. Thứ hai, vấn đề cơ bản nhất là các khái niệm QĐHP trên đây chưa thể hiện được đầy đủ phạm vi của QĐHP là bao gồm những nội dung nào. Việc lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể đã bao quát hết nội dung của khái niệm QĐHP chưa? hay việc xác định TNHS, xác định khung hình phạt, miễn TNHS, miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt, giảm mức hình phạt đã tuyên, quyết định cho hưởng án treo.
có phải là những nội dung thuộc phạm vi của QĐHP không? Tất cả những vấn đề đó cần được làm sáng tỏ khi xây dựng khái niệm QĐHP. Tuy nhiên, nay BLHS năm 2015 quy định TNHS đối với pháp nhân thương mại, vì vậy cần bổ sung: “cá nhân hoặc pháp nhân thương mai phạm tội.” Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa định tội danh và QĐHP, các đặc điểm và các nội dung thuộc phạm vi của QĐHP, dưới góc độ luật hình sự và tố tụng hình sự, khái niệm QĐHP có thể được định nghĩa như sau: QĐHP là hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự, do Tòa án có thẩm quyền (Hội đồng xét xử), nhân danh Nhà nước CHXHCN Việt Nam thực hiện sau 9 khi đã định tội danh và tùy thuộc vào từng trường hợp để quyết định khung hình phạt, loại hình phạt (hình phạt chính, hình phạt bổ sung), mức hình phạt cụ thể áp dụng cho chính cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội trong phạm vi giới hạn của khung hình phạt do luật định, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội theo quy định của BLHS. Các nguyên tắc của quyết định hình phạt Để QĐHP đúng pháp luật, công bằng và đạt được mục đích của hình phạt, cần phải tuân thủ các nguyên tắc QĐHP. Các nguyên tắc QĐHP là một trong những vấn đề quan trọng của QĐHP.
Việc nhận thức, vận dụng đúng các nguyên tắc QĐHP trong thực tiễn xét xử giúp Tòa án có thể quyết định đúng pháp luật, công bằng, điều này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn. Về lý luận, khi làm sáng tỏ những nguyên tắc QĐHP sẽ góp phần vào việc nhận thức được bản chất, nội dung, nguồn gốc, ý nghĩa của chế định hình phạt, phân biệt chúng với các căn cứ QĐHP, để đưa ra phương án tối ưu để thể hiện chúng trong các quy phạm của luật hình sự. Về thực tiễn, các nguyên tắc này là những tư tưởng chỉ đạo, là kim chỉ nam cho hoạt động xét xử của Tòa án để quyết định loại, mức hình phạt đối với từng bị cáo trong từng vụ án cụ thể, Luận văn thạc sĩ Luật Học là tiền đề, là điều kiện cho việc cải tạo, giáo dục người bị kết án, góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm đạt hiệu quả. Chế định hình phạt có những nét đặc thù riêng, nên khi áp dụng nó, ngoài nguyên tắc chung của ngành luật, còn phải tuân thủ theo các nguyên tắc đặc thù của nó.
Như vậy, giữa nguyên tắc chung của Luật hình sự và nguyên tắc QĐHP là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Các nguyên tắc của Luật hình sự là cái chung còn các nguyên tắc QĐHP là cái riêng. Hai nguyên tắc này tồn tại một cách khách quan nhưng có mối liên hệ hữu cơ, bổ sung cho nhau. Nội dung một số nguyên tắc chung của Luật hình sự cũng thể hiện ở nội dung của một số nguyên tắc QĐHP như: nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc nhân đạo.
Ngoài ra, chế định QĐHP còn có nguyên tắc đặc thù như: nguyên tắc cá thể hóa hình phạt, nguyên tắc công bằng. Sự khác nhau của các nguyên tắc QĐHP với nguyên tắc chung của Luật hình sự ở mức độ cụ thể hóa cao và tính đặc thù nhất định do các đặc điểm của QĐHP chứ không phải sự đối lập mâu thuẫn về nội dung, nó có tính thống nhất khi áp dụng những nguyên tắc này để đưa ra một phán quyết một cách chính xác, công bằng. Như vậy, có thể hiểu các nguyên tắc QĐHP là những tư tưởng được thể hiện 10 trong luật hoặc được làm sáng tỏ bắt nguồn từ việc giải thích luật. Đó là những nguyên lý quan trọng nhất chỉ đạo, xác định và định hướng hoạt động của Tòa án khi áp dụng các chế tài luật hình sự đối với người thực hiện tội phạm.
Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa các nguyên tắc QĐHP như sau: “Các nguyên tắc QĐHP là những tư tưởng xuất phát, tư tưởng chỉ đạo được quy định trong pháp luật hình sự và do giải thích mà có, xác định và định hướng hoạt động của Tòa án khi áp dụng chế tài luật hình sự đối với người phạm tội” [51, tr.387] Như vậy, nguyên tắc QĐHP là những tư tưởng chỉ đạo đặc thù, buộc Tòa án phải tuân theo khi áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự vào QĐHP. Mặc dù không được quy định cụ thể trong luật, nhưng thông qua nội dung của các quy phạm pháp luật hình sự, có thể chỉ ra các nguyên tắc QĐHP hiện nay gồm: - Nguyên tắc pháp chế là một nguyên tắc hết sức quan trọng và cơ bản của quá trình xây dựng và đổi mới pháp luật ở Việt Nam. Nói đến pháp chế tức là nói đến sự triệt để tuân thủ pháp luật từ phía Nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội và của công dân. Nguyên tắc pháp chế có nguồn gốc từ nguyên lý không có tội nếu không có luật.
Luận văn thạc sĩ Luật Học Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong Luật Hình sự Việt Nam được thể hiện ở việc xét xử hình sự phải đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không xử oan người vô tội, hình phạt phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Ngoài ra, nguyên tắc pháp chế còn đòi hỏi pháp luật hình sự phải được xây dựng trên những cơ sở khoa học, được xây dựng một cách hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Các quy định của Luật hình sự phải được xây dựng một cách cụ thể, chính xác với các dấu hiệu của từng hành vi phạm tội và hậu quả pháp lý của nó. - Nguyên tắc nhân đạo là nguyên tắc quan trọng của pháp luật Hình sự nhằm đảm bảo tính nhân văn, bảo vệ những quyền tối thiểu của con người dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
Nguyên tắc này thể hiện bản chất Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.