CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUAT VE ÁP DỤNG BIEN PHAP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH ĐÓI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm của người chưa thành niên vi phạm pháp luật 1. Khai niệm người chưa thành niên Người chưa thành niên là một thuật ngữ quen thuộc trong luật học và nhiều ngành khoa học khác, nhưng cho tới nay vẫn chưa có định nghĩa hoàn toàn thông nhất. Dé chỉ đối trong NCTN, hiện bên cạnh thuật ngữ phổ biến là “người chưa thành niên” (juvenile), còn có các thuật ngữ khác như “thiếu niên” (adolescence), “người trẻ tuổi” (youth).
Dù vậy, các thuật ngữ đã nêu đều nói đến một đối tượng là những người dưới 18 tuổi, hay những người chưa đến độ tuôi trưởng thành. Về khía cạnh sự trưởng thành, trong CUQTE của Liên hợp quốc, trẻ em (a child) được định nghĩa là “mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuôi thành niên sớm hơn” [33]. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) quy định lứa tuổi 10 - 17 là độ tuổi vị thành niên. Theo chương trình Sức khỏe sinh sản/Sức khỏe tình dục vị thành niên — thanh niên của Liên minh châu Âu (EU) và Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), vị thành niên là những người trong độ tuôi 10 - 17.
Ở nhiều quốc gia, ví dụ như Úc, Ấn Độ, Philippines, Brazil, Croatia và Colombia., vi thành niên được xác định là một người dưới tuổi 18. Trong khi đó, ở một số nước khác, ví dụ như Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan và Hàn Quốc., VỊ thành niên được xem là người dưới 20 tuổi. Pháp luật của một số nước, ví dụ như New Zealand, quy định vị thành niên là người dưới 18 tuổi, song đồng thời cũng quy định một số độ tuổi khác của trẻ em thấp hơn cho một số việc khác, ví dụ như tuôi giao kết hợp đồng dân sự hợp pháp là 15. Ở Việt Nam, theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học: “Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí lực, trí tuệ, tỉnh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân”.
Về mặt pháp lý, độ tuổi NCTN ở Việt Nam được xác định thống nhất trong Hiến Pháp năm 2013, Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bố sung năm 2017), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Lao động 2019, Bộ luật Dân sự 2015, Luật XLVPHC năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Tắt cả các văn bản pháp luật đã nêu đều trực tiếp hoặc gián tiếp quy định tuổi của NCTN là dưới 18 tuổi, đồng thời có những quy định riêng về NCTN trong từng lĩnh vực cụ thể. Xét về khía cạnh độ tuôi, theo pháp luật quốc tế và pháp luật của nhiều quốc gia, khái nệm NCTN cơ bản đồng nhất với khái niệm trẻ em (đều là người dưới 18 tuổi). Tuy nhiên, theo pháp luật Việt Nam, khái niệm NCTN và khái niệm trẻ em không đồng nhất từ góc độ độ tuổi.
Ví dụ, theo Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 thì “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”; còn theo khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “NCTN là người chưa đủ 18 tuổi”. Tóm lại, trong phạm vi luận văn này, n#gười chưa thành niên được hiểu là người dưới 18 tuổi. Người chưa thành niên được xem là thống nhất với khái niệm trẻ em trong CƯQTE của Liên hợp quốc, nhưng khác biệt với khái niệm trẻ em trong pháp luật Việt Nam. Đặc điểm của người chưa thành niên Người chưa thành niên là người đang trong quá trình phát triển cả về sinh lý lẫn tâm lý, ý thức.
So với người đã trưởng thành, NCT có những đặc điểm khác biệt sau đây: 1. Đặc điểm tâm sinh lý Sự phát triển vượt bậc của khoa học về thần kinh trong thập kỷ qua đã làm xuât hiện những kêt quả nghiên cứu đáng chú ý vê sự phát triên của não bộ ở NCTN (Giedd, Blumenthal, Jeffries, Castellanos, Liu, Zijdenbos, et al., 1999; Sowell, Thompson, Tessner, & Toga, 2001). Các nghiên cứu đã nêu chi ra rang cau tao não bộ là điểm khác biệt co ban giữa NCTN va người thành niên. Não (đặc biệt là vùng vỏ não trước trán) không phát triển hoàn thiện cho đến độ tuổi 23 — 26 tuổi và sau thời điểm đó chúng ta mới có khả năng dé đánh giá rủi ro, lập kế hoạch và suy nghĩ kiêm soát hành đồng của bản thân.
Ở người thành niên, nhiều phần khác nhau của não bộ sẽ cùng nhau tham gia việc đánh giá những lựa chọn, đưa ra quyết định và kiếm soát thay đổi hành vi trong những hoàn cảnh cụ thé. Tuy nhiên, bộ não cua NCTN chưa thé hoạt động được như vậy. Nó giống như những kết nối còn dang dở. Ở con người, vùng vỏ não trán trước là nơi cân nhắc các hậu quả, hình thành sự tính toàn, nhìn nhận, kìm hãm sự bốc đồng và cảm xúc.
Đây cũng là phần não giúp chúng ta hiểu những suy nghĩ của đồng loại. Ví dụ, nếu bạn đi qua một nhóm thanh niên xăm trô đang gây g6 với nhau, vùng vỏ não trước trán sẽ liên tục phát ra những xung động cảnh báo, rằng trước mặt bạn là những kẻ nguy hiểm đang trong trạng thái kích động. Điều này sẽ giúp bạn điều chỉnh là hành vi của mình. Trong giai đoạn dậy thì cua NCTN, quá trình tinh chỉnh và sàng lọc này diễn ra theo trình tự từ sau ra trước, theo đó, thùy não trán trước sẽ là nơi cuối cùng nhận được sự điều chỉnh [46].
Bởi vậy, đây cũng là dấu hiệu cho thấy bộ não của NCTH kém trưởng thành hơn so với bộ não người lớn. Những nghiên cứu có liên quan khác cho kết quả rằng quá trình tinh chỉnh và sáng lọc nói trên đường như diễn ra vào khoảng 11 tuổi, biểu hiện ở việc vùng vỏ não trước trán và thùy đỉnh bắt đầu giai đoạn cắt tỉa kéo dài các sợi trục thần kinh dẫn đến chất xám vỏ não mong di. Việc cắt tia đó có thé xem là “một ví dụ về sự dẻo dai trong phát triển, nhờ đó não được tạo hình di truyền trên cơ sở kinh nghiệm dé đáp ứng nhu cầu môi trường [45]”. Đồng 10 thời, xuất hiện sự gia tăng quá trình myelin hóa tế bào thần kinh.
Tam quan trọng của những thay đổi này vẫn chưa được xác định rõ ràng, song nhiều nhà nghiên cứu đã lập luận răng việc cắt tỉa kéo dài tại vùng vỏ não trước trán thể hiện sự kiểm soát một cách trực diện đang ngày càng tăng đối với các hành vi, ngược lại, sự thiếu vắng của quá trình ay có thé liên quan đến tính bốc đồng và khả năng ra quyết định kém. Trong thực tế, thanh thiếu niên từ lâu đã được nhận định là có khuynh hướng chấp nhận mọi rủi ro và bốc đồng quá mức, vi dụ thé hiện qua những việc sử dung ma túy, các hành động gây chấn thương chủ ý hoặc không chủ ý (như đua xe.), hay hoạt động tình dục không an toàn. Ngoài ra, có một số nhận định cho rằng, tính bốc đồng của NCTN còn do sự phát triển không cân bằng của hệ tim và mạch. Ở NCTN, tim phát triển nhanh hơn các mạch máu đã gây ra sự thiếu máu trong từng bộ phận trên vỏ não và đôi khi còn làm rối loạn chức năng trong hoạt động của hệ tim mạch.
NCTN sẽ xuất hiện cảm giác mệt mỏi, chóng mặt, nhức đầu, sức làm việc suy giảm, dé bị kích động, dé nổi nóng, đồng thời, tuyến nội tiết ở NCTN hoạt động mạnh (đặc biệt là tuyến sinh dục và tuyến giáp trạng) gây ra sự mat cân bằng trong hoạt động của hệ thần kinh trung ương, dé đưa các em đến những cơn xúc động mạnh, những phản ứng nóng này vô cớ, những hành vi bất bình thường. Nhu cầu độc lập Nhu cầu độc lập là mong muốn tự hành động, tự đưa ra quyết định theo cách phù hợp với nhận thức của bản thân hơn là để thoả mãn đòi hỏi của xã hội, môi trường hay của người khác [23]. Sự hình thành và phát triển nhu cầu độc lập ở lứa tuổi chưa thành niên là kết quả tất yêu của quá trình phát triển tâm lý mà qua đó NCTN muốn tự khăng định những phát triển của mình về nhân cách trên con đường trở thành người lớn. 11 Nhu cầu độc lập là một trong những đặc điểm nỗi bat của NCTN phạm tội, đó là những nhu cầu độc lập hình thành và phát triển trên sự nhận thức và giá trị lệch chuẩn.
Nhu cầu độc lập của NCTN thể hiện trước hết trong hoạt động học tập, trong giao tiếp với bạn bè và người lớn ở gia đình, nhà trường và ngoài xã hội, trong ăn mặc, trong quan hệ bạn bè,. Nhu cầu độc lập là sự phát triển tất yếu và rất cần thiết của lứa tuổi chưa thành niên, là cơ sở quan trọng giúp NCTN trở thành người lớn sau này. Nhưng cũng cần lưu ý rằng, nhu cầu độc lập không chỉ có mặt tích cực mà còn có mặt tiêu cực, nếu một khi phát triển theo hướng thái quá thì những hành vi của NCTN sẽ mang tính chất lệch chuẩn, dễ dẫn tới phạm tội. Phần lớn NCTN phạm tội đều có nhu cầu độc lập quá mức kèm theo tính tự chủ kém.
Các em thường cho rằng mình đã là người lớn, đã đủ chín chắn dé có thé làm mọi việc mà mình thích. Thêm vào đó là sự thiếu quan tâm giáo dục từ gia đình và nhà trường đã dẫn đến những hậu quả đáng tiếc đối với các em này. Trong thực tế, hầu như mọi NCTN mong muốn tự hành động, tự quyết định dé phù hợp với những nhận thức, thái độ của mình. Do luôn có ý thức tự trọng và mong muốn được tôn trọng như người lớn, NCTN thường có tâm lý “phóng đại” các khả năng của mình, đánh giá chúng cao hơn hiện thực.
Chang hạn, các em cho rằng hành vi dua xe trái phép là những màn biéu diễn độc đáo, khám phá và phô diễn năng lực của bản thân mà không phải ai cũng làm được. Do vậy, phần lớn các đối tượng đua xe thường ăn mặc sặc sỡ, kì quặc, nhuộm các màu tóc khác người và hanh vi đua xe của NCTN không phải vì tiền mà chủ yếu vì tìm cảm giác mạnh. Thái độ với học tập Đối với NCTN, học tập là hoạt động giữ vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách, giúp các em xác định chính xác các chuẩn mực của hành vi.