Chương 1 phần Những quy định chung của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, ở đoạn 1 Điều 1 về Phạm vi điều chỉnh của Luật tố tụng hành chính có quy định “Luật tố tụng hành chính quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hành chính; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; trình tự, thủ tục khởi kiện, giải quyết vụ án hành chính, thi hành án hành chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính.” Như vậy, giải quyết vụ án hành chính là chế định thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật tố tụng hành chính Việt Nam. Xuất phát từ bản chất và tầm quan trọng của giải quyết vụ án hành chính trong việc xem xét, phân định tính đúng sai của vụ án hành chính, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, nên việc giải quyết vụ án hành chính phải được các quy phạm pháp luật về tố tụng hành chính quy định chặt chẽ, thống nhất để đảm bảo các trình tự ấy hoạt động hiệu quả. Nguyên tắc giải quyết vụ án hành chính Các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính Việt Nam là những quan điểm, tư tưởng mang tính chỉ đạo, hướng dẫn, được quy định trong Luật Tố tụng hành chính năm 2015, mà theo đó, các chủ thể tiến hành tố tụng, chủ thể tham gia tố tụng cũng như mọi cơ quan, cá nhân, tổ chức có liên quan khác phải tuân thủ khi tham gia vào quá trình tố tụng hành chính. Các nguyên tắc này được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc chung của hoạt động tư pháp và những yêu cầu mang tính đặc thù riêng của hoạt động tố tụng hành chính, qua đó thể hiện được bản chất dân chủ của tố tụng hành chính Việt Nam.
Như vậy, hệ thống các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính Việt 19 Nam sẽ bao gồm các nguyên tắc chung và các nguyên tắc riêng. Trong đó, các nguyên tắc chung là những nguyên tắc không chỉ riêng tố tụng hành chính phải tuân thủ mà còn của cả những ngành luật tố tụng khác (tố tụng dân sự và tố tụng hình sự). Những nguyên tắc chung đó bao gồm: nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong thủ tục hành chính; nguyên tắc về trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; nguyên tắc về quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh trong tố tụng hành chính. Các nguyên tắc riêng của Luật tố tụng hành chính là những nguyên tắc mà nội dung của nó hoàn toàn xuất phát từ tính chất của vụ án hành chính và trình tự tố tụng hành chính, bao gồm: nguyên tắc bảo đảm quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp (nghĩa là nguyên tắc bảo đảm quyền khởi kiện vụ án hành chinh); nguyên tắc về giải quyết bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính; nguyên tắc về quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện.
Trong đó, quan trọng nhất là nguyên tắc về quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện. So với Luật Tố tụng hành chính năm 2010, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 vẫn chỉ quy định về quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện mà không đề cập đến người bị kiện. Điều 8 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền quyết định việc khởi kiện vụ án hành chính. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ án hành chính khi có đơn khởi kiện của người khởi kiện.
Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, người khởi kiện có quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện, thực hiện các quyền tố tụng khác của mình theo quy định của Luật này.” Nguyên tắc này thể hiện như sau: Thứ nhất, quyền tự quyết định về việc khởi kiện. Căn cứ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính hiện hành, thì việc khởi kiện hay không khởi 20 kiện là hoàn toàn do ý chí của cá nhân, cơ quan, tổ chức, khi họ cho rằng có quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính có liên quan được ban hành bởi người bị khởi kiện gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Thứ hai, người khởi kiện có quyền tự quyết định về việc đưa ra các yêu cầu, phạm vi yêu cầu trong quá trình khởi kiện của mình theo quy định của pháp luật. Tòa án không có quyền tự quyết định về các vấn đề mà người khởi kiện không yêu cầu.
Thứ ba, quyền tự định đoạt của người khởi kiện được thể hiện thông qua việc Nhà nước tạo điều kiện cho họ có quyền rút một phần hoặc toàn bộ đơn khởi kiện, thay đổi, bổ sung đơn khởi kiện, trừ một số quy định khác. Như vậy, trong một số trường hợp, người khởi kiện muốn thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện ban đầu, muốn bổ sung thêm yêu cầu khác so với yêu cầu ban đầu, rút một phần hoặc toàn bộ đơn khởi kiện thì họ hoàn toàn có quyền thực hiện trong khuôn khổ quy định của Nhà nước. Việc quy định như vậy góp phần tạo điều kiện cho người khởi kiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ khi mà họ đang cho rằng quyền và lợi ích đang bị xâm phạm bởi người bị khởi kiện. Thứ tư, quyền tự định đoạt của người khởi kiện còn được thể hiện ở việc đương sự có thể kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm, rút một phần hoặc toàn bộ, cũng như thay đổi hoặc bổ sung nội dung đơn kháng cáo, trừ những trường hợp pháp luật quy định khác.
Thứ năm, trong quá trình giải quyết vụ án hành chính người bị kiện có quyền sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện; do đó, trong quá trình giải quyết vụ án hành chính mà người bị kiện có quyết định sửa đổi hoặc huỷ bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại 21 về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện thì Toà án thông báo cho người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh 1. Cơ sở xác định thẩm quyền của Tòa án nhân dân c t nh Theo quy định của Luật tố tụng hành chính thì thẩm quyền của Tòa án là thẩm quyền bắt buộc. Khác với pháp luật tố tụng dân sự, trong tố tụng hành chính không có thẩm quyền theo sự lựa chọn, thỏa thuận của đương sự.
Thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại các Điều 28, Điều 29 và Điều 30 của Luật tố tụng hành chính. Có 2 cơ sở xác định thẩm quyền: - Xác định thẩm quyền theo loại việc: Điều 28 Luật tố tụng hành chính quy định những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ngoại trừ các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật Nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ ban hành tại Nghị định số 49/2012/NĐ-CP ngày 04/6/2012 và các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, còn hầu hết các khiếu kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tòa án có thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính và đồng thời có thẩm quyền giải quyết yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại khi người khởi kiện cho rằng thiệt hại này là do quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh gây ra.
- Xác định Thẩm quyền theo cấp và lãnh thổ: Thẩm quyền theo cấp xét xử và thẩm quyền theo lãnh thổ được quy định tại Điều 29 và 30 của Luật tố tụng hành chính. Thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân c t nh Về nguyên tắc, những vụ án nào không thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện phụ trách, thì sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Tuy nhiên, trong một số trường hợp pháp luật có quy định, thì Tòa án cấp tỉnh vẫn có thẩm quyền giải quyết các vụ án hành chính của Tòa án nhân dân cấp huyện, nếu xét thấy cần thiết.