Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TẠM GIỮ, TẠM GIAM 1. Khái niệm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam Để làm rõ khái niệm quyền con trong tạm giữ, tạm giam bắt đầu từ khái niệm tố tụng hình sự (TTHS). Bởi lẽ, đây là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt của nhà nước và cũng là lĩnh vực mà quyền con người dễ bị xâm phạm nhất và hậu quả của nó nặng nề nhất, vì nó động chạm đến quyền cơ bản và quan trọng nhất của con người như quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. Bên cạnh đó, tạm giữ, tạm giam cũng là một trong những biện pháp cưỡng chế khá phổ biến trong tố tụng hình sự và tác động trực tiếp nhất đến quyền con người.
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, thực hiện dưới hành vi cố ý, hoặc vô ý và có lỗi, xâm phạm đến quyền và lợi ích của các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Tội phạm là hiện tượng xã hội tiêu cực chỉ xuất hiện khi xã hội có giai cấp và nhà nước. Lịch sử nhà nước và pháp luật cho thấy đấu tranh ngăn ngừa tội phạm là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của bất cứ nhà nước nào. Muốn phát hiện tội phạm và người phạm tội đưa người này ra xử lý trước pháp luật.
Mỗi nhà nước điều có những cách thức, thủ tục khác nhau. Sự khác nhau này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như bản chất nhà nước, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, nhận thức.Tuy nhiên, thủ tục đưa người phạm tội ra xử lý được gọi dưới một tên chung là thủ tục tố tụng. Như vậy, “TTHS là trình tự do pháp luật quy định cách thức hiện các quy định của pháp luật để xác minh, kiểm tra, điều tra các vụ việc, phát hiện nhanh chóng, chính xác, để mọi hành vi vi phạm pháp luật đều được xử lý kịp thời mọi hành vi tội phạm”. Như vậy, định nghĩa trên cho thấy nhiệm vụ bao trùm nhất TTHS là “phát hiện” và “xử lý” tội phạm.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực TTHS, quyền lực nhà nước rất mạnh. Bằng một hệ thống cơ quan cưỡng chế tác động đến con người phạm bằng các biện pháp cưỡng chế đặc biệt như bắt, tạm giữ, tạm giam để phát hiện xử lý tội phạm. Khi quyền lực nhà nước mạnh như thế dẫn đến hệ quả là phía bên kia của TTHS là người bị buộc tội ở vị trí rất rất yếu. Một bên mạnh, một bên yếu dễ dẫn đến quyền của bên yếu sẽ bị xâm 7 phạm.
Chính vì vậy để “quân bình” lực lượng thì phải tăng quyền cho bên người bị buộc tội, có phương pháp, có cơ hội bảo vệ quyền của mình, đó là quyền tối thiểu của con người. Nhưng cần lưu ý, vẫn còn đó phía bên kia của vấn đề là số phận của những người bị tình nghi yếu thế. Vừa phát hiện được tội phạm, vừa bảo vệ quyền con người đó là nhiệm vụ cực kỳ khó khăn của hoạt động TTHS. Nhưng TTHS trong nhà nước văn minh và nhân đạo đặt ra đòi hỏi đó.
Như vậy, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế như bắt, tạm giữ, tạm giam là một trong phương tiện để phát hiện và xử lý tội phạm trong TTHS. Cũng từ đây, đặt ra yêu cầu phải bảo vệ được quyền con người khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế này. Các đối tượng bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế tạm giữ, tạm giam được gọi là người tham gia tố tụng (hay bên bị buộc tội như TTHS một số nước quan niệm). Trong TTHS Việt Nam là người bị tạm giữ và người bị tạm giam.
Đây là hai đối tượng cần phải bảo vệ quyền con người đầu tiên và quan trọng nhất trong TTHS. Để làm rõ khái niệm người bị tạm, tạm giữ phải xuất phát từ khái niệm “ buộc tội” trong TTHS. Bởi lẽ, khi và chỉ khi có sự buộc tội thì mới xuất hiện người bị buộc tội (trong đó có người bị tạm giữ, tạm giam) và mới xuất hiện các biện pháp cưỡng chế TTHS. Buộc tội là cơ sở pháp lý đầu tiên để áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS và xuất hiện yêu cầu bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam.
Người bị buộc tội là người bị cơ quan điều tra, viện kiểm sát cho rằng đã thực hiện hoặc có dấu hiệu thực hiện một tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự. Theo quy định của pháp luật thì cũng chưa có văn bản tố tụng nào trực tiếp buộc tội đối với người bị tạm giữ. Chúng tôi không nhất trí với quan điểm này, bởi lẽ cơ sở để áp dụng biện biện pháp tạm giữ, tạm giam và làm xuất hiện người tham gia tố tụng là người bị tạm giữ, tạm giam chính sự buộc tội. Chính vì vậy đặc điểm đầu tiên của người bị tạm giữ, tạm giam đó chính là họ là người bị buộc tội.
Mặt khác chỉ khi bị buộc tội mới có căn cứ để áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm đối với họ và bảo vệ được quyền con người của họ, Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điểm d, khoản 1 Điều 4 Bộ luật TTHS 2015).: Một trong những nhiệm vụ quan trọng của luật TTHS là phòng ngừa, ngăn chặn 8 tội phạm, xử lý công minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm. Để thực hiện được nhiệm vụ này Bộ luật TTHS Việt Nam năm 2015 có nhiều chế định, quy phạm cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng nhiều biện pháp cụ thể trong quá trình phát hiện xử lý người phạm tội. Một trong những biện pháp ngăn chăn, các biện pháp ngăn chặn. Việc quy định của pháp luật TTHS và việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong thực tế phải đảm bảo các nguyên tắc suy đoán vô tội.
Về mặt khái niệm: “ Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong TTHS áp dụng đối với bị can bị cáo, người phạm tội quả tang và người cần phải bắt trong trường hợp khẩn cấp để kịp thời ngăn chặn tội phạm của họ, ngăn chặn những người đó gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và tiếp tục phạm tội hoặc trốn [18, tr.12] Mặc dù xuất hiện trong giai đoạn điều tra và do cơ quan điều tra thực hiện nhưng các biện pháp cưỡng chế TTHS nêu trên là biện pháp ngăn chặn chứ không phải biện pháp điều tra. Thật nguy hiểm nếu ai đó nhầm lẫn biện pháp ngăn chặn là biện pháp điều tra bởi như vậy sẽ dẫn đến tình trạng để thuận lợi cho việc điều tra các cơ quan điều tra sẽ lạm dụng các biện pháp tạm giam, bắt khẩn cấp….xâm phạm đến quyền con người của những người bị tình nghi. Biện pháp ngăn chặn không phải là hình phạt mà nó chỉ là biện pháp cưỡng chế TTHS có tính chất tạm thời trước khi có bản án hiệu lực pháp luật kết tội một người có tội hay không được áp dụng đối với người bị tình nghi, bị cáo, những người bị nghi là đã thực hiện tội phạm. Biện pháp ngăn chặn có thể bị huỷ bỏ, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác bởi không chỉ là toà án mà bất kỳ các cơ quan tiến hành tố tụng nào trong bất kỳ giai đoạn tố tụng nào trước khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật nếu nó không cần thiết.
Một trong những biện pháp ngăn chặn cơ quan THTT được áp dụng đó chính là biện pháp tạm giữ, tạm giam. Từ việc áp dụng biện pháp tạm giữ tạm giam này làm xuất hiện chủ thể bị áp dụng hai biện pháp cưỡng chế này là người bị tạm giữ và người bị tam giam. Khoản 1 Điều 59 Bộ luật TTHS 2015 quy định: Người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định 9 tạm giữ. Người bị tạm giữ có đặc điểm sau đây: Thứ nhất, đã có dấu hiệu cho rằng họ thực một tội phạm quy định trong BLHS.
Theo tính thần của nguyên tắc suy đoán vô tội: không ai bị coi là có tội nếu chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật thì người bị tạm giữ chưa bị khẳng định là có tội mà mới có dấu hiệu thực hiện tội phạm trên thực tế. Đối với người bị tạm giữ, cơ quan quan có thẩm quyền không buộc phải xác định tội phạm do người tạm giữ thực hiện ở mức chung nhất và có thể chưa đầy đủ các dâu hiệu cấu thành của cấu thành tội phạm. Nhưng để đáp ứng yêu cầu không bỏ lọt tội phạm và yêu cầu phát hiện nhanh chóng, kịp thời mọi hành vi phạm tội thì cần thiết phải tạm giữ người bị tình nghi. Thứ hai, người bị tạm giữ có thể là ngừời chưa bị khởi tố về hình sự, đó là những ngừời bị bắt trong trường hợp khẩn cấp theo Bộ luật TTHS 2005 và người bị giữ khẩn cấp theo Bộ luật TTHS 2015, phạm tội quả tang, trừờng hợp phạm tội tự thú trước khi hành vi phạm tội bị phát hiện và khởi tố, và đối với họ đã có quyết định tạm giữ.
Thứ ba, người bị tạm giữ cũng có thể là người đã bị khởi tố về hình sự bao gồm: bị can, bị cáo, người đã bị kết án nhưng bỏ trốn, người đang chấp hành án bỏ trốn nhưng bị bắt theo quyết định truy nã hoặc ngừời phạm tội ra đầu thú và đã có quyết định tạm giữ đối với họ. Do đó, pháp luật coi người bị tạm giữ là người tham gia TTHS, có các quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ theo quy định của pháp luật. Thứ tư, người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp (hoặc bị giữ trong trường hợp khẩn cấp theo Bộ luật TTHS 2015), bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú thì điều kiện đủ để họ trở thành người bị tạm giữ là đối với họ phải có quyết định tạm giữ. Một người bị bắt trong các trường hợp nêu trên hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú mà không có quyết định tạm giữ thì cũng không phải là người bị tạm giữ.
- Họ đã bị buộc tội bằng bản án kết tội chưa có hiệu lực của tòa án, hoặc bản án đã có hiệu lực pháp luật trong trường hợp chờ thi hành hình phạt tử hình, quyết định khởi tố bị can của cơ quan điều tra, hoặc quyết định dẫn độ.