CHƯƠNG 1 Đối tượng chưa thành niên có tính đặc thù cao, là đối tượng chưa thực sự phát triển toàn diện về các yếu tố tâm sinh lý, vẫn còn suy nghĩ chưa chính chắn, dễ bị kích động và bị dụ dỗ, lôi kéo vào con đường phạm tội mà chưa ý thức hết mức độ nghiêm trọng hành vi của mình. Cùng với việc làm sao để phù hợp tinh thần nhân đạo trong pháp luật hình sự, tiêu chí, hiệp định Quốc Tế mà Việt Nam đã tham gia cho nên thủ tục tố tụng đặc biệt này ra đời là sự tất yếu khách quan nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng là người chưa thành niên. Thủ tục tố tụng hình sự đối với người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên là thủ tục đặc biệt được áp dụng khi giải quyết vụ án mà có đối tượng là người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng là người dưới mười tám tuổi với mục đích vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp vừa đảm bảo giải quyết đúng đắn, khách quan trong hoạt động tố tụng hình sự. Nội dung chương một nhóm tác giả đã kế thừa những thành quả nghiên cứu trước và đúc kết lại kết hợp với quan điểm cá nhân để đưa ra cách hiểu đối với các khái niệm về thủ tục tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội từ đó sử dụng cách hiểu này xuyên suốt quá trình thực hiện đề tài này.
Từ những khái niệm về thủ tục tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên, nhóm tác giả đi sâu vào phân tích các vấn đề lý luận chung liên quan đến thủ tục tố tụng đặc biệt này, đặc điểm và mục đích của thủ tục tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên, thông qua đó làm sáng tỏ sự khác biệt giữa việc áp dụng thủ tục tố tụng đối với người chưa đủ mười tám tuổi và người đã trên mười tám tuổi. Cho thấy sự linh hoạt, sáng tạo trong việc làm luật và thực thi pháp luật của Đảng và nhà nước. Vừa đáp ứng được nhu cầu xử lý vi phạm hình sự vừa linh hoạt giáo dục để đối tượng đặc thù là người chưa thành niên có thể quay trở lại làm một công dân tốt, có ích cho xã hội. 21 327 CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 2.1 Những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên 2.1 Đối tượng chứng minh trong vụ án có người chưa thành niên phạm tội Khi chứng minh vụ án do người chưa thành niên phạm tội thực hiện các đối tượng cần chứng minh phải căn cứ vào điều 85 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 gồm: Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh: có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; nguyên nhân và điều kiện phạm tội; những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.
Ngoài ra, ở Bộ luật tố tụng hình sự 2003 không tách quy định về việc xác định rõ khi vụ án có đối tượng là người dưới mười tám tuổi, mà chỉ quy định chung chung. Tuy nhiên đối với pháp luật hiện hành, cần chứng minh thêm các yếu tố khác theo Điều 416 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đó là: + Tuổi, mức độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi. + Ðiều kiện sinh sống và giáo dục. + Có hay không có người đủ 18 tuổi trở lên xúi giục.
+ Nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội Thứ nhất, về tuổi, mức độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người dưới mười tám tuổi. Đây là yếu tố quan trọng trong việc xem xét về khả năng truy cứu trách nhiệm hình sự, áp dụng biện pháp ngăn chặn đồng thời cũng là căn cứ để Tòa án quyết định áp dụng hình phạt thích hợp. Điều 416 quy định khi điều tra, truy tố và xét xử cần phải xác định độ tuổi chính xác của người chưa thành niên. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không có quy định về cách xác định tuổi của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi.
Chính vì lý do đó mà trong quá trình thực hiện tố tụng nói chung và thực hiện các bước trước đó như điều tra, truy tố vân vân, gặp nhiều khó 22 328 khăn trong vấn đề xác định tuổi và trách nhiệm pháp lý của người dưới mười tám tuổi. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung quy định mới để xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi đảm bảo phù hợp với nguyên tắc có lợi cho người bị buộc tội là người chưa thành niên và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại là người dưới mười tám tuổi. Theo đó quy định về việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới mười tám tuổi được quy định cụ thể ở điều 417 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác thì ngày, tháng, năm sinh của họ được xác định: + Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh.
+ Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh. + Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh. + Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh. Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi.Chính vì tầm quan trọng này mà độ tuổi của bị can, bị cáo, người bị hại được tính theo ngày.
Nếu không rõ ngày của bị can, bị cáo thì phải tính vào ngày cuối của tháng, nếu không rõ tháng thì phải tính vào tháng cuối của năm. Tương tự như trên, tuổi của người bị hại cũng được tính theo ngày và phải đảm bảo tính chính xác. Điều 6 Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP- BLĐTBXH ngày 21 tháng 12 năm 2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội liên tịch quy định về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi, quy định về việc phối hợp trong việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi: việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi căn cứ vào một trong các giấy tờ, tài liệu sau: giấy chứng sinh; giấy khai sinh; chứng minh nhân dân; thẻ căn cước công dân; sổ hộ khẩu; hộ chiếu. 23 329 Trường hợp các giấy tờ, tài liệu nêu tại khoản 1 Điều này có mâu thuẫn, không rõ ràng hoặc không có giấy tờ, tài liệu này thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải phối hợp với gia đình, người đại diện, người thân thích, nhà trường, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc tổ chức, cá nhân khác có liên quan nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động, sinh hoạt trong việc hỏi, lấy lời khai, xác minh làm rõ mâu thuẫn hoặc tìm các giấy tờ, tài liệu khác có giá trị chứng minh về tuổi của người đó.
Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp nhưng chỉ xác định được khoảng thời gian tháng, quý, nửa đầu hoặc nửa cuối của năm hoặc năm sinh thì tùy từng trường hợp cụ thể cần căn cứ khoản 2 Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự để xác định tuổi của họ. Trường hợp kết quả giám định tuổi chỉ xác định được khoảng độ tuổi của người bị buộc tội, người bị hại thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng lấy tuổi thấp nhất trong khoảng độ tuổi đã xác định được để xác định tuổi của họ. Theo đó có thể hiểu như sau: kết luận giám định A có độ tuổi khoảng từ 13 tuổi 6 tháng đến 14 tuổi 2 tháng thì xác định tuổi của A là 13 tuổi 6 tháng. Do đó, khi chưa có đầy đủ chứng cứ về độ tuổi thì cơ quan truy tố cũng như Tòa án phải yêu cầu cơ quan điều tra làm rõ (chẳng hạn chứng cứ về giấy khai sinh khác nhau về ngày tháng năm sinh).
Chỉ trong trường hợp không thể xác định được tuổi, ngày, tháng sinh thì mới phải xác định theo hướng có lợi cho người bị buộc tội. Trong trường hợp khi đã áp dụng tất cả các biện pháp này mà không xác định được độ tuổi của người bị buộc tội thì phải trưng cầu giám định độ tuổi. Việc trưng cầu giám định độ tuổi phải được thực hiện theo trình tự thủ tục luật định đảm bảo sự công bằng và chính xác cho người bị buộc tội là người chưa thành niên. Ngoài ra, bên cạnh xác định độ tuổi thì các yếu tố thể chất, tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người chưa thành niên cũng là một vấn đề cần phải chứng minh.
Người bị buộc tội là người dưới mười tám tuổi thường cố tỏ ra bất chấp, bất cần, coi thường người tiến hành tố tụng.