Chương 1 NHỮNG VẤN ĐẾ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI 1. Khái niệm, đặc điểm dấu hiệu pháp lý tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi 1. Các khái niệm Người dưới 16 tuổi theo pháp luật hiện hành: Điều 1 Luật Bảo vệ, năm 2004, quy định: “Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” và tại Điều 1 Luật Trẻ em được Quốc hội thông qua ngày 5/4/2016 trong đó quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” [22, tr. Như vậy, người dưới 16 tuổi xác định là “trẻ em” theo các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.
- Tội hiếp dâm: Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam thì hành vi hiếp dâm được hiểu là “Dùng sức mạnh cưỡng bức người khác để thoả mãn nhu cầu tình dục của mình”. Như vậy, theo như quan điểm trên thì hiếp dâm là hành vi dùng sức mạnh hoặc đe dọa để nhằm thỏa mãn tình dục một cách trái pháp luật. Theo Điều 141 BLHS 2015 quy định về tội hiếp dâm như sau: Hiếp dâm là hành vi “dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác để giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân” [20, tr. Hoặc có thể hiểu theo cách ngắn gọn theo quan điểm tác giả là: Hiếp dâm là hành vi xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục của người khác.
- Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi: Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là trường hợp đặc biệt của tội Hiếp dâm thuộc nhóm các tội xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm con người, đồng thời xâm phạm tính mạng, sức khỏe và sự phát triển bình thường về thể chất và tâm lý, sinh lý của người dưới 16 tuổi. Như vậy, có thể kết hợp các nội dung trên và quy định tại Điều 142 BLHS 2015 để nêu ra khái niệm đối với tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi như sau: “Tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi là hành vi nguy hiểm cho xã 8 hội được quy định trong bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý bằng cách thức dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ”. Đặc điểm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi Tội phạm này thuộc nhóm tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm con người, đồng thời là tính mạng, sức khỏe và sự phát triển bình thường về thể chất và tâm, sinh lý của người dưới 16 tuổi. Hành vi phạm tội được thực hiện dưới dạng hành động phạm tội, có thể sử dụng vũ lực, đe doạ sử dụng vũ lực hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm thỏa mãn những ham muốn tình dục, dục vọng thấp hèn của người phạm tội (nếu giao cấu với nạn nhân là người dưới 13 tuổi cũng phạm tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi mặc dù có sự thuận tình của nạn nhân).
Tội Hiếp dâm trẻ em còn xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục, danh dự và nhân phẩm của trẻ em, tạo ra sự tác động lớn đến sự phát triển lành mạnh cả về thể chất và tinh thần của trẻ em (có thể làm cho trẻ sợ hãi, bị tâm thần sau khi bị xâm hại, có khi dẫn đến trẻ tự sát). Do đó, về phương diện pháp lý, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được quy định tại Điều 142, Chương XIV phần các tội phạm của BLHS 2015 nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam [20, tr. Ngoài sự tác động lớn đến sự phát triển lành mạnh cả về thể chất và tinh thần, người thực hiện hành vi của tội danh này có thể để lại hậu quả nghiêm trọng đối với nạn nhân, đó là: - Làm cho nạn nhân có thai. - Nạn nhân bị lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục, đặc biệt là HIV.
- Làm nạn nhân chết hoặc tự sát. Từ các lý do trên, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi không bỏ khung hình phạt với mức án cao nhất là tử hình trong BLHS, điều này thể hiện chính sách pháp luật 9 của nhà nước Việt Nam là nghiêm khắc, không khoang nhượng đối với hành vi hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Các dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi Xét về mặt cấu trúc theo khoa học hình sự Việt Nam, tội phạm được hợp thành bởi bốn yếu tố: khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan. Bốn yếu tố này hợp thành cấu thành tội phạm.
Cấu thành tội phạm là tổng hợp các dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho từng loại tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS. Cấu thành tội phạm được coi là khái niệm cơ bản của pháp luật hình sự, là sự mô tả khái quát nhất về loại tội phạm nhất định. Cũng như bất kỳ loại tội phạm nào, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi cũng được cấu thành bởi bốn yếu tố cấu thành tội phạm, cụ thể đó là: khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan. Nghiên cứu bốn yếu tố này của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi giúp làm rõ các dầu hiệu pháp lý của tội phạm, có tác dụng xác định có hay không có tội cho hành vi đã xảy ra đồng thời phân biệt giữa tội phạm này với tội phạm khác.
Khách thể của tội phạm “Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị hành vi phạm tội xâm hại” [32, tr. Như vậy, khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội bị xâm phạm mà các quan hệ xã hội đó đã được Bộ luật hình sự thừa nhận bảo vệ đây cũng là một đặc điểm mà thiếu nó thì không phải là tội phạm. Có thể nói khách thể của tội phạm có vai trò rất lớn trong quá trình định tội danh, việc xác định đúng khách thể (khách thể chung, khách thể loại, khách thể trực tiếp) giúp làm sáng tỏ một trong số những tiêu chuẩn trong quá trình định tội danh. Những quan hệ được coi là khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội đã được xác định trong BLHS, bao gồm: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân,.
Đối với tội 10 hiếp dâm hiếp dâm là xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục của con người, mặc khác hành vi này còn xâm hại đến sự phát triển bình thường về mặt tâm sinh lý của nạn nhân và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi thì quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, tình dục, danh dự, nhân phẩm của trẻ chính là khách thể được Luật hình sự bảo vệ. Mặt khác, hành vi này còn xâm hại đến sức khỏe, sự phát triển bình thường, ổn định và lành mạnh của trẻ em, gây ảnh hưởng xấu đến tâm, sinh lý của trẻ về lâu dài, làm tổn thương tinh thần trẻ em cũng như gia đình của trẻ. Độ tuổi nạn nhân là đặc điểm có ảnh hưởng quan trọng đến tính nguy hiểm của tội phạm, được thể hiện rõ nét qua việc xâm hại của hành vi phạm tội đối với mọi trẻ em dưới 16 tuổi, độ tuổi này trẻ em là đối tượng chưa hoàn thiện về tâm, sinh lý, dễ bị dụ dỗ, mua chuộc hoặc không thể chống cự, tự vệ lại hành vi xâm hại.
Đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, khách thể trực tiếp là quyền được tôn trọng nhân phẩm, danh dự và quyền bất khả xâm phạm về tình dục của trẻ em, ngoài ra tội phạm còn có thể xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, sức khỏe của trẻ em. Tội này còn xâm phạm nghiêm trọng đến đạo đức xã hội, đạo đức truyền thống tốt đẹp, xâm phạm Công ước về quyền trẻ em mà Việt Nam đã phê chuẩn. Đối tượng tác động là một trong những dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, nó có ý nghĩa trong việc phân biệt tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi với các tội danh khác về tình dục khác cũng như xác định khung hình phạt và quyết định mức hình phạt. Việc phụ thuộc nhiều về vật chất và tinh thần, nên dễ bị lợi dụng để thực hiện hành vi hiếp dâm; trường hợp hiếp dâm có tính chất loạn luân còn ảnh hưởng đến đạo đức, luân thường đạo lý.
Khách thể bị xâm hại còn có thể là quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe như làm nạn nhân có thai, làm nạn nhân bị nhiểm HIV, tự sát. Như vậy, một khi khách thể bị xâm hại thì không chỉ nguy hại về thể chất và tinh thần mà còn gây ảnh hưởng đến đến quyền nhân thân của bị hại, đồng 11 thời tác động gây ảnh hưởng xấu đến các mối quan hệ xã hội khác được pháp luật hình sự bảo vệ, đó là chính là trật tự an toàn xã hội. Đối tượng tác động là một trong những dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm tại Điều 142 BLHS giúp phân biệt Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi với các tội danh khác. Độ tuổi là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc phải xác định tuổi của nạn nhân trên cơ sở các loại giấy tờ nhân thân của họ, nếu trường hợp không có giấy giấy tờ nào thì phải dùng tất cả các biện pháp để có thể xác định được tuổi thật của nạn nhân, trường hợp xác định được thì phải áp dụng nguyên tắc suy đoán có lợi cho người phạm tội.
Mặt khách quan của tội phạm “Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan” [32, tr.77], thì các dấu hiệu hợp thành mặt khách quan của tội phạm bao gồm: hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, các điều kiện chi phối hành vi và hậu quả của hành vi và các dấu hiệu khách quan khác như: thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện phạm tội.